tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21091310
Thông tin tác giả
Henryk Sienkiewicz


 

(1846-1916).
Nobel Văn học năm 1905.


H. Sienkievich sinh ngày 5-5-1846 tại Vola Okseika miền Podlesie trong một gia đình quý tộc đã bị sa sút. Vào những năm 1866 - 1869 ông theo học các khoa luật học, y học rồi văn học tại Trường Chính (nay là Trường đại học tổng hợp Vacsava).


Bước vào nghề báo từ năm 1869 bằng những tiểu luận và phê bình sân khấu, Sienkievich bắt đầu được chú ý đến như một cây bút có triển vọng với truyện Phi hoài (1872). Trong những truyện ngắn tiếp theo, ông mô tả một cách sắc nét sự tàn tạ của lối sống phong kiến gia trưởng (Người đầy tớ già - 1875, Hania - 1876). Thời kỳ 1876 - 1882 ông đi rất nhiều nơi ở châu Âu, châu Mỹ, và cho đăng Những bức thư từ các chuyến đi (1876 - 1878) cùng hàng loạt truyện ngắn và truyện vừa xuất sắc, trong đó nổi bật lên vấn đề thân phận người nông dân.


Năm 1892 đánh dấu một bước ngoặt trong sáng tác của H. Sienkievich: từ lĩnh vực truyện ngắn và truyện vừa ông sang miền đất mới của các tiểu thuyết lịch sử. Ông cho ra đời tiểu thuyết lịch sử bộ ba viết về những cuộc chiến tranh diễn ra ở Ba Lan hồi thế kỷ XVII: Bằng lửa và gươm (1883 - 1884). Trận hồng thủy (1884 - 1886), Ngài Volodyjovki (1887 - 1888). Mang đậm chủ nghĩa yêu nước, tiểu thuyết bộ ba này là một đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp sáng tác của Sienkievich, là một tuyệt phẩm trong kho tàng văn học Ba Lan.


Tiếp theo, Sienkievich hoàn thành hai tiểu thuyết tâm lý xã hội: Phi giáo lý (1889 - 1890) và Gia đình Polaniexki, trong đó ông phê phán  giới quý tộc đang suy đồi.


Đề tài tiểu thuyết lịch sử Quo Vadis (1895 - 1896) là cuộc khủng bố các tín đồ Thiên Chúa giáo thời Nerô bạo chúa ở Cổ La Mã.


Tiểu thuyết lịch sử Hiệp sĩ Thánh chiến (1897 - 1900) miêu tả cuộc chiến tranh giữ nước hồi thế kỷ XV với trận đại thắng Grunvald lẫy lừng, chống lại các hiệp sĩ thuộc dòng tu Thánh chiến, mà thực chất là chống lại đế quốc Phổ, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Ba Lan.


Trong thời kỳ "hồi xuân" gần cuối đời, sau khoảng 10 năm bệnh tật liên miên, H. Sienkievich cho ra đời cuốn tiểu thuyết du ký rất xuất sắc dành cho bạn đọc trẻ tuổi Trên sa mạc và trong rừng thẳm (1910 - 1914) và tiểu thuyết lịch sử Những đội quân lê dương (1913 - 1914) mà cái chết không cho phép ông hoàn thành.


Henryk Sienkievich mất tại Vêvê (Thụy Sĩ) ngày 15-11-1916 thọ bảy mươi tuổi.


Trong ngót nửa thế kỷ sáng tạo, H. Sienkievich đã để lại cho nhân loại một di sản văn học đồ sộ vô giá. Ngay từ thuở sinh thời của văn hào đã từng có nhiều người cố gắng thu thập và xuất bản toàn bộ tác phẩm của ông, đáng chú ý nhất là công trình của nhà xuất bản Gebethner và Wolfl trong những năm 1880 - 1939 đã xuất bản bốn mươi sáu tập tác phẩm chọn lọc của Sienkievich. Trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, bè lũ Hítle ra lệnh cấm lưu hành những tác phẩm sục sôi lòng yêu nước của Sienkievich, chúng ra sức tịch thu và đốt các tác phẩm của ông, song nhân dân Ba Lan vẫn nâng niu, gìn giữ, truyền tay nhau đọc, dù rằng không ít người vì thế đã bị kết án tử hình hoặc bị đưa vào trại tập trung.


Chỉ dưới chính thể Cộng hòa nhân dân Ba Lan, Sienkievich mới thật sự trở thành nhà văn của dân tộc, của quảng đại quần chúng, tác phẩm của ông mới được đánh giá đúng tầm cỡ. Ngay trong mùa xuân năm 1945 còn vương khói đạn, ngay trong cảnh đất nước bị tàn phá đến mức hủy diệt, trong những điều kiện cực kỳ khó khăn thiếu thốn sau chiến tranh, tiểu thuyết Hiệp sĩ Thánh chiến của Sienkievich vẫn được tái bản và đó là tác phẩm văn học cổ điển đầu tiên được xuất bản trong lòng nước Ba Lan mới.


Chỉ vài năm sau chiến tranh. Đảng  và Chính phủ Ba Lan đã quyết định cho xuất bản toàn bộ tác phẩm của văn hào. Dự trên các bản thảo và những bản in lần đầu may mắn được cứu thoát khỏi sự đốt phá của bè lũ phát xít, lần đầu tiên toàn bộ tác phẩm của H. Sienkievich gồm sáu mươi tập được chỉnh lý và xuất bản trong khoảng thời gian 1949 - 1951 dưới sự chủ trì của giáo sư Jgian Ksyzanovxki. Bốn tập cuối của bộ sách này là công trình nghiên cứu khoa học tổng hợp về cuộc đời và sáng tác của nhà văn. Căn cứ theo bộ sách này, hàng loạt tác phẩm riêng lẻ của nhà văn lần lượt được tái bản có hệ thống với nhịp độ nhanh và số lượng bản in rất lớn. Thống kê độc giả tại Ba Lan, qua nhiều năm cho thấy rằng sách của H. Sienkievich được nhiều người đọc nhất và được yêu chuộng nhất.


Henryk Sienkiewicz là một trong những văn hào lớn nhất của nhân dân Ba Lan. Sáng tác của ông có một vị trí đặc biệt trong lịch sử văn hóa Ba Lan. Đồng thời được đánh giá rất cao trên văn đàn thế giới.


Với tiểu thuyết Quo vadis ông được tặng giải thưởng Nobel về văn học năm 1905.


 


*



Henryk Adam Alexandr Sienkiewicz là con trai một địa chủ quý tộc nghèo sống ở nông thôn. Đến tuổi đi học, do ảnh hưởng của các biến động trong nền kinh tế, gia đình chuyển về Warszawa. Học xong trường gymnazy năm 1870, ông vào học Đại học Warszawa, lúc đầu học luật và y khoa, sau chuyển sang văn và sử. Sienkiewicz là cộng tác viên thường xuyên của các báo Przegląd Tygodniowy, Gazeta Polska, Niwa, Słowo và bắt đầu gây được sự chú ý với tiểu thuyết Namarne (Phí hoài, 1871), các truyện ngắn Stary sluga (Người đầy tớ già, 1875), Hania (1876), đồng thời ông cũng trở thành một nhà báo được thừa nhận tài năng. Năm 1876, tờ Gazeta Polska cấp tiền cho Sienkiewicz đi Mỹ với điều kiện đổi lại là ông phải viết một loạt bài về Hoa Kỳ; ở đây ông tham gia vào những thử nghiệm xây dựng trại xã hội chủ nghĩa không thành ở Anahaim (gần Los Angeles). Từ 1878 ông trở về châu Âu, đi nhiều nước, viết báo, viết văn và diễn thuyết. Năm 1879, Sienkiewicz trở thành chủ bút một tờ nhật báo mới ở Ba Lan; ba lần lấy vợ; vợ đầu có hai con nhưng chết sớm. Sau khi về Ba Lan, Sienkiewicz bắt đầu sáng tác những tác phẩm dài hơi và nổi tiếng với bộ ba tiểu thuyết Potop (Trận hồng thủy), Pan Wolodyjowski (Ngài Wolodyjowski), Ogniem i mieczem (Bằng lửa và gươm) - viết về các sự kiện diễn ra hồi thế kỉ 17 trong thời gian chiến tranh giữa người Ba Lan với người Kazakh, với người Thụy Điển và với người Thổ Nhĩ Kỳ. Sau đó Sienkiewicz viết hai tiểu thuyết về cuộc sống hiện đại là Bez dogmatu (Không có giáo điều) và Rodzina Polaniekich (Gia đình Polaniecki), còn vào những năm 1895-1896 - tiểu thuyết Quo vadis nói về cuộc sống dưới triều đại của hoàng đế Nero thời cổ La Mã đã mang lại danh tiếng thế giới cho ông.


