tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18165478
Sách mới
Rượu với Văn chương

Trần Thanh Phương sưu tầm, biên soạn. 412 trang, khổ 14.5 x 20.5 cm. Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2-2017. Trình bày trang nhã, có nhiều ảnh nhà văn nổi tiếng, bìa cứng và bìa mềm có tay gấp, in trên giấy đẹp. Giá; 170.000 đ.


Trong Lời người biên soạn, nhà văn Trần Thanh Phương viết: …Nói như Nguyên Hồng: Rượu của nhà văn, nhà thơ phải có tiếng chim, có thiên thai… Các bậc tiền nhân nước ta như Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh… có nhiều câu thơ nói về rượu rất hay.


Trong sách Văn hóa rượu của nhiều tác giả: nhà văn Lý Khắc Cung, giáo sư Nguyễn Lân Dũng, bác sĩ Nguyễn Đức Kiệt và nhiều người khác, do Thái Lương chủ biên (NXB Văn hóa - Thông tin, 1998), cho biết: Ở nước ta, bia mới chỉ xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ 19 (1890), khi thực dân Pháp cho xây thầu ở đường Hoàng Hoa Thám ngày nay một xưởng bia tư nhân nhỏ để phục vụ cho đội quân viễn chinh, nay là Nhà máy bia Hà Nội. Bia là thuật ngữ nước ngoài, còn Rượu là tiếng thuần Việt.


 



 


Rượu có cội nguồn sâu xa trong lịch sử Việt Nam. Từ lâu, rượu đã được gắn liền với phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo… Câu “Vô tửu bất thành lễ” đã trở thành ngạn ngữ trong dân gian. Có chén tiễn đưa, có chén bằng hữu, có chén thề nguyền, có chén chiến đấu, có rượu lễ, rượu cúng, có cả rượu để thờ một vị thần linh theo tục đồng bào dân tộc thiểu số nào đó…


 


Thành ngữ La tinh có câu: “Trong rượu có sự thật”. Nói như nhà thơ Trần Huyền Trân: Nguồn đau cứ rót cho nhau/ Lời say sưa mới là câu chân tình (trong bài “Uống rượu với Tản Đà”). Sinh thời, cụ Tản Đà thường nói: Tửu trung ưng thị thần tiên (trong lúc uống rượu chính là lúc thần tiên) và Tửu trung tự hữu thánh hiền (Trong rượu vốn đã có thánh hiền). Đại thi hào Nguyễn Du lại có câu thơ thật hay: Sinh tiền bất tận bô trung tửu/ Tử hậu thì kiêu mộ thượng bôi (Lúc sống, không uống cạn chén rượu/ Chết rồi thì ai rưới lên mồ cho).


 


Cũng tương tự, người đời còn nói: “Thả lạc sinh tiền nhất tửu bôi/ Hà tu thân hậu thiên tải danh” (Hãy vui lúc sống một chén rượu/ Cần gì lúc chết để tiếng nghìn đời). Rượu còn giúp cho con người dễ mở rộng giao tiếp, cảm thông, chia sẻ, dung thứ cho nhau: Xưa kia ai biết ai đâu/ Vì chung chén rượu mở đầu làm quen (ca dao)…


 


Có cái duyên muôn đời, đặc biệt ở phương Đông chúng ta là, rượu hay bén với thơ văn. Biết chung sống với nhau khéo léo thì duyên cực đẹp, đẹp như tiên. Với người tử tế, rượu là chất men xúc tác, giúp con người thăng hoa. Những chén rượu nồng ấm giúp thêm một chút phấn khích để sáng tạo, giúp lắng lại với đời sống nội tâm, giúp nghiền ngẫm về lẽ đời, về kiếp người… Rượu ấy thật có ích, làm đẹp thêm đời sống con người. Thơ văn trước đây cũng như hôm nay giúp ta hiểu được những chén rượu thanh tao, sang trọng và đầy chất nhân văn ấy. Tôi nghĩ, trên đời này, trong những câu chuyện vui buồn, sau mảng đề tài muôn thuở về tình yêu thì mảng đề tài được nhiều người đề cập tới là rượu. “Nam vô tửu như cờ vô phong”. Thiết nghĩ, ta cũng nên nhớ thêm một câu châm ngôn nữa: “Âm tửu dung hòa đích quân tử” - Nghĩa là người quân tử uống rượu phải trầm tĩnh. Uống chỉ đến mức phấn chấn, suy nghĩ những điều có lợi cho hạnh phúc gia đình và cho đất nước, đó mới thực là người sành rượu.


 


Chính vì vậy, trong mấy trăm trang sách, tôi dồn hết tâm sức cũng để minh chứng cho điều đó. Khái niệm rượu trong sách mà tôi sưu tầm, biên soạn này nhất thiết phải là thứ rượu có văn hóa, tức tượng trưng tinh thần của rượu (tửu tinh thần). Ta hãy quên đi một Chí Phèo nát rượu để nhớ lại bức tranh ông tiên râu tóc bạc phơ, má đỏ như hai quả đào, một tay chống gậy, một tay cầm bầu rượu, thì rượu là biểu tượng của Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh. Ta hãy nhớ lại một nhà thơ, nhà văn đang ngồi bóp trán trước trang giấy, bên cạnh ly rượu để tìm cảm hứng…

chi tiết »
NXB Hội Nhà văn ra lò 3 tác phẩm: Thơ Bạn Thơ 6, Vườn Năm nhà 2 và Chém gió muôn màu 2

Ba tháng cuối năm 2016, vợ chồng nhà thơ Nguyễn Nguyên Bẩy, Lý Phương Liên đã cho ra mắt ba tập sách gồm: Thơ Bạn Thơ 6, Vườn Năm nhà 2 và Chém gió muôn màu 2 - LKXB cùng Nhà xuất bản Hội Nhà văn..


Khởi động từ năm 2012, đến nay tròn 5 năm, Tủ sách tôn vinh Thơ hay của nhà thơ Nguyễn Nguyên Bẩy, Lý Phương Liên đã xuất bản được 12 tác phẩm gồm: Thơ Bạn Thơ 6 tập, Văn Bạn Văn 2 tập, Vườn năm nhà 2 tập, Chém gió muôn màu 2 tập. Vài ba tập đầu, giấy phép do Nhà xuất bản Văn học cấp. Từ đầu năm 2013, nhà văn Triệu Xuân, người chăm sóc từ bản thảo đến in ấn bộ sách đã chuyển sang liên kết với Nhà xuất bản Hội Nhà văn để lấy Giấy phép xuất bản.


Thơ Bạn Thơ, Văn Bạn Văn, Chém gió muôn màu và Vườn Năm nhà là  là bộ tuyển tập với số lượng tác giả lên tới gần 2000 và gần ba ngàn bài thơ, câu thơ hay. Chỉ riêng 6 tập của Thơ Bạn Thơ có đến 1362 câu thơ hay của 1362 bài thơ và 1362 tác giả. Tổng số tác giả được nói đến trong 6 tập là 2218 người. Quả là con số ấn tượng. Chưa có bộ tuyển thơ nào của Việt Nam từ trước đến nay đạt tới con số như thế!

chi tiết »
Tiểu thuyết "Rừng đói" của Nguyễn Trọng Luân

Nhân đọc tiểu thuyết Rừng đói của Nguyễn Trọng Luân, NXB Hội Nhà Văn, 2016.


... Nguyễn Trọng Luân là người kể có duyên, có giọng riêng đầm ấm, lúc xót xa buốt giá, khi tưng tửng đùa cợt: Một tiểu đoàn gồm 4 đại đội sinh viên. Sinh viên Bách khoa, Mỏ địa chất, Y khoa, Nông nghiệp, Cơ điện,... hành quân 3 tháng vượt Trường Sơn vào tận chiến trường. Điều đặc biệt là không phải đánh nhau, tiểu đoàn sinh viên lãng mạn, mơ mộng này sang đất Căm Pu Chia, chỉ làm một việc là mót sắn, gùi về nước tăng khẩu phần lương thực cho sư đoàn hàng ngàn quân ăn như tằm ăn dỗi, và đánh giặc. Định mức 25kg sắn một ngày, thái lát, phơi khô. Những chuyện đói khát, ăn mặc rách rưới, lính trẻ tếu táo, tâm trạng buồn vui, ước mơ, khát khao một mùi hương con gái, sốt rét ác tính, chết chóc, thương vong... đều diễn ra tại đây. Chiến trường không có tiếng súng, đạn nổ, bom rơi, chiến hào lở loét, vết thương bầm rập..., nhưng nhà văn Nguyễn Trọng Luân đã làm được một việc kỳ tài là chỉ bằng Rừng đói ông cũng dựng lên cuộc chiến tranh khốc liệt của riêng ông, của những người lính như ông, và cả những bạn đọc như tôi.


Không thể tưởng tượng thời ấy người lính ra trận, vào chiến trường đánh giặc lại đơn giản đến mức: “Mỗi đại đội hơn trăm lính mà chỉ có một tờ giấy phê đúp ghi trích ngang. Sinh mạng nguồn gốc một con người đọc chỉ chưa hết 5 giây đồng hồ... Người sĩ quan nhận quân gấp cẩn thận mảnh giấy đút vào túi mìn Mo, vỗ vỗ mấy cái như an ủi hơn trăm mạng người yên tâm yên tâm mà chiến đấu”. Giá mà thời ấy, trên cổ mỗi người lính có thêm một thẻ bài bằng in nốc, to chỉ như đầu ngón chân cái, ghi số lính vào thì sau chiến tranh đã nhẹ bớt nước mắt trong những cuộc tìm kiếm trùng trùng gian nan. Rừng đói không chỉ thuộc về những người lính sinh viên mót sắn mà cả những người lính gái học hành dở dang, nhảy núi, xung vào đội quân gùi thồ phục vụ chiến trường. Có trăm ngàn nỗi sợ hãi, nhưng hãi sợ của người lính gái bao giờ cũng ngờm ngợp, thấp thỏm, đáng thương hơn. Người lính sinh viên trai tráng lặng người khi nghe nữ trung đội trưởng gùi thồ tâm sự thế này: “Hai tháng, B em chả đứa nào thấy hành kinh. Chúng nó khóc tu tu. Chúng nó sợ mất cái đàn bà. Em nói, tao đây nè bốn tháng nay cũng chả có hột kinh nào...”. Sợ chết bom đạn đã đành, còn sợ cả mất thuộc tính đàn bà con gái.


Không thể tưởng tượng nổi tiểu đoàn lính sinh viên đi mót sắn ở chiến trường khốc liệt, nhưng họ cũng bị đói. Đói cơm. Đói rau. Đói thịt. Đói cá. Đói không có chất béo chất đạm, nên mồ hôi người lính cũng không mặn, nước đái không khai. Ăn canh mộc nhĩ, bụng sôi èo èo. Tiêu chuẩn một lạng gạo, một ngày, gùi vài chục cân sắn, đi về vài chục cây số, dạ dày teo tóp, mặt xanh nanh vàng, chân run, mắt hoa. Đói, người lính trẻ chỉ nghĩ đến việc đi kiếm ăn, có cái gì ăn được là cho vào miệng để tồn tại, để sống mà trở về... với bố mẹ, quê hương: Bắn sóc, đánh cá bằng lựu đạn, lấy mật ong, ăn búng báng, lá bứa, cháo môn thục... Ở Rừng đói, người lính sốt rét... đái ra máu mà lại tỉnh là... sắp chết. Nguyễn Trọng Luân có những đoạn viết về tình cảm đồng đội lúc hiểm nghèo rất quặn thắt, buốt giá. Ông kể về anh lính sinh viên Đinh Ngọc Sỹ ngửa mặt lên giời, nước mắt ròng ròng, kêu than trong bất lực, tuyệt vọng: “Ối ông giời ơi thương thằng Khoái với, cho chúng con bắn được con thú rừng cho nó miếng thịt để nó đi.” Đêm, người lính bắn được thú rừng thật. Con mang bị vặt lông, nấu cháo. Mừng rỡ, bưng cháo thịt nóng hổi đến cho Khoái ăn thì anh đã chết. Chết vì sốt rét ác tính. Chết vì bụng lép kẹp đói. Đêm ấy, dù đói những người lại không ai nuốt nổi. Cháo mang còn nguyên, ê hề. Ai cũng “no”. Chỉ rừng đói.

chi tiết »
Tiểu thuyết Quo Vadis – bản in lần thứ 10 - của Henryk Sienkievich, Nobel Văn học 1905.

Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành tiểu thuyết Quo Vadis – bản in lần thứ 10 - của Henryk Sienkievich, Nobel Văn học 1905. Nhà văn Nguyễn Hữu Dũng dịch và giới thiệu. Lời bạt của nhà văn Triệu Xuân. Đây là bản in lần thứ mười, Kỷ niệm 100 năm ngày Tác giả qua đời. Sách dày 666 trang khổ 16 x 24 cm, in hai loại bìa: bìa đặc biệt (bo tròn, giấy Couche 150gsm in 04 màu bồi carton, tờ gát Ivory 210 gsm) và bìa mềm giấy Bristol 300gsm in 04 màu, tay gấp.


 


Henryk Sienkievich (Henryk Sienkieweiz: 1846 - 1916) là một trong những nhà văn lớn của Ba Lan. Sáng tác của ông có một vị trí đặc biệt trong lịch sử văn hóa Ba Lan, đồng thời được đánh giá rất cao trên văn đàn thế giới. Với tiểu thuyết Quo Vadis ông được tặng giải Nobel về văn học năm 1905.


 


Do công việc biên tập, tôi đọc tiểu thuyết “Quo Vadis” không dưới chục lần. Lạ thay, lần nào tôi cũng bị cuốn hút như lần đọc đầu tiên năm 1986. Mùa xuân năm 1986, vào lúc cuốn tiểu thuyết “Giấy trắng” của tôi đang được dư luận văn học hưởng ứng sôi nổi, có rất nhiều bài báo viết về Giấy trắng xuất hiện trên các báo; tôi liên tục được các cơ quan, đơn vị, địa phương mời đi nói chuyện, gặp gỡ, giao lưu với bạn đọc. Trong một lần đi nói chuyện, tôi vô hiệu sách ở thành phố Cần Thơ và mua được mấy cuốn sách mà tôi nghĩ là hay, trong đó có tập I tiểu thuyết Quo Vadis. Đêm ấy, sau khi dự tiệc về, tôi đọc ngốn ngấu từ 22 giờ đến 3 giờ sáng hết cuốn sách. Quá hay! Tác phẩm hay, đã đành, nhưng tôi ấn tượng nhất là văn phong của bản dịch. Phải là một tâm hồn đồng cảm sâu sắc với tác giả thì mới chuyển sang Việt văn được những trạng thái cảm xúc, hành động của nhân vật tinh tế, lãng mạn và phù hợp đến như vậy. Dịch tức là đồng sáng tạo. Tôi nghĩ, câu ấy thật đúng với trường hợp Nguyễn Hữu Dũng dịch Quo Vadis. Dịch văn học, ngoài chuyện am tường ngôn ngữ ấy, nền văn hóa ấy, người dịch nhất thiết phải có tâm huyết, phải có tình yêu!


 


H. Sienkievich sinh ngày 7-5-1846 tại Vola Okseixka miền Podlesic, trong một gia đình quý tộc đã bị sa sút. Vào những năm 1866-1869 ông theo học các khoa luật học, y học rồi văn học tại Trường Chính (nay là trường Đại học Tổng hợp Vacsava). Bước vào nghề báo từ năm 1869 bằng những tiểu luận và phê bình sân khấu, Sienkievich bắt đầu được chú ý đến như một cây bút có triển vọng với truyện Phí hoài (1872). Trong những truyện ngắn tiếp theo, ông đã mô tả một cách sắc nét sự tàn tạ của lối sống phong kiến gia trưởng (Người đầy tớ già - 1875, Hania -1876). Thời kỳ 1876 -1882 ông đi rất nhiều nơi ở châu Âu, châu Mỹ và cho đăng Những bức thư từ các chuyến đi (1876 -1878) cùng hàng loạt truyện ngắn và truyện vừa rất xuất sắc, trong đó nổi bật lên vấn đề thân phận người nông dân. Năm 1892 đánh dấu một bước ngoặt trong sáng tác của H. Sienkievich: từ lĩnh vực truyện ngắn và truyện vừa, ông bước sang miền đất mới của các tiểu thuyết lịch sử. Ông cho ra đời bộ ba tiểu thuyết lịch sử viết về những cuộc chiến tranh diễn ra ở Ba Lan hồi thế kỷ XVII: Bằng lửa và gươm (1883 -1894), Trận hồng thủy (1884-1886), Ngài Volodyjovxki (1887 -1888). Mang đậm chủ nghĩa yêu nước, tiểu thuyết bộ ba này là một đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp sáng tác của Sienkievich, là một tuyệt phẩm trong kho tàng văn học Ba Lan. Tiếp theo, Sienkievich hoàn thành hai tiểu thuyết tâm lý xã hội: Phi giáo lý (1889 -1890) và Gia đình Polaniexki, trong đó ông phê phán giới quý tộc đang suy đồi.


 


Đề tài tiểu thuyết lịch sử Quo Vadis (1895-1896) là cuộc khủng bố các Kito hữu thời Nero bạo chúa ở Cổ La Mã. Tiểu thuyết lịch sử Hiệp sĩ Thánh chiến (1897-1900) miêu tả cuộc chiến tranh giữ nước hồi thế kỷ XV với các trận đại thắng Grunvald lẫy lừng, chống lại các hiệp sĩ thuộc dòng tu Thánh Chiến, mà thực chất là chống lại đế quốc Phổ, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Ba Lan...


