tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20185632
Sách mới
Nguyễn Kiến Giang – Bàn về Văn hoá, NXB Hội Nhà văn, 2017

Cuốn sách Bàn về Văn hoá, (tác giả: Huyền Giang) vừa ra mắt, gồm 16 tiểu luận của Nguyễn Kiến Giang do hai học giả sưu tầm, là Đỗ Lai Thuý và Nguyễn Mạnh Tiến với sự cộng tác của gia đình. Cuốn sách được con trai tác giả trực tiếp phát hành. Số tiền để gây một quỹ nho nhỏ cho những cuốn sách tiếp theo của Nguyễn Kiến Giang. Tất nhiên các con ông về kinh tế hiện nay thừa tiềm lực cho các cuốn sách của ông ra đời, song việc gây quỹ từ sách của ông cũng là một việc làm thú vị. Cuốn sách này chứa chất một khối lượng kiến thức đồ sộ phức hợp mà nói như Trần Quốc Vượng là LIÊN - ĐA - XUYÊN NGÀNH!


 


 

chi tiết »
Phiên bản Sherlock Holmes toàn tập chính thức ra mắt độc giả

Những câu truyện về nhân vật Sherlock Holmes của Conan Doyle được dịch ra tiếng Việt từ những năm 1920 và đã có ít nhất hai bản dịch Sherlock Holmes toàn tập được lưu hành. Trên thế giới, tuyển tập Sherlock Holmes vẫn không ngừng được các độc giả trinh thám săn lùng tìm mua và có thể coi là bộ truyện kinh thám bán chạy bậc nhất. Ghi dấu 90 năm kể từ ngày những câu chuyện về Sherlock Holmes chính thức khép lại, Đinh Tị Books (không có tên NXB? Tệ quá!) đã cho ra mắt trọn bộ tuyển tập Sherlock Holmes với bản dịch được đầu tư dịch mới hoàn toàn và hình thức bắt mắt.


Với 56 truyện ngắn và 4 tiểu thuyết, được sắp xếp theo trình tự thời gian xuất bản, tuyển tập Sherlock Holmes mới gồm 3 tập với gần 2.000 trang sách này đã chính thức ra mắt độc giả - đánh dấu sự trở lại của một nhân vật hư cấu huyền thoại.

chi tiết »
Ba cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Ba Lan: Tadeusz Dołęga-Mostowicz

Nhà xuất bản Hội Nhà văn & Nhà văn, Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng vừa tái bản 3 tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Ba Lan: Tadeusz Dołęga-Mostowicz.


 


1- Thầy Lang. 420 trang. Giá bìa: 165.000 đ


 


2- Giáo sư Wilczur. 480 trang. Giá bìa: 180.000 đ


 


3- Đường công danh: 471 trang. Giá bìa: 190.000 đ


 


Tadeusz Dołęga-Mostowicz (1898-1939) là nhà văn tài hoa của nền văn học cận đại Ba Lan. Hoạt động văn học trong cuộc đời ngắn ngủi nhưng đầy hấp dẫn và thành công của ông diễn ra trong thời kỳ 20 năm tồn tại và phát triển của nước Ba Lan tư sản, giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939), trong bối cảnh đất nước vừa giành lại được độc lập sau hàng thế kỷ bị các thế lực đế quốc chia cắt, bị xóa hẳn tên trên bản đồ thế giới. Thời kỳ phức tạp nhiều chao đảo với bao nỗi thăng trầm ở trong nước và trên thế giới ấy đã được T. Dołęga-Mostowicz lấy làm bối cảnh cho các tác phẩm nổi tiếng nhất của ông: Thầy lang (Znachor), Giáo sư Wilczur  (Profesor Wilczur), Đường công danh của Nikodem Dyzma (Kariera Nikodema Dyzmy)...

chi tiết »
6 tác phẩm vừa tái bản của Vũ Hùng



NXB Kim Đồng vừa tái bản 6 tác phẩm của nhà văn Vũ Hùng, gồm: Phía Tây Trường Sơn, Bí ẩn của rừng già, Chim mùa, Các bạn của Đam Đam, Biển bạc và Phượng hoàng đất.


Trước đó, Nhà văn Vũ Hùng, sau hơn hai chục năm vắng bóng đã trở lại với độc giả bằng Bộ sách Văn học thiếu nhi 12 cuốn; được tôn vinh Giải Vàng ở hạng mục Sách Hay tại Giải thưởng Sách Việt Nam năm 2016. Hội đồng chung khảo xét Giải thưởng nhận định: “Bộ sách viết về muông thú, rừng núi và thiên nhiên tươi đẹp. Với tài năng văn học, học vấn sâu rộng, với tấm lòng yêu quý thiên nhiên và trẻ thơ, nhà văn Vũ Hùng đã tạo nên những trang văn đẹp và hay hiếm có về thiên nhiên hoang sơ trong rừng nguyên sinh Việt Nam. Những tác phẩm của ông còn có giá trị giáo dục cho trẻ em nhiều thế hệ sau.”


6 tác phẩm vừa tái bản nằm trong bộ sách giá trị gồm 18 cuốn dành cho thiếu nhi của ông.


Nhà văn Vũ Hùng sinh năm 1931 tại Hà Nội. Ông từng là đài trưởng vô tuyến điện, kĩ sư trạm trưởng, phóng viên, biên tập viên… Năm 1989, ông định cư tại Pháp, trở về sống tại Việt Nam từ tháng 5/2014. Ông là tác giả của hơn 40 đầu sách cho thiếu nhi, nhiều tác phẩm dịch sang tiếng Anh, Pháp, Trung Quốc…, 2 lần nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam cho tác phẩm Sao Sao (1982) và Sống giữa bầy voi (1986). Ông còn là dịch giả của nhiều tập truyện dành cho thiếu nhi.


chi tiết »
Bay trên tổ chim cúc cu. Tiểu thuyết của Ken Kessey, nhà văn Mỹ.

Được nhìn nhận là “viên ngọc quý của văn học thế giới cuối thập niên 60, đầu thập niên 70”, “Bay trên tổ chim cúc cu” của nhà văn Mỹ Ken Kessey là tác phẩm phải đọc với bất cứ ai yêu thích văn chương.


Bối cảnh của câu chuyện chỉ gói gọn trong một bệnh viện tâm thần nhưng đó chính xác là một xã hội thu nhỏ, nơi tất cả quyền lực nằm trong tay nữ giới, nơi bản năng giới tính của con người bị kìm hãm đến khô kiệt, nơi mỗi cá nhân bị điều khiển và giám sát bằng những cơ chế lạnh lẽo đến vô tri và nơi ý niệm về người bình thường – người không bình thường không được phân định rõ ràng.


Mang trong mình một nửa dòng máu da đỏ, Thủ lĩnh Bromden, người dẫn chuyện là bệnh nhân mắc chứng hoang tưởng tại Bệnh viện tâm thần Oregon trong suốt hơn mười lăm năm. Bromden giả vờ câm, điếc, cố gắng sống trong tình trạng “không nhận biết, không ý thức” giả tạo.


Những bệnh nhân tâm thần tại bệnh viện Oregon đều phải tuân theo những nguyên tắc và quy định của Y tá trưởng Ratched, một cựu y tá quân đội, người điều hành tổ hợp của mình một cách trơn tru và chính xác như một cỗ máy. Mọi chuyện bắt đầu xáo trộn khi nhân vật chính của thiên tiểu thuyết – Randke McMurphy xuất hiện. Tự giới thiệu bản thân là một tay nghiền cờ bạc, đặc biệt có hứng thú với phụ nữ và những quân bài, McMurphy luôn tỏ thái độ ngông nghênh, bất cần ngay cả trước Y tá trưởng khét tiếng. Sau khi trải qua buổi họp nhóm đầu tiên, McMurphy chính thức trở thành “người hùng” khi đánh cược với đám bệnh nhân sẽ làm Y tá trưởng phát điên phát cuồng chỉ trong vòng một tuần, bất chấp nỗi hồ nghi của các bệnh nhân....

chi tiết »
Người quản tượng của vua Quang Trung

Tác giả: Ngọc Toàn. NXB Kim Đồng in lần đầu năm 1987, tái bản tháng 5-2017.


Nhà văn Ngọc Toàn được biết đến như một cây bút chuyên canh - tác - chữ trên cánh đồng lịch sử. Các tác phẩm của ông đã để lại nhiều dấu ấn với độc giả qua các thế hệ.


Nhà văn Triệu Xuân từng chia sẻ: “Cách dựng truyện, cách kể của Ngọc Toàn tự nhiên, dung dị, nhẹ nhàng như không hề cố ý làm văn. Có lúc ông tiếp thu lối kể chuyện dân gian, có lúc ông viết theo lối mới. Nhưng vượt lên tất cả là tấm lòng, tình cảm của ông thổi vào nhân vật, tạo hồn cốt cho nhân vật. Các nhân vật chính - chính diện cũng như phản diện - như bước ra từ quá khứ để nói với hiện tại về những bài học xương máu, những chân lý kết đọng từ quá trình chống ngoại xâm, dựng nước và giữ nước”...


Với câu chuyện về chiếc nỏ thần An Dương Vương và Mỵ Châu “trái tim lầm chỗ để trên đầu” trong truyện Triệu Đà, với hào khí Đông A của quân và dân nhà Trần chống giặc Nguyên Mông trong Cái chết của Đại Hãn và Yết đảo, với cuộc tình “linh thiêng và hào hoa” của tướng Trần Quang Diệu và đô đốc Bùi Thị Xuân hòa cùng tình yêu non sông đất nước trong Hai vị tướng trẻ, với sức mạnh của nghĩa quân Tây Sơn và người dân khi vận nước lâm nguy trong Cái đuôi sam, Ông chéo ngà bà rách tai... bạn đọc sẽ được đắm mình trong không khí lịch sử, vừa mạnh mẽ hào hùng, vừa có những góc riêng tinh tế, đượm tình...

chi tiết »
“Một thế kỷ văn học yêu nước, cách mạng TP Hồ Chí Minh”

Đó là tên bộ tổng tập văn học gồm 7 quyển, do Thành ủy Tp HCM đầu tư, Nhà xuất bản Văn hóa Văn nghệ Sài Gòn vừa phát hành. Sáng nay, thùng sách này về tới thư viện gia đình Triệu Xuân: "Một thế kỷ văn học yêu nước, cách mạng TP Hồ Chí Minh". Giá mà có thêm tên "Sài Gòn" trước chữ TP HCM thì hay biết mấy! Vì tên TP HCM chỉ thực sự xuất hiện từ năm 1976 thôi mà.


Lần đầu tiên trong cả nước, thành phố đầu tư in ấn xuất bản bộ tổng tập văn học gồm 7 quyển, khổ lớn 16 x 24 cm, trên giấy đẹp và nhẹ. Tên của mình, cả họ lẫn tên - thứ tự theo vần ABC - luôn luôn ở cuối, cho nên tiểu thuyết của mình in tại quyển 7, từ trang 613 trở đi. Thoạt đầu, ban biên soạn dự tính in lại tiểu thuyết "Giấy trắng" hoặc "Trả giá" vào bộ tổng tập này. Sau, họ chuyển sang in tiểu thuyết "Bụi đời", mà trích một phần thôi, vì sách của mình dày quá, khuôn khổ bộ Tổng tập thì có hạn. Mình OK. Cứ in là vui rồi! Đây là lần in thứ 14 (cả trong và ngoài nước) tiểu thuyết Bụi đời.

chi tiết »
Rượu với Văn chương

Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. 412 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2-2017. Trình bày trang nhã, có nhiều ảnh nhà văn nổi tiếng, bìa cứng và bìa mềm có tay gấp, in trên giấy đẹp. Giá; 170.000 đ.