 


Năm 1900, Henryk Sienkiewicz được những người hâm mộ quyên tiền đủ để mua một trang trại nhỏ và tổ chức sinh nhật rầm rộ. Năm 1905 ông được trao giải Nobel vì những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực sử thi, mà cụ thể là tiểu thuyết Quo vadis viết về cuộc đấu tranh của những người Thiên Chúa giáo với Nero. Khi Thế chiến thứ nhất nổ ra, Sienkiewicz rời quê sang sống ở nước Thụy Sĩ trung lập, làm việc trong tổ chức Hồng thập tự Ba Lan. Năm 1916 ông mất ở Vevey, tám năm sau thi hài của ông được chuyển về Warszawa và an táng trong nhà thờ.


Tác phẩm:


Na marne (Phí hoài, 1871), tiểu thuyết


Humoreski z teki Worszylly (Tiểu phẩm hài trong cặp Worszylly, 1872), tập truyện


Stary sluga (Người đầy tớ già, 1875), truyện ngắn


Hania (1876), truyện vừa


Szkice weglem (Những phác họa bằng than, 1877), truyện ngắn


Janko muzykant (Janko - nhạc công, 1879), truyện ngắn


Latarnik (Người gác đèn biển, 1882), truyện ngắn


Listy z podrozy do Ameryki (Những bức thư trên đường sang Mỹ, 1882), tập phóng sự


Bartex - zwyciezca (Bartex - người chiến thắng, 1882), truyện vừa


Sachem (1883), truyện ngắn


Ogniem i mieczem (Bằng lửa và gươm, 1884), tiểu thuyết


Potop (Trận hồng thủy, 1886), tiểu thuyết


Pan Wolodyjowski (Ngài Wolodyjowski, 1888), tiểu thuyết


Bez dogmatu (Không có giáo điều, 1891), tiểu thuyết


Quo Vadis (1894-1896), tiểu thuyết


Rodzina Polaniekich (Gia đình Polaniecki, 1895), tiểu thuyết


Krzyzacy (Hiệp sĩ Thập tự, 1900), tiểu thuyết


Na polu chwaly (Trên trường vinh quang, 1906), tiểu thuyết


Wiry (Vòng xoáy, 1910), tiểu thuyết


W pustyni i w puszczy (Trên sa mạc và trong rừng thẳm, 1912), tiểu thuyết


Phim chuyển thể


Nhiều tác phẩm của ông được chuyển thể thành phim, nổi bật nhất là phim Hiệp sĩ Thập tự (hay Hiệp sĩ) năm 1960, được đề cử giải Oscar phim tiếng nước ngoài hay nhất và lập kỷ lục về số lượt người xem ở Ba Lan (32.315.695 người). Xếp thứ hai và ba số lượt người xem là phim Trên sa mạc và trong rừng thẳm bản 1973 (30.989.874 người) và phim Trận đại hồng thủy (Potop), năm 1974 thu hút 27.615.921 người xem cũng là những phim chuyển thể từ tiểu thuyết của ông. Phim Bằng lửa và gươm năm 1999 cũng đứng đầu danh sách các phim ăn khách nhất tính theo năm trong bảng danh sách liệt kê từ năm 1989 khi thay đổi chế độ, với 7.151.354 lượt xem năm 1999.


Tiểu thuyết Quo Vadis được dựng thành một số phim trong đó phim Quo Vadis nổi tiếng của điện ảnh Mỹ, sau đó là bản phim truyền hình của Ý năm 1985 và Ba Lan năm 2001.



 

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
13.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm (tiểu thuyết)
Mục lục: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15 
02.12.2016
Quo Vadis (tiểu thuyết)
Mục lục: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18  19  20  21  22  23  24  25  26  27