 


Mời đọc: Lời Giới thiệu của nhà văn, Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng và trích đoạn nhiều chương của Quo Vadis


 


- Lời bạt của Nhà văn Triệu Xuân: “Nhà văn Dịch giả Nguyễn Hữu Dũng và tiểu thuyết Quo Vadis”.

chi tiết »
NXB Hội Nhà văn phát hành Tuyển tập Vũ Bằng trong dự án Tác phẩm được Giải thưởng Nhà nước về VHNT


NXB Hội Nhà văn vừa gửi biếu bộ sách Tuyển tập Vũ Bằng, mới in xong 2 quyển, 2.250 trang khổ 14.5 x 20.5 cm. Đây là bản in lần thứ hai, theo lần xuất bản đầu tiên năm 2000 của NXB Văn học, do Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. Sách thuộc Dự án Tác phẩm được Giải thưởng Nhà nước về Văn Học Nghệ thuật. Đây cũng chính là bộ sách mà cố nhà văn Vũ Bằng được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật! Hơn năm năm sau khi Tuyển tập Vũ Bằng ra đời, quý I năm 2006, NXB Văn học và Nhà văn Triệu Xuân tiếp tục xuất bản Vũ Bằng Toàn tập gồm 4 quyển khổ lớn 16 x 24 cm, hơn 4000 trang.


Nhân lần xuất bản thứ hai của Tuyển tập Vũ Bằng, www.trieuxuan.info trân trọng giới thiệu lại bài: “Vũ Bằng, người lữ hành đơn côi”, Lời tựa của Nhà văn Triệu Xuân in trong Tuyển tập Vũ BằngVũ Bằng Toàn tập


 


 


 

chi tiết »
Nhà văn Virginia Woolf (1882-1941) và tác phẩm Orlando, Nguyễn Thành Nhân dịch

“Một người phụ nữ phải có tiền và một căn phòng riêng nếu muốn viết văn; và điều đó, như bạn sẽ thấy, khiến cho vấn đề lớn lao về bản chất đích thực của phụ nữ và bản chất đích thực của văn chương vẫn còn bỏ ngỏ chưa giải quyết.”


 


Câu nói trên trích từ Chương 1 của tập tiểu luận nhan đề A Room of One’s Own  (Một căn phòng riêng) của nữ tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà phê bình văn học người Anh Virginia Woolf (1882-1941). Câu trích dẫn này vẫn thường được mọi người nhắc đến khi đề cập tới Virginia, bởi lẽ tất cả những tác phẩm và chính cuộc đời đầy sóng gió và bi kịch của bà thật sự là những nỗ lực không ngừng để đạt tới mục đích bình dị vô song đó: Tiền và một căn phòng riêng để viết – hay nói cách khác, sự độc lập về mặt vật chất (và cả tinh thần) của một phụ nữ muốn sáng tạo văn chương nghệ thuật.


 


Nhũ danh của Virginia Woolf là Adeline Virginia Stephen. Bà là con gái của nhà biên tập và phê bình Leslie Stephen và Julia Prinsep Stephen (nhũ danh Jackson), một nữ nhiếp ảnh gia nổi tiếng. Cha mẹ bà đều đã từng kết hôn và con riêng, do đó gia đình bà bao gồm con cái của ba cuộc hôn nhân. Julia có ba con riêng là George, Stella và Gerald Duckworth. Leslie có một con gái với người vợ trước, tên là Laura Makepeace Stephen. Leslie và Julia có chung bốn người con: Vanessa Stephen, Thoby Stephen, Virginia và Adrian Stephen.


 


Leslie vốn là con rể của nhà văn William Thackeray (ông là chồng góa của con gái út của Thackeray), bên cạnh đó thân hữu của cả hai vợ chồng ông đều là những nhà văn, nghệ sĩ nổi tiếng của nước Anh vào thời bấy giờ. Do vậy con cái của ông được nuôi dạy trong một môi trường chịu nhiều ảnh hưởng của giới văn học nước Anh. Bổ sung cho những ảnh hưởng này là tòa thư viện rộng mênh mông ở nhà của Stephen, nơi mà Virginia và Vanessa  được dạy các môn học như ngoại ngữ, triết học, văn chương, lịch sử, nghệ thuật và văn học Anh.


 


Theo Woolf, những hồi ức tuổi thơ mạnh mẽ nhất của bà không phải là ở London mà là ở thị trấn St. Ives thuộc hạt Cornwall, nơi gia đình bà dùng để nghỉ hè cho tới năm 1895. Ngôi nhà nghỉ hè của gia đình Stephen, Talland House, nhìn ra vịnh Porthminster, và vẫn còn cho tới ngày nay, dù đã thay đổi ít nhiều. Ký ức về những ngày nghỉ gia đình này và những ấn tượng về phong cảnh ở đó, đặc biệt là ngọn hải đăng Godvry, đã được thể hiện lại trong quyển tiểu thuyết được xem là hay nhất của Woolf vào những năm sau này, quyển To the Lighthouse ).


 


Trong thời gian nghiên cứu ở đại học đường King’s College Cambridge và King’s College London, bà quen biết với một số văn nghệ sĩ và trí thức cấp tiến như nhà kinh tế học John Maynard Keynes, thi sĩ E. M. Forster, nhà văn chuyên viết tiểu luận và tiểu sử Lytton Strachey và nhà văn, lý thuyết gia chính trị người Anh gốc Do Thái Leonard Woolf (1880-1969), người mà bà kết hôn vào năm 1912. Họ trở thành những thành viên sáng lập của Bloomsbury Group, một nhóm các bạn bè thân hữu sống và hoạt động gần khu Bloomsbury, London, thường xuyên có những buổi họp mặt thảo luận về đủ mọi đề tài. Tác phẩm của Nhóm Bloomsbury đã có một ảnh hưởng sâu rộng tới các mặt văn chương, mỹ học, phê bình và kinh tế học, cũng như đưa ra những quan điểm hiện đại về thuyết nam nữ bình quyền, chủ nghĩa hòa bình và quan hệ tính dục.


 


Năm 1917, hai vợ chồng Woolfs mua lại một xưởng in thủ công nhỏ và sáng lập ấn quán Hogarth Press, xuất bản những tác phẩm của nhóm Bloomsbury, của Katherine Mansfield cũng như bản dịch các tác phẩm của Freud. Virginia Woolf sống một cuộc đời sôi động giữa bằng hữu và gia đình, viết lách và diễn thuyết ở các trường đại học.


 


Cái chết của mẹ vào năm 1895 và của chị gái cùng mẹ khác cha Stella hai năm sau đó đã dẫn tới những cơn suy nhược thần kinh đầu tiên của Virginia Woolf. Và cái chết của cha bà vào năm 1914 đã khiến cho bà suy sụp hoàn toàn, phải vào bệnh viện để điều trị một thời gian ngắn. Các cơn suy nhược và những thời kỳ trầm cảm sau này cũng còn chịu ảnh hưởng bởi sự lạm dụng tình dục mà bà và Vanessa gánh chịu từ hai người anh cùng mẹ khác cha là George và Gerald Duckworth. Woolf  đã nhắc lại chuyện này trong các tiểu luận A sketch of the Past (Một phác họa về quá khứ) và 22 Hyde Park Gate (Nhà số 22 phố Hyde Park Gate). Trong suốt đời mình, Virginia Woolf luôn bị quấy rầy bởi những cơn trầm cảm và những chứng bệnh liên quan. Dù các cơn đau này thường gây ảnh hưởng tới hoạt động xã hội của mình, bà vẫn tiếp tục sáng tác với một vài thời kỳ gián đoạn cho tới khi qua đời do tự tử.


 


Càng về sau này, Virginia càng thường xuyên chịu đựng các cơn suy nhược thần kinh. Bà thẳng thắn tự nhận là mình “bị điên”, bảo rằng bà thường nghe thấy những tiếng nói và nhìn thấy những ảo ảnh: “Đối với tôi, bộ não của tôi là thứ thiết bị bất khả lý giải nhất – luôn luôn kêu vo ve, o o, vút lên, gầm rú, lao xuống, và rồi bị vùi chôn trong bùn. Và tại sao?...” (trích một lá thư đề ngày 28/12/1932) Sợ làm phiền đến chồng mình, bà đã tự tử một đôi lần nhưng thất bại. Trong lá thư cuối cùng gửi cho chồng, bà viết:


 


“Em cảm thấy chắc chắn rằng em sắp sửa điên trở lại. Em cảm thấy chúng ta sẽ không thể vượt qua những thời khắc kinh khủng đó thêm nữa. Và lần này em không thể hồi phục lại. Em bắt đầu nghe thấy những giọng nói, và em không thể tập trung. Vì thế em sẽ thực hiện cái điều mà dường như là điều tốt nhất để làm. Anh đã cho em niềm hạnh phúc lớn nhất có thể có. Theo bất kỳ cách thức nào anh đã là tất cả những gì mà bất kỳ một người nào có thể là. Em không nghĩ rằng có thể có hai người nào từng hạnh phúc hơn (chúng ta) cho tới khi căn bệnh khủng khiếp này đến. Em không thể chiến đấu thêm được nữa. Em biết rằng em đang phá hỏng cuộc đời anh, rằng nếu không có em anh có thể làm việc được. Và anh sẽ làm được, em biết. Anh thấy đó, thậm chí em không thể viết được lá thư này cho hợp cách. Em không thể đọc. Điều em muốn nói là em mắc nợ anh về tất cả những hạnh phúc của đời mình. Anh đã hoàn toàn nhẫn nại với em và tốt đến không thể tin nổi. Em sẽ không tiếp tục phá hỏng đời anh nữa. Em không nghĩ rằng có thể có hai người nào lại từng hạnh phúc hơn chúng ta"...

chi tiết »
Nguyễn Thành Nhân vừa ra cuốn sách thứ hai (sáng tác): Vũ điệu buồn của chữ

Gồm một số bài viết đã đăng báo hoặc trên các blogs, websites của nhà văn Nguyễn Thành Nhân. Gọi là tạp văn, nhưng rải rác trong tập sách bạn đọc sẽ tìm thấy những vần thơ, đó cũng là một điểm lạ lùng và khác biệt của tập sách này.


 


Dường như tác giả rất yêu thơ, và có lẽ đã từng viết nhiều thơ, nhưng lại không hài lòng với những đứa con tinh thần của mình. Anh thổ lộ: “Muốn viết, mê viết mà viết ngày càng không ra chữ. Muốn làm thơ ngây thơ hồn hậu như hồi mới lớn, mới biết yêu, cứ nghĩ thế nào thì tuôn ra thế ấy cũng không thể nào được nữa. Thơ chẳng còn bao dung dễ dãi với tôi. Làm thơ không tiến bộ nổi, tôi chuyển sang... viết văn xuôi. Nhưng những gì tôi viết ra chẳng mấy khi làm tôi hài lòng.” (Vũ điệu buồn của chữ). Trong một tạp văn khác (Qua những miền xuân cũ), chúng ta biết nguồn gốc của bài thơ đầu tay mà chính bản thân tác giả cũng không còn nhớ, anh viết:Tôi ra ngồi ngó những con bướm vàng bay chấp chới trên những đóa hoa vàng, và nảy ra một vài câu thơ xuân đầu tiên trong trí óc. Tôi chép lại mấy câu thơ đó và còn giữ được chúng vài năm, lý do để giờ đây còn nhớ tới sự tích ra đời của chúng, nhưng chẳng thể nào nhớ nổi mình đã viết gì. Chao ôi, tôi chỉ có tâm hồn thi sĩ, nhưng lại chẳng có thi tài. Từ bài thơ đầu tay đó tới giờ tôi làm thơ không nhiều, không liên tục nhưng cũng kha khá"...

chi tiết »
Tiểu thuyết “Trên sa mạc và trong rừng thẳm”

Nhà xuất bản Hội Nhà văn - Liên kết xuất bản cùng Nhà văn Triệu Xuân, vừa ấn hành tác phẩm: “Trên sa mạc và trong rừng thẳm”. Tác giả: Henryk Sienkievich, Nobel Văn học 1905. Trước đó, hồi tháng 8-2016, NXB Hội Nhà văn - Liên kết xuất bản cùng Nhà văn Triệu Xuân đã phát hành tiểu thuyết “Quo Vadis”. Đây là hai tác phẩm được xuất bản nhân kỷ niệm 100 năm, ngày Henryk Sienkievich- Nobel văn học 1905 - từ trần (1916-2016). Chăm sóc bản thảo, in ấn: Nhà văn Triệu Xuân. Chịu trách nhiệm xuất bản Phạm Trung Đỉnh. Chịu trách nhiệm bản thảo: Trần Quang Quý. Biên tập Nguyễn Minh Phước & Nguyễn Văn Sơn. Nếu không có gì thay đổi đột xuất thì tuần đầu tháng 11-2016, tại Hà Nội và sau ngày 16-11 tại TP Hồ Chí Minh, Hội Nhà văn Việt Nam, Đại sứ quán Ba Lan, Dịch giả-PGS TS Nguyễn Hữu Dũng, cùng NXN Hội Nhà văn tổ chức sự kiện ra mắt hai tác phẩm nói trên, kỷ niệm 100 năm, ngày Henryk Sienkievich- Nobel văn học 1905 - từ trần (1916-2016).


 


Henryk Sienkievich sinh ngày 7/5/1846 tại Wola Okszeiska vùng Podlesie, Ba Lan, trong một gia đình quý tộc cổ đã sa sút. Bước vào nghề báo từ năm 1869 bằng những tiểu luận và phê bình sân khấu, Sienkiewicz bắt đầu được chú ý đến như một cây bút có triển vọng với truyện Na marne (Phí hoài, 1872). Trong những truyện ngắn tiếp theo, như Humoreski z teki Woroszyłły (Chuyện khôi hài từ những ghi chép của Woroszyłła, 1872), Stary Sługa (Người đầy tớ già, 1875), Hania (1876) và Selim Mirza (1877), ông đã mô tả sắc nét sự tàn tạ của lối sống phong kiến gia trưởng...

chi tiết »
Phát hành tác phẩm Khám phá lịch sử Trung Hoa của Nhà văn, nghà nghiên cứu văn hóa Hà Văn Thùy

NXB Hội Nhà văn vừa phát hành tác phẩm Khám phá lịch sử Trung Hoa của Nhà văn, nghà nghiên cứu văn hóa Hà Văn Thùy. Ông sinh năm 1944 tại Đồng Tiến, Quỳnh Phụ, Thái Bình. 1967, tốt nghiệp khoa Sinh, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từng làm việc tại Hội Văn Nghệ Thái Bình, Hội VN Kiên Giang, Báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam.


 


Tác giả Hà Văn Thùy đã xuất bản hơn chục tác phẩm - trong đó có 8 tác phẩm do Nhà văn Triệu Xuân trực tiếp biên tập, chăm sóc từ bản thảo đến khi in ấn, phát hành tại NXB Văn học: Thời gian gom nhặt, thơ; Trần Hà Tiên và Tao đàn Chiêu anh các, biên khảo NXB Văn học, 2005;  Nguyễn Thị Lộ, tiểu thuyết. NXB Văn học, 2006; Góp với văn đàn, phê bình. NXB Văn học, 2007; Tìm lại cội nguồn Văn hóa Việt, khảo luận. NXB Văn học, 2007. Hành trình tìm lại cội nguồn, khảo luận. NXB Văn học, 2008; Di ngôn Phật sống Lưu Công Danh, Ký, NXB Văn học, 2008. Tìm cội nguồn qua di truyền học. Khảo luận. NXB Văn học, 5-2011. Khám phá lịch sử Trung Hoa. NXB Hội Nhà văn, 2016.


 


Nhấp chuột vô đây đọc Lời giới thiệu in trong tác phẩm Khám phá lịch sử Trung Hoa. Tác giả Lời tựa là Ph.D. Nguyễn Đức Hiệp. Chuyên gia kha học khí quyển Bộ Môi trường và bảo tồn, New Soouth Wales, Australia.

chi tiết »
Cuốn tiểu luận phê bình thứ sáu của Lại Nguyên Ân: Từng đoạn đường văn

NXB Hội Nhà văn cấp Giấy phép; Tác giả tự đầu tư in ấn: Từng đoạn đường văn. Sách dày 532 trang 14x20,5cm; gồm các bài: Xuân Diệu, trong những năm 1954-1958;  Đôi dòng ghi sau tác phẩm “Đi! Đây Việt Bắc”, của Trần Dần; “Tập san Phê bình”, một ấn phẩm tư nhân ở miền Bắc hồi 1957-58; Đi tìm dấu tích tờ tuần báo “Sáng tạo” (Hà Nội, 1956); Nhân nhớ lại một bản thảo bị mất; Hội nhà văn Việt Nam: Sự thành lập và hai năm tồn tại đầu tiên (1957-58); Văn xuôi Chu Văn; Vài ý nghĩ nhân một hội thảo về Nguyễn Huy Tưởng; Nói thêm vài chi tiết về nhà thơ Quang Dũng; Duyên nợ với thơ (về Trần Mai Châu); Tưởng nhớ nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu; Nhớ Trần Quốc Vượng, một bậc đàn anh; Tưởng nhớ anh Hoàng Ngọc Hiến; Một vài kỷ niệm về Đào Thái Tôn; Mấy nét về đường văn Nguyễn Xuân Khánh; Trở lại vấn đề trung tâm – ngoại vi; Hình thành, định hình, trưởng thành, phân hóa (về lớp "nhà thơ chống Mỹ"); Văn học đổi mới hay là sự thức tỉnh nửa vời của một lớp nhà văn; Tái cơ cấu thiết chế văn nghệ: nhiệm vụ khả thi./ Thử tìm dấu vết Vũ Bằng trên hai tờ báo: Trung Việt tân văn (Hà Nội, 1946) và Lửa sống (Hải Phòng, 1954-55); Ngô Tất Tố với các tờ báo Tuần lễ (Vinh, 1938-40) và Trung Việt tân văn (Hà Nội, 1946); Thơ hát nói của Ưu Thiên Bùi Kỷ; Dấu ấn Hàn Mặc Tử; Câu chuyện đi tìm lại bản in đầu của tập thơ “Gái quê”; Tạp văn Vũ Trọng Phụng...

chi tiết »
«Trang đầu «Trở lại    1   
Trở lại - Đầu trang