Trong Lời người biên soạn, nhà văn Trần Thanh Phương viết: …Nói như Nguyên Hồng: Rượu của nhà văn, nhà thơ phải có tiếng chim, có thiên thai… Các bậc tiền nhân nước ta như Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh… có nhiều câu thơ nói về rượu rất hay.


Trong sách Văn hóa rượu của nhiều tác giả: nhà văn Lý Khắc Cung, giáo sư Nguyễn Lân Dũng, bác sĩ Nguyễn Đức Kiệt và nhiều người khác, do Thái Lương chủ biên (NXB Văn hóa - Thông tin, 1998), cho biết: Ở nước ta, bia mới chỉ xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ 19 (1890), khi thực dân Pháp cho xây thầu ở đường Hoàng Hoa Thám ngày nay một xưởng bia tư nhân nhỏ để phục vụ cho đội quân viễn chinh, nay là Nhà máy bia Hà Nội. Bia là thuật ngữ nước ngoài, còn Rượu là tiếng thuần Việt.


 



 


Rượu có cội nguồn sâu xa trong lịch sử Việt Nam. Từ lâu, rượu đã được gắn liền với phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo… Câu “Vô tửu bất thành lễ” đã trở thành ngạn ngữ trong dân gian. Có chén tiễn đưa, có chén bằng hữu, có chén thề nguyền, có chén chiến đấu, có rượu lễ, rượu cúng, có cả rượu để thờ một vị thần linh theo tục đồng bào dân tộc thiểu số nào đó…


 


Thành ngữ La tinh có câu: “Trong rượu có sự thật”. Nói như nhà thơ Trần Huyền Trân: Nguồn đau cứ rót cho nhau/ Lời say sưa mới là câu chân tình (trong bài “Uống rượu với Tản Đà”). Sinh thời, cụ Tản Đà thường nói: Tửu trung ưng thị thần tiên (trong lúc uống rượu chính là lúc thần tiên) và Tửu trung tự hữu thánh hiền (Trong rượu vốn đã có thánh hiền). Đại thi hào Nguyễn Du lại có câu thơ thật hay: Sinh tiền bất tận bô trung tửu/ Tử hậu thì kiêu mộ thượng bôi (Lúc sống, không uống cạn chén rượu/ Chết rồi thì ai rưới lên mồ cho).


 


Cũng tương tự, người đời còn nói: “Thả lạc sinh tiền nhất tửu bôi/ Hà tu thân hậu thiên tải danh” (Hãy vui lúc sống một chén rượu/ Cần gì lúc chết để tiếng nghìn đời). Rượu còn giúp cho con người dễ mở rộng giao tiếp, cảm thông, chia sẻ, dung thứ cho nhau: Xưa kia ai biết ai đâu/ Vì chung chén rượu mở đầu làm quen (ca dao)…


 


Có cái duyên muôn đời, đặc biệt ở phương Đông chúng ta là, rượu hay bén với thơ văn. Biết chung sống với nhau khéo léo thì duyên cực đẹp, đẹp như tiên. Với người tử tế, rượu là chất men xúc tác, giúp con người thăng hoa. Những chén rượu nồng ấm giúp thêm một chút phấn khích để sáng tạo, giúp lắng lại với đời sống nội tâm, giúp nghiền ngẫm về lẽ đời, về kiếp người… Rượu ấy thật có ích, làm đẹp thêm đời sống con người. Thơ văn trước đây cũng như hôm nay giúp ta hiểu được những chén rượu thanh tao, sang trọng và đầy chất nhân văn ấy. Tôi nghĩ, trên đời này, trong những câu chuyện vui buồn, sau mảng đề tài muôn thuở về tình yêu thì mảng đề tài được nhiều người đề cập tới là rượu. “Nam vô tửu như cờ vô phong”. Thiết nghĩ, ta cũng nên nhớ thêm một câu châm ngôn nữa: “Âm tửu dung hòa đích quân tử” - Nghĩa là người quân tử uống rượu phải trầm tĩnh. Uống chỉ đến mức phấn chấn, suy nghĩ những điều có lợi cho hạnh phúc gia đình và cho đất nước, đó mới thực là người sành rượu.


 


Chính vì vậy, trong mấy trăm trang sách, tôi dồn hết tâm sức cũng để minh chứng cho điều đó. Khái niệm rượu trong sách mà tôi sưu tầm, biên soạn này nhất thiết phải là thứ rượu có văn hóa, tức tượng trưng tinh thần của rượu (tửu tinh thần). Ta hãy quên đi một Chí Phèo nát rượu để nhớ lại bức tranh ông tiên râu tóc bạc phơ, má đỏ như hai quả đào, một tay chống gậy, một tay cầm bầu rượu, thì rượu là biểu tượng của Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh. Ta hãy nhớ lại một nhà thơ, nhà văn đang ngồi bóp trán trước trang giấy, bên cạnh ly rượu để tìm cảm hứng…

chi tiết »
NXB Hội Nhà văn ra lò 3 tác phẩm: Thơ Bạn Thơ 6, Vườn Năm nhà 2 và Chém gió muôn màu 2

Ba tháng cuối năm 2016, vợ chồng nhà thơ Nguyễn Nguyên Bẩy, Lý Phương Liên đã cho ra mắt ba tập sách gồm: Thơ Bạn Thơ 6, Vườn Năm nhà 2 và Chém gió muôn màu 2 - LKXB cùng Nhà xuất bản Hội Nhà văn..


Khởi động từ năm 2012, đến nay tròn 5 năm, Tủ sách tôn vinh Thơ hay của nhà thơ Nguyễn Nguyên Bẩy, Lý Phương Liên đã xuất bản được 12 tác phẩm gồm: Thơ Bạn Thơ 6 tập, Văn Bạn Văn 2 tập, Vườn năm nhà 2 tập, Chém gió muôn màu 2 tập. Vài ba tập đầu, giấy phép do Nhà xuất bản Văn học cấp. Từ đầu năm 2013, nhà văn Triệu Xuân, người chăm sóc từ bản thảo đến in ấn bộ sách đã chuyển sang liên kết với Nhà xuất bản Hội Nhà văn để lấy Giấy phép xuất bản.


Thơ Bạn Thơ, Văn Bạn Văn, Chém gió muôn màu và Vườn Năm nhà là  là bộ tuyển tập với số lượng tác giả lên tới gần 2000 và gần ba ngàn bài thơ, câu thơ hay. Chỉ riêng 6 tập của Thơ Bạn Thơ có đến 1362 câu thơ hay của 1362 bài thơ và 1362 tác giả. Tổng số tác giả được nói đến trong 6 tập là 2218 người. Quả là con số ấn tượng. Chưa có bộ tuyển thơ nào của Việt Nam từ trước đến nay đạt tới con số như thế!

chi tiết »
Tiểu thuyết "Rừng đói" của Nguyễn Trọng Luân

Nhân đọc tiểu thuyết Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, NXB Hội Nhà Văn, 2016.


... Nguyễn Trọng Luân là người kể có duyên, có giọng riêng đầm ấm, lúc xót xa buốt giá, khi tưng tửng đùa cợt: Một tiểu đoàn gồm 4 đại đội sinh viên. Sinh viên Bách khoa, Mỏ địa chất, Y khoa, Nông nghiệp, Cơ điện,... hành quân 3 tháng vượt Trường Sơn vào tận chiến trường. Điều đặc biệt là không phải đánh nhau, tiểu đoàn sinh viên lãng mạn, mơ mộng này sang đất Căm Pu Chia, chỉ làm một việc là mót sắn, gùi về nước tăng khẩu phần lương thực cho sư đoàn hàng ngàn quân ăn như tằm ăn dỗi, và đánh giặc. Định mức 25kg sắn một ngày, thái lát, phơi khô. Những chuyện đói khát, ăn mặc rách rưới, lính trẻ tếu táo, tâm trạng buồn vui, ước mơ, khát khao một mùi hương con gái, sốt rét ác tính, chết chóc, thương vong... đều diễn ra tại đây. Chiến trường không có tiếng súng, đạn nổ, bom rơi, chiến hào lở loét, vết thương bầm rập..., nhưng nhà văn Nguyễn Trọng Luân đã làm được một việc kỳ tài là chỉ bằng Rừng đói ông cũng dựng lên cuộc chiến tranh khốc liệt của riêng ông, của những người lính như ông, và cả những bạn đọc như tôi.


Không thể tưởng tượng thời ấy người lính ra trận, vào chiến trường đánh giặc lại đơn giản đến mức: “Mỗi đại đội hơn trăm lính mà chỉ có một tờ giấy phê đúp ghi trích ngang. Sinh mạng nguồn gốc một con người đọc chỉ chưa hết 5 giây đồng hồ... Người sĩ quan nhận quân gấp cẩn thận mảnh giấy đút vào túi mìn Mo, vỗ vỗ mấy cái như an ủi hơn trăm mạng người yên tâm yên tâm mà chiến đấu”. Giá mà thời ấy, trên cổ mỗi người lính có thêm một thẻ bài bằng in nốc, to chỉ như đầu ngón chân cái, ghi số lính vào thì sau chiến tranh đã nhẹ bớt nước mắt trong những cuộc tìm kiếm trùng trùng gian nan. Rừng đói không chỉ thuộc về những người lính sinh viên mót sắn mà cả những người lính gái học hành dở dang, nhảy núi, xung vào đội quân gùi thồ phục vụ chiến trường. Có trăm ngàn nỗi sợ hãi, nhưng hãi sợ của người lính gái bao giờ cũng ngờm ngợp, thấp thỏm, đáng thương hơn. Người lính sinh viên trai tráng lặng người khi nghe nữ trung đội trưởng gùi thồ tâm sự thế này: “Hai tháng, B em chả đứa nào thấy hành kinh. Chúng nó khóc tu tu. Chúng nó sợ mất cái đàn bà. Em nói, tao đây nè bốn tháng nay cũng chả có hột kinh nào...”. Sợ chết bom đạn đã đành, còn sợ cả mất thuộc tính đàn bà con gái.


Không thể tưởng tượng nổi tiểu đoàn lính sinh viên đi mót sắn ở chiến trường khốc liệt, nhưng họ cũng bị đói. Đói cơm. Đói rau. Đói thịt. Đói cá. Đói không có chất béo chất đạm, nên mồ hôi người lính cũng không mặn, nước đái không khai. Ăn canh mộc nhĩ, bụng sôi èo èo. Tiêu chuẩn một lạng gạo, một ngày, gùi vài chục cân sắn, đi về vài chục cây số, dạ dày teo tóp, mặt xanh nanh vàng, chân run, mắt hoa. Đói, người lính trẻ chỉ nghĩ đến việc đi kiếm ăn, có cái gì ăn được là cho vào miệng để tồn tại, để sống mà trở về... với bố mẹ, quê hương: Bắn sóc, đánh cá bằng lựu đạn, lấy mật ong, ăn búng báng, lá bứa, cháo môn thục... Ở Rừng đói, người lính sốt rét... đái ra máu mà lại tỉnh là... sắp chết. Nguyễn Trọng Luân có những đoạn viết về tình cảm đồng đội lúc hiểm nghèo rất quặn thắt, buốt giá. Ông kể về anh lính sinh viên Đinh Ngọc Sỹ ngửa mặt lên giời, nước mắt ròng ròng, kêu than trong bất lực, tuyệt vọng: “Ối ông giời ơi thương thằng Khoái với, cho chúng con bắn được con thú rừng cho nó miếng thịt để nó đi.” Đêm, người lính bắn được thú rừng thật. Con mang bị vặt lông, nấu cháo. Mừng rỡ, bưng cháo thịt nóng hổi đến cho Khoái ăn thì anh đã chết. Chết vì sốt rét ác tính. Chết vì bụng lép kẹp đói. Đêm ấy, dù đói những người lại không ai nuốt nổi. Cháo mang còn nguyên, ê hề. Ai cũng “no”. Chỉ rừng đói.

chi tiết »
«Trang đầu «Trở lại    1   
Trở lại - Đầu trang