tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22612333
06.02.2018
Tư liệu sưu tầm
Nghi án nhà bác học Lê Quý Đôn từng khiến thần đồng Việt chết yểu?



Nhà bác học Lê Quý Đôn từng vướng phải một vụ án gian lận thi cử chấn động thời bấy giờ. Sự việc sau đó đã trở thành nguyên nhân chính khiến một thần đồng Việt phải chết yểu.


Trong xã hội phong kiến xưa, phép thi cử vốn rất ngặt nghèo để hạn chế gian lận và tìm được người tài thực sự. Không cứ là con cháu công hầu, danh tướng hay thứ dân, tất cả đều bình đẳng với nhau trong trường thi. Ấy vậy nhưng trong lịch sử tồn tại của chế độ khoa cử xưa, rất nhiều nhân vật nổi tiếng trong  lịch sử Việt Nam, không nhiều thì ít đều vướng vào câu chuyện gian lận này.


Báo Người đưa tin đăng tải loạt bài về những vụ gian lận chấn động nền khoa cử thời phong kiến để bạn đọc có dịp tìm hiểu, suy ngẫm để ôn cố tri tân (nhắc chuyện xưa mà biết chuyện nay). Nhân vật đầu tiên được nhắc tới là nhà bác học Lê Quý Đôn.


Trong lịch sử dân tộc, Lê Quý Đôn là một nhà văn hóa, một trí thức vĩ đại mà người đời sau ngưỡng mộ và kính nể. Tuy nhiên trong cuộc đời mình, nhà bác học tài hoa này cũng vướng vào những scandal khiến cho hình ảnh của ông xấu đi nhiều trong mắt người đương thời và hậu thế. Một trong những tai tiếng đó là việc ông trở thành nguyên nhân chính khiến cho một thần đồng Việt dính líu tới một vụ gian lận thi cử nổi tiếng trong lịch sử.


Nghi án “cá chuối đắm đuối vì con”?


Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn) chép về vụ án gian lận thi cử có liên quan tới nhà bác học Lê Quý Đôn như sau: “Tháng 10, mùa đông. Mở khoa thi hội các cống sĩ. Cho bọn Ngô Thế Trị và Phan Huy Ích cùng 18 người đỗ đồng tiến sĩ xuất thân; xử tội Đinh (Thì) Trung đày đi viễn châu, giam Lê (Quý) Kiệt vào ngục.


Quý Kiệt là con Quý Đôn. Kỳ đệ tứ khoa thi này (tức khoa thi năm 1775 – PV), Quý Kiệt cùng Đinh (Thì) Trung đổi quyển cho nhau để làm bài. Việc bị lộ, Đinh (Thì) Trung phải tội lưu đi Yên Quảng (nay thuộc Quảng Ninh), Quý Kiệt phải trở về làm dân. Đinh (Thì) Trung nhân phát hiện bức thư riêng của Quý Kiệt và tố cáo là do Quý Đôn chủ sự.


Trịnh Sâm lấy cớ Quý Đôn là bậc đại thần, bỏ đi không xét, mà luận thêm tội Quý Kiệt, bắt giam cấm ở ngục ở Cửa Đông”. Sau khi chép những lời này, phần lời bình của cuốn sách chép tiếp: “Hai người cùng một tội mà xử phạt khác nhau, sao có thể gọi là công bằng được? Xét hành trạng của Quý Đôn, không có một điều gì đáng khen”. 


Đinh Thì Trung theo các tài liệu ghi chép, quê ở làng Cổ Bôn, xã Đông Thanh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa. Ông từ nhỏ vốn rất thông minh, được coi là thần đồng. Năm 14 tuổi Đinh Thì Trung đỗ hương cống (tức Cử nhân) và được đưa vào học trường Quốc Tử Giám để thi Hội. Cùng vào học đợt này còn có Lê Quý Kiệt, là con của bảng nhãn Lê Quý Đôn.


Nếu xét về địa vị xã hội thì Quý Kiệt hơn Thì Trung rất nhiều nhưng về tài năng văn học lại có vẻ không bằng. Tương truyền Lê Quý Đôn thỉnh thoảng muốn kiểm tra tài năng bằng cách hỏi sách vở, thơ phú thì Thì Trung đều tỏ ra hiểu rộng, biết nhiều. Danh tiếng của ông trên đất kinh kỳ vang dội, đến tai cả chúa Trịnh Sâm.


Tháng 10 năm Ất Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 36 (1775) triều đình tổ chức khoa thi Hội. Quý Kiệt và Thì Trung cùng đi thi với nhau. Theo giai thoại dân gian thì lúc bấy giờ trong triều tranh luận khá sôi nổi về việc trong hai người này ai sẽ đỗ đầu, trong đó có cả vua và nhà chúa. Vua Lê cho rằng Lê Quý Kiệt sẽ đỗ trạng nguyên. Còn chúa Trịnh Sâm lại đoán là Đinh Thì Trung.


Ngày thông báo kết quả thì Quý Kiệt đỗ đầu. Chúa Trịnh không chịu bèn truyền cho khảo quan đem bài thi xét lại và phát hiện thấy bài có chữ viết của Thì Trung thì đề tên Quý Kiệt và ngược lại. Thế là việc đánh tráo bài thi bị lộ, gây xôn xao trong triều, ngoài nội. Cả hai đều bị hủy bỏ kết quả thi, tước hết bằng cấp. Đinh Thì Trung bị xử đày ra tận vùng Đông Hải (có sách chép là Yên Quảng, nhưng đều thuộc vùng Quảng Ninh ngày nay – PV), còn Lê Quý Kiệt thì bị tống giam, sau đuổi về quê ở Thái Bình làm dân thường và cấm không được đi thi nữa.


Tác giả Bùi Dương Lịch (1757 – 1828) trong sách Lê quý dật sử cũng chép câu chuyện gian lận chấn động này. Tác giả này cũng chép chuyện Đinh Thì Trung tố cáo Lê Quý Đôn chủ mưu trong việc đổi quyển thi nhưng Trịnh Sâm không xét tới. Vì thế giới nho sĩ bấy giờ đã sáng tác ra hai câu thơ mỉa mai chuyện gian lận trên như sau: “Quý Kiệt hoàn dân tăng Diên Hà chi dân số, Thì Trung phát phối, chấn Đông Hải chi văn phong”. Dịch nghĩa là: “ Quý Kiệt bị đuổi về, Diên Hà tăng thêm dân số. Thì Trung lưu đày xa, Đông Hải chấn chỉnh lại văn phong”.


Số phận bi thảm của thần đồng Việt


Tác giả Quốc Chấn trong sách Những chuyện lạ trong thi cử thời xưa ở Việt Nam viết rằng, các giai thoại địa phương chép Đinh Thì Trung từ nhỏ đã được coi là thần đồng. Khi mới lên bốn tuổi, một hôm thấy bố đọc sách, ông đòi bố dạy cho mình học đọc. Nghe vậy, người bố chưa tin nhưng cũng bày thử cho Thì Trung vài chữ xem sao.


Điều kỳ lạ là ông bố viết chữ nào ông nhớ ngay chữ đấy, nói nghĩa chữ nào là ông hiểu chữ đó. Người bố mừng lắm bèn gửi con đến một thầy đồ trong vùng vốn là thầy học cũ của mình để nhờ kèm cặp. Lúc đó thầy đang uống rượu, nhìn thấy Đinh Thì Trung bé choắt, nói đùa: “Tửu”, đối được ta sẽ dạy. Không ngờ Thì Trung  đối ngay bằng chữ “Đăng”.


Nếu xét theo phép ghép chữ ngày xưa thì chữ Tửu (rượu) gồm bộ thủy ghép với chữ dậu. Còn “Đăng” (đèn) thì gồm bộ hỏa ghép với chữ đinh. Hai chữ trên đối nhau cả về can chi (Đinh với Dậu) và ý nghĩa (thủy với hỏa). Năm 14 tuổi thì ông đỗ Hương Cống và được vào học trường Quốc Tử Giám với con cái của nhiều bậc công hầu, danh sĩ.


Sử sách chép rằng tính tình Thì Trung vốn rộng rãi với bạn bè và cũng có mối quan hệ thân thiết với gia đình Lê Quý Đôn. Không biết có phải vì mối quan hệ thân thiết đó mà ông chấp nhận đổi quyển thi với con trai của Lê Quý Đôn hay không? Và cũng từ đó mà gây nên bi kịch nổi tiếng cho một tài năng văn chương sớm nở tối tàn.


Hiện nay có nhiều thuyết nói về cái chết của Đinh Thì Trung. Giai thoại địa phương được sách Những chuyện lạ trong thi cử thời xưa ở Việt Nam dẫn lại rằng, sau khi bị đi đày mấy năm, vì ưu ái tài năng văn chương của ông nên chúa Trịnh đã tha cho Thì Trung. Tuy nhiên khi ông đang trên đường về thì chẳng may đã bị bọn cướp biển bắt giết. Khi đó Đinh Thì Trung mới 16 tuổi. Thuyết khác thì nói rằng ông bị cướp biển bắt nhưng không chịu khuất phục chúng nên đã nhảy xuống biển tự vẫn.


Trong khi đó số phận của Lê Quý Kiệt tươi sáng hơn nhiều. Sau khi nhà Nguyễn lập, Quý Kiệt vì có công dâng sách quý của cha lên vua Gia Long nên đã được bổ nhiệm làm quan, cho giữ chức Thị trung Trực học sĩ và giao cho việc dạy dỗ các Hoàng tử.


Sau này vua Gia Long cũng rất quý và tin tưởng ông. Sách Quốc sử di biên do Thám hoa Phan Thúc Trực (làm quan thời vua Tự Đức) có chép sự kiện như sau: “Trước đây sai Thị trung trực học sĩ Lê Quý Kiệt sửa sơn lăng; Quý Kiệt nói đào đến huyệt tất có đất ngũ sắc, rồi quả nhiên đúng, vua cho là lạ ngày càng khen thưởng”.


Vậy là hai người cùng phạm tội như nhau nhưng số phận mỗi người lại quá khác nhau. Việc này không khỏi gây ra những nỗi bi cảm cho hậu thế sau này.


Luật thi cử hiện nay chưa chắc bằng ngày xưa


Nhà khảo cứu sử học hải ngoại Nguyễn Thị Chân Quỳnh (nguyên giảng viên đại học Paris IV) đã từng nhận xét: “Gian lận thi cử thì thời nào cũng có, song khoa cử ba năm mới tổ chức một lần, tỉ lệ số người đỗ mỗi khoa lại rất ít, người đỗ danh vọng cao, quyền uy nhiều cho nên người học trò đi thi rất dễ bị cám dỗ, miễn sao chóng được thi đỗ để ra làm quan. Song vì một số người gian lận mà chê khoa cử tổ chức thiếu nghiêm mật e không đúng. Quả thật cha ông ta đã nghĩ hết cách để phòng ngừa, thiết tưởng đời nay chưa chắc đã bằng”.


 08:33 19/02/2017


Bố vợ nhà bác học Lê Quý Đôn và chuyến đi xứ ly kỳ


 14:25 14/12/2013


Trong lịch sử Việt Nam, Lê Quý Đôn là một nhà bác học nổi tiếng, có kiến thức uyên bác và đa dạng. Ngoài đời, ông là một người hết sức cao ngạo, cậy tài. Thế nhưng, có một người đã khiến cho ông phải thay đổi suy nghĩ, bái làm thầy để học chữ. Sau này, người thầy đó cảm mến tài năng của Lê Quý Đôn nên đã gả con gái cho.


Cao nhân tất hữu cao nhân trị


Nhân vật mà nhà bác học Lê Quý Đôn đã bái làm thầy, xin học chữ chính là Quận công Lê Hữu Kiều (xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên). Cụ Lê Hữu Kiều (1691 – 1760) sinh ra trong một gia đình khoa bảng, là con trai út của Hoàng giáp Lê Hữu Danh. Khi mới được 3 tháng tuổi thì mồ côi cha, lên 4 tuổi thì mồ côi mẹ, nên được bà ngoại là Hiến phó Phạm phu nhân và cậu ruột là Vệ Úy Lạc Sơn công đem ông về nuôi, dạy dỗ.


Thuở nhỏ, người ông gầy yếu nhưng lại rất thông minh, trí nhớ rất tốt. Lên 8 tuổi ông đã biết đọc sách, lên 10 tuổi thì được anh ruột là Lê Hữu Hỷ - khi đó vừa đỗ tiến sỹ và được bổ nhiệm làm quan, đem về nuôi. Thế nhưng tính tình của cụ Lê Hữu Kiều lại mải chơi, không chịu để chí vào việc học hành nên nhiều lần bị đòn roi. Sau đó, ông hối hận, chuyên tâm ôn luyện kinh sách, hy vọng một mai bảng vàng đề tên.


Khoa thi Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh (1718), Lê Hữu Kiều đỗ tiến sỹ dưới triều vua Lê Dụ Tông, được bổ làm Sát đề hình trấn Thanh Hoa, sau thăng Hiến sát xứ. Cuộc đời quan trường của ông từng giữ rất nhiều chức vụ quan trọng, từng kinh qua chức thượng thư của cả lục bộ (là Lễ, Lại, Hộ, Công, Binh, Hình). Ông còn là thầy dạy học cho vua, khi mất, vua thương tiếc cho nghỉ 3 ngày chầu, phong làm Liêu quận công.


Toàn bộ kiến trúc nhà thờ cụ Lê Hữu Kiều tại làng Liêu Xá (huyện Yên Mỹ, Hưng Yên) đều được xây theo lối hiện đại.


Bên cạnh những sử liệu chính thức, cuộc đời khoa bảng của quận công Lê Hữu Kiều tồn tại một giai thoại rất thú vị. Chuyện này được Phạm Đình Hổ (nhân vật nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX) chép trong sách Tang thương ngẫu lục. Chuyện kể rằng, lúc còn nhỏ, Lê Hữu Kiều là người phóng đãng, không chịu sự ràng buộc của khuôn phép.


Ông là học trò của Thám hoa Vũ Thạnh (ông này người phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương, nay thuộc phường Hàng Vải, quận Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội, đỗ Thám hoa năm 1685, dưới triều vua Lê Hy Tông), được Thám hoa Vũ Thạnh rất yêu quý. Ông từng giao du với Phạm Viên Chân Nhân (đến nay không tra cứu được Phạm Viên Chân Nhân là ai). Nhưng tương truyền, Chân Nhân cũng là một người rất hay chữ, được chính Thám hoa Vũ Thạnh thử tài và công nhận rằng: “Người làm văn này phải là bậc thần tiên”.


Vì ngưỡng mộ tài danh của Phạm Viên Chân Nhân nên Thám hoa Vũ Thạnh nhiều lần sai người đón, mời tới đàm đạo, dạy học nhưng ông không chịu đến. Lê Hữu Kiều cũng vì ngưỡng mộ tài danh đó nên bỏ học để đi theo ông mấy tháng trời. Thế nhưng, do biết chí hướng của Lê Hữu Kiều là làm quan, trong khi mình lại muốn lánh xa thế tục nên Phạm Viên Chân Nhân đã khuyên ông trở về. Sau Lê Hữu Kiều nghe theo những lời khuyên này, về nhà tu chí học hành, làm nên công danh, sự nghiệp lẫy lừng và trở thành một tấm gương sáng ngời cho những người theo nghiệp bút nghiên. Lúc gần cuối đời, Lê Hữu Kiều rất đam mê đạo Phật. Ông thiết lập một cơ sở chuyên giảng đạo Phật, người đến nghe rất đông mà chủ yếu lại là những nhân vật tiếng tăm. Các chúa Trịnh Minh Vương (tức Trịnh Doanh), Trịnh Tĩnh Vương (tức Trịnh Sâm) ban chức hòa thượng cho nhiều vị sư, họ đều là học trò của ông.


Ông Lê Hữu Khoát (Trưởng tộc dòng họ Lê Hữu làng Liêu Xá) cho biết: “Bởi vì tiếng tăm lừng lẫy của cụ Lê Hữu Kiều nên một người kiêu ngạo, cậy tài như nhà bác học Lê Quý Đôn cũng phải đến xin làm học trò. Trong quá trình học như vậy, cụ Kiều cảm mến tài năng mà gả người con gái tên là Lê Thị Trang cho làm vợ. Vì vậy, nhà bác học Lê Quý Đôn trở thành con rể của dòng họ Lê Hữu chúng tôi”.


 Nhà bác học Lê Quý Đôn là con rể của cụ Lê Hữu Kiều (tượng Lê Quý Đôn tại trường THPT Lê Quý Đôn, TP. HCM)


Sự trùng hợp cách xa vạn dặm


Ông Lê Hữu Khoát còn cho chúng tôi biết thêm một thông tin rất thú vị về cuộc đời của quận công Lê Hữu Kiều. Gia phả dòng họ Lê Hữu chép rằng, cụ Kiều là “đầu thai”, chuyển thế của một hòa thượng sư tổ bên Trung Quốc. Chuyện kể rằng, năm cụ Kiều 47 tuổi, khi đó đang giữ chức Thừa chỉ công bộ hữu thị lang thì được sung làm phó sứ đi Bắc quốc, năm Vĩnh Hựu thứ ba triều Lê (1738). Sau hai năm công cán ở xứ người, đoàn sứ bộ của ta đã hoàn thành sứ mệnh và theo lệnh trở về Thăng Long. Trên đường trở về, đoàn sứ bộ dừng nghỉ chân tại Quý Châu, Trung Quốc. Quan lại địa phương ở đây thấy đoàn ngoại giao của An Nam trên đường về nước thì tiếp đón rất chu đáo. Ngoài thiết yến tiệc còn mời đoàn đi tham quan những thắng cảnh trong vùng.


Chiều hôm ấy, cụ Lê Hữu Kiều khi đi du ngoạn quanh vùng thì gặp một ngôi chùa cổ có phong cảnh rất u tịch nên tò mò muốn ghé vào thăm. Khi vào đến nơi, cụ thấy không gian nơi đây thoáng đãng, cây cỏ bát ngát, cửa thiền lộng lẫy nguy nga. Vị sư trụ trì chùa này cùng đoàn chư tăng đón tiếp rất thành kính và chu đáo. Khi đi tham quan xung quanh ngôi chùa, nhìn thấy mọi nơi đều sạch sẽ phong quang và ngăn nắp, cây cảnh, giò lan, khóm trúc đều như mới được chăm sóc cắt tỉa thì cụ Kiều tỏ ra rất thích thú và ngỏ lời khen ngợi.


Sư trụ trì chùa này nghe xong thì chắp tay mà thưa rằng: “Tối qua bần tăng vừa nằm chợp mắt thì thấy Đức Phật báo cho biết rằng, ngày mai sẽ có hòa thượng sư tổ về thăm chùa nên nhà chùa cần phải quét dọn sạch sẽ. Tỉnh dậy, bần tăng đã cho chúng đệ tử trong chùa quét dọn, chuẩn bị mọi thứ để nghênh tiếp vị hòa thượng sư tổ đó. Thế nhưng, chúng tôi chờ từ sáng mà không thấy ai tới, mãi bây giờ đã xế chiều mới thấy võng lọng của quý quan hạ cố. Thật là vinh dự cho chúng tôi và chắc là ứng vào lời Phật tổ đã báo cho biết trước vậy”.


Cụ Kiều nghe vậy thì lấy làm ngạc nhiên, không hiểu sự việc thế nào. Tuổi trẻ cụ vốn là người ham chơi, tính tình lại hiếu thắng và đặc biệt rất ghét đạo Phật. Bởi thế, nghe vị sư trụ trì nói vậy thì tính tò mò lại càng nổi lên. Sau khi dâng hương lễ Phật xong, cụ xuống thăm nhà tổ và đi vãn cảnh xung quanh chùa. Khi đến một ngọn tháp cao to, cụ Kiều đọc bia ghi trong tháp thì giật mình thấy tên hiệu của vị sư tổ chùa này là Tốn Trai, trùng với tên hiệu của mình. Đọc kỹ nữa thì thấy tên húy cũng giống y hệt mình là Lê Hữu Kiều. Liên hệ với câu chuyện mà sư trụ trì vừa kể với sự việc trùng hợp tên hiệu một cách lạ lùng này, cụ Kiều nghĩ mãi mà không thể luận ra được những lẽ huyền bí bên trong đó như thế nào. Liệu mình có đúng là “đầu thai”, chuyển thế của vị sư thờ ở trong tháp kia không?


Không biết có phải vì lý do này hay không mà khi về nước, từ một người bài xích đạo Phật, cụ Kiều quay sang nghiên cứu những giáo lý đạo Phật và lập một cơ sở chuyên giảng đạo Phật. Cụ Kiều ngay khi còn sống đã cho tạc tượng mình với y phục như một nhà tu hành, nét mặt thanh tú, chòm râu lưa thưa, đôi mắt hiền từ, trên đầu đội khăn nhiễu màu tím quấn hình chữ nhân, mình mặc chiếc áo dài màu nâu, xổ vắt chéo kiểu áo nhà chùa chứ không mặc áo mão, cân đai kiểu triều phục. Sau khi cụ mất, bức tượng ấy được đặt trong khán thờ, trước khán thờ có khắc hai chữ Tốn Trai thiếp vàng. Hàng năm, cứ ngày 12 tháng Giêng là cả tổng làm lễ tế xuân ở nhà thờ cụ rất linh đình.


Tuy nhiên, vẫn theo ông Khoát thì khi cuộc kháng chiến chống giặc Pháp diễn ra, nhà thờ cụ Kiều trở thành nơi trú ẩn của Việt Minh và du kích kháng chiến. Họ đã giấu tài liệu truyền đơn trong khán thờ dưới tượng cụ. Bởi thế, khi bọn giặc Pháp càn quét tìm thấy, chúng đã sai lính chất rơm rạ vào nhà thờ rồi châm lửa đốt. Toàn bộ hai lớp nhà thờ cùng tượng thờ với bao hoành phi, câu đối và đồ tế khí đã tồn tại mấy trăm năm phút chốc trở thành tro bụi, không còn lưu giữ được chút gì. Nhà thờ cụ Kiều hiện nay mới được xây dựng lại bằng gạch mà thôi.


Cụ Lê Hữu Kiều đã gặp được một “chân nhân”


Phạm Đình Hổ viết về người mà cụ Lê Hữu Kiều đã rất muốn bái làm thầy như sau: “Nếu chẳng có lời khuyên của Phạm Viên Chân Nhân thì ắt là Lê Hữu Kiều chẳng thể nào qua cầu khoa cử để được hưởng vinh hiển suốt một đời. Mới hay, Phạm Viên Chân Nhân quả đúng là“chân nhân”!”.


Phạm Thiệu


www.nguoiduatin.vn


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hãy để Nga được là Nga - Shlomo Ben-Ami 21.05.2018
Đảng cộng sản có thể tồn tại bao lâu nữa ở Trung Quốc? - Tư liệu sưu tầm 18.05.2018
Vần đề Đảng cộng sản trong Hiến pháp Trung Quốc - Hồ Anh Hải 18.05.2018
17/05/1970: Hải trình chứng minh người châu Phi cổ đại từng tới châu Mỹ - Tư liệu sưu tầm 17.05.2018
Krill oil: Nguồn dinh dưỡng quý giá nhất Nam Cực - Tư liệu sưu tầm 15.05.2018
Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn - Tư liệu sưu tầm 14.05.2018
Sông Đồng Nai - Tư liệu 09.05.2018
07/05/1960: Brezhnev trở thành Chủ tịch Liên Xô - Tư liệu sưu tầm 07.05.2018
Vài nét về tôm sú và tôm thẻ chân trắng, cách nhận biết tôm biển và tôm nuôi - Tư liệu sưu tầm 07.05.2018
Hawaii - Tiểu bang của Mỹ - Tư liệu 07.05.2018
xem thêm »