tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19358268
18.05.2017
Vũ Bằng
Những cây cười tiền chiến (6)



X. Văn cười cợt sau khi “rinh tê” về Hà Nội


Chiến tranh lan rộng từ thủ đô ra các tỉnh làm cho nhân dân Việt Nam ở Bắc bị thất điên bát đảo trong mấy năm trời. Có người chịu đựng được túng thiếu, đói rét, bom đạn, nhưng cũng có nhiều người khác vì hoàn cảnh, vì sợ hãi, vì không chịu đựng được sự hy sinh hơn nữa, phải trở về thành để nhờ thực dân Pháp và chính quyền quốc gia che chở.


Đa số những người trí thức về lúc đó đều thấy mình xấu hổ, nhục nhã, nhưng các bà các cô thì tương đối thấy yên thân hơn.


Ngoài ra, lại còn một số phụ nữ khác tương đối lấy làm sung sướng vì họ có dịp làm tiền và “tậu” được dăm bảy ông nhân tình người Pháp sẵn sàng cho họ cả tình lẫn tiền như các ông người Mỹ “lơn” các em nhỏ Việt Nam bây giờ.


Tôi còn nhớ có một hôm ra bưu điện lãnh một cái ngân phiếu của Hiền Sĩ, chủ báo Việt gian chính cống là tờ “Phục Hưng” gửi trả bút phí về tin tức và bài vở do tôi cung cấp. Các ghi-xê lãnh tiền chật ních người. Cùng đứng đợi với một hai người bạn quen, chúng tôi nói chuyện làm ăn sinh sống, lan man ra đến những chuyện vụn trong thời kỳ tản cư thì, chướng ách làm sao, ở bên cạnh có một “me” cứ đứng nói toang toang lên với ông công chức bưu điện, giơ chân giơ tay ra làm hiệu rồi nhiều lúc không vì lý do gì hết, cười sằng sặc lên, cười bò lăn bò càng ra, cười y như thể có một trăm bàn tay bí mật cù vào nách làm cho nhột không tài nào chịu nổi.


Một anh bạn tôi thấy thế tức quá, đứng trố mắt ra nhìn. Rồi bỏ phăng cả lịch sự, xã giao, anh tiến lại gần “me” đó, đập vào mông một cái - tuy là không hề quen biết bao giờ - không cười, bảo “me” nọ như là vợ ở nhà:


- Đồ khỉ! Tây nó đánh đồng bào mình chết cha chết mẹ đi, bộ sướng lắm sao mà còn cười ha hả?


Về sau này, ngồi nghĩ lại câu nói đó, tôi cảm thấy đó là kết tinh tế nhị và đầy đủ những xúc cảm và uất ức tiềm tàng trong lòng người đàn ông “rinh tê” về thành. Người nào người nấy lo làm lo ăn hàng ngày, nhưng trong thâm tâm đa số đều buồn rười rượi và cảm thấy nhục nhã mông mênh… Nhưng chúng ta đừng tưởng như thế mà tinh thần cười cợt, phúng thế đã chết trong văn chương Việt Nam lúc đó.


Văn chương trào phúng vẫn phát triển như thường dưới hai khía cạnh: công khai và truyền khẩu. Nói một cách tổng quát, trọng tâm của các văn thơ trào phúng lúc bấy giờ nhằm vào mấy mục tiêu sau: giễu Pháp, giễu chánh phủ thân Pháp, giễu bọn người liếm gót, đón gió, bất kể luân thường đạo lý, giễu bọn gian thương tích trữ đầu cơ sống trên xương máu của đồng bào đói khổ. Nói cho thực, chế độ báo chí của Pháp vẫn rộng rãi, cởi mở hơn của Nhật nên các bài “chửi đổng”, chửi vu vơ vẫn được đăng tải trên báo mà nhà báo không bị lôi thôi mấy. Tôi còn nhớ mấy bài sau đây đăng trên báo Tiếng Việt của Bùi Đình, trụ sở ở 45 Hàng Bát Đàn, Hà Nội.


TIỀN


Thế kỷ hai mươi thế kỷ tiền,


Có tiền con cú cũng thành tiên.


Tiểu nhân lắm bạc, đời khen giỏi,


Quân tử không xìn, nó bảo điên.


Ông xuất vốn kia mua sự nghiệp,


Bà chìa của nọ đổi nhân duyên.


Than ôi, nghĩa cả ngồi trong két,


Thế kỷ hai mươi thế kỷ tiền!


BỐ KHỔNG ÔI!


Bố Khổng đâu rồi, bố biết chăng?


Bây giờ thế sự đến lăng nhăng.


Giở giời tôm tép lên ngôi cụ,


Trái sóng kình nghê xuống cấp thằng.


Một lũ gian tham no phễnh bụng,


Mấy chàng quân tử đói nhe răng.


Thánh kinh lủi thủi về Đông hộ,


Bố Khổng đâu rồi, bố biết chăng?


Tiêu biểu cho những nhà văn thơ trào phúng trong thời kỳ này là Trương Linh Tử, tên thật là Đỗ Hồng Nghi, tác giả hai bài thơ trên kia. Còn tên nữa là Thánh Sống, Hoàng Ly, tác giả nhiều tiểu thuyết mạo hiểm, ái tình, phiêu lưu, anh là người đầu tiên đã mở một mục trào phúng mới trên báo Liên Hiệp: mục “Vấn kế”. Nguyên báo chí từ Tiểu Thuyết Thứ Bảy vẫn có một mục kêu là “Biết ai tâm sự” nhằm mục đích “gỡ rối tơ lòng” cho độc giả bốn phương, Hoàng Ly bèn nghĩ ra cách trào phúng hóa mục đó, đặt ra câu hỏi rồi trả lời quấy với một tinh thần phúng thế. Mục “Vấn kế” đã có một hồi làm cho báo Liên Hiệp thêm độc giả.


Đây là hai kiểu mẫu “Vấn kế” mà chúng tôi sưu tập được, một bằng văn vần và một bằng văn xuôi:


VẤN KẾ


Trả lời rất xuôi tai và rất ngược tai những câu hỏi của bạn đọc xa gần gửi tới.


HỎI:


Nghe đồn Thánh làm ăn khấm khớ,


Nghiệp báo chương bơ sữa hàng ngày.


Bao nhiêu thiếu nữ ngất ngây,


Những là trộm ước thầm say duyên vàng.


Trí quả quyết đăng đàn ngôn luận,


Vung bút cùn mai ẩn bấy lâu.


Thánh mà hạ cố đến nhau,


Thử xem tài tớ rồi thâu tớ về.


Cùng Thánh Sống tớ thề kết bạn,


Đem bánh Tây rửa hận dạ dày,


Nên chăng, Thánh bảo thằng này!


TRẢ LỜI:


Về đây mang tiếng sữa bơ,


Thực tình bản Thánh rau dưa tối ngày.


Chú kia ăn nói rõ hay


Thánh nào lại xực bánh Tây của đời?


Nói ra sợ chúng bạn cười,


Lương ông bằng nửa lương người xích lô.


Lấy gì mà sữa mà bơ?


Lấy gì mà để người mơ duyên vàng?


Mấy câu nhắn nhủ anh chàng,


Có gan tịch cốc đăng đàn, lại đây!


Sớm chiều nói mặn ăn chay,


Bút cùn dở tỉnh dở say với đời!


Nói cha chú thích chú cười,


Ở đây chú báo biết người tài hoa.


HỎI:


Kính gửi cụ Thánh Sống,


Thưa Thánh, cháu nay đã được mười chín tuổi, nhưng việc gì cũng hay thắc mắc vẩn vơ, dám xin Thánh vui lòng chỉ dạy:


1. Không hiểu sao, tiếng Pháp chỉ có một động từ aimer, tiếng Anh likelove, nhưng tiếng Việt lại có đến bốn chữ: yêu, thương, si . Vậy thưa Thánh, phải chăng tiếng mình giàu nhất thế giới mà sao vẫn có kẻ dám chê tiếng Việt nghèo nàn?


2. Nhưng chỉ vì tiếng ta giàu quá nên cháu đã đôi lần băn khoăn thắc mắc không hiểu bốn chữ trên có đồng nghĩa với nhau không, hay khác nhau thì khác nhau như thế nào? Xin Thánh ra ân giảng hộ.


Sở dĩ cháu phiền đến Thánh là vì có một nhà bói toán đoán rằng: cái “điệu” cháu chứng tỏ cháu đã yêu rồi. Riêng cháu không hiểu yêu là sao nên cháu cũng không biết mình đã yêu chưa nữa. Cháu cứ tấm tức một mình vì hỏi ai thì “hở môi ra cũng thẹn thùng” mà chắc gì họ đã giải đáp cho một cách tài tình như Thánh. Dám xin Thánh Sống giáng bút, cháu đây đa tạ vô vàn.


Nay kính


N.H.


TRẢ LỜI:


Ơ kìa! Thật vậy sao? Ai dám bảo tiếng Giao Chỉ nhà ta nghèo nhỉ?


Thôi! Chắc bà con “đùa nhả” chơi Thánh Sống rồi! Này! Bảo giùm bà con đừng có mà ấm ớ cướp nghề quạt mo của Thánh, Thánh kiện cho một phát đòi bồi thường bạc triệu như chơi đó!


Nói cho ngay, nếu bảo dân Giao Chỉ ta còn “hơi thiếu” một số ít tiếng chuyên môn về khoa học, phải đi vay tạm thiên hạ nghe còn được, chớ nói nghèo là điếc con ráy nhau rồi đấy! Ôi! Không nói phét, chớ tiếng Giao Chỉ chẳng những không nghèo mà lại giàu nhất thiên hạ, phong phú nhất thế giới, mà lại cũng lý thú, lâm ly nhất cõi hồng trần! Cứ gì tiếng “aimer”, còn khối tiếng khác, nguyên xưng hô, Tây Tàu bất quá chỉ “toi moi vous il, nị ngộ, ní úa…”. Còn ta thì ôi thôi, có mà hàng gánh danh từ, nào: mày, tao, cậu, tớ, ông, tôi, ngài, con, đại ca, tiểu đệ, tiên sinh, quý hữu, chú mày, đàng ấy, v.v… kể không hết. Cứ nguyên cái mục chửi nhau đã phong phú, rùng rợn nhất rồi: Nào “con khỉ con khẹc, con chó, thằng khốn nạn, tiên sư, tổ sư, bá ngọ, cha tiên nhân con đẻ mẹ”, cứ nguyên một “nàng” nổi đóa đứng trung bình tấn giữa đường, vận sơ sơ ba thành công lực mà “rủa dọa” chẻ làm tám, cạm làm tư địch thủ, lôi cả tam tứ ngũ đại nhau ra mà âu yếm tặng hàng mớ danh từ không có trong tự điển cũng đủ kinh hồn táng đởm mà phục lăn tiếng Giao Chỉ giàu số dách rồi!


Đố dân Âu, Á, Mỹ, Phi, Úc, ngũ đại châu địch nổi! Đã thế chữ nọ còn xọ nghĩa kia, ngược xuôi xuôi ngược ly kỳ, hỏi khắp bàn dân thiên hạ, có nước nào cự nổi các món “cụ trong dân”, “đẽo đá”, “lộn lèo”, “ba chè”, v.v… tấu một đàng quàng một nẻo, kẻ bị âu yếm tặng chỉ còn nước hộc máu mồm mà đếch kiện vào cái chỗ nào được. Chả thế mà, hồi sang chơi Sài Gòn, nhà thi hào Tagore khét danh xứ cary, khi đề cập thơ Hồ Xuân Hương và tiếng Giao Chỉ, phải lè lưỡi than rằng: Úi chao, hay ho độc đáo lý thú tế nhị đáng bạc triệu tò rờ là cái tiếng Giao Chỉ tơ rơ! Ông lại còn thách cả thế giới nhân danh ai dịch lọn nghĩa câu thơ có khoản “lộn lèo”, ông xin phủ phục lậy luôn ba lậy! Và dĩ nhiên, thế giới phải “lậy cả nón” hàng liền. Đủ biết tiếng nhà ta ghê lắm chứ! Yêu, thương, si, mê, mỗi tiếng có một nghĩa riêng, nhưng chung quy nó chỉ là “aimer”, còn chú mình muốn hỏi yêu là vì sao?


Than ôi! “Yêu là chết trong lòng một ít, vì mấy khi mà được yêu”, yêu là thấy một tô hủ tíu tưởng ngon lành xực vào xuýt xoa cay thấy mồ, mà vẫn cứ tiếp tục xơi hủ tiếu. Còn gì nữa! Muốn biết thế nào, cứ yêu đi hồi sau sẽ rõ!


Về sau này, những người lưu tâm đến diễn tiến của báo chí Việt Nam nhận rằng sau một thời kỳ đau khổ vì chiến tranh, đa số những người hồi cư đều chán nản, không thiết đọc bình luận, xã thuyết, bằng đọc tiểu thuyết và những chuyện vui nhộn, châm biếm - có lẽ tại người ta mệt mỏi và không hy vọng lắm ở guồng máy quốc gia.


Báo Liên Hiệp, có lẽ dò thấy điểm tâm lý đó của độc giả, mỗi ngày lại có một mục vui cười thâu thập những truyện tiếu lâm Việt Nam và ngoại quốc để cho độc giả xả hơi. Bên lề hai mục đó, tác giả tập sách này mở ra mục “Thiên hạ sự” - lấy tên của một tờ báo Nhật xuất bản ở Thái Lan - ký tên là Bút Nguyên Tử, viết một thời gian rồi sau nhường lại cho Bạch Diện Nguyễn Văn Cư tức Cư Điếc, nguyên tác giả truyện Kiều tân thời mà tôi đã nói ở mục trong những chương đầu loạt bài này!


Viết mục “phim” Thiên hạ sự, Bạch Diện tỏ ra một tài hoa dớ dẩn, quê mùa nhưng ngộ nghĩnh.


Đồng thời cũng vào thời kỳ này, người ta không thể quên được rằng Văn Tuyên, tức Soubrier Marcel, chủ nhiệm báo Liên Hiệp, đã làm được một công việc chưa ai làm về phương diện trào phúng: chêm vào mục “Bàn cờ thế giới”, tức là mục bàn chuyện năm châu, liên quan đến các biến chuyển quốc tế một tinh thần, một giọng văn trào phúng, cợt cười, vui vẻ.


Chính Văn Tuyên này là người mà lúc Pháp trở lại Đông Dương, sau Thế chiến thứ nhì, mỗi ngày đã viết một bài bình luận trên đài phát thanh Tự Do nói vào buổi tối, bình luận đâu ra đấy, nhưng làm cho người Việt Nam nghe thấy phải tức nổ ruột, muốn đập bể máy rađiô vì trong bài nào anh cũng xen vào những lời nhạo báng, giễu cợt, xỏ xiên rất ư phản động, nhưng chết một nỗi lại có duyên, thành thử ra thính giả tức muốn điên ruột mà cứ phải nghe cho đến hết.


Mặt khác, ngoài báo chí, văn trào phúng hoạt kê vào thời kỳ này còn phát triển trên nhiều phương diện khác. Thứ nhất là trong ngành xuất bản. Ở Hà Nội, nhà xuất bản lớn nhất lúc đó là Văn Hồng Thịnh, ở 112 phố Hàng Bông, lấy tên là nhà xuất bản Ngày Mai, in đủ các loại sách, từ sách diễn ca như Thạch Sanh, Tống Trân, Phạm Công - Cúc Hoa đến tiểu thuyết, sách giáo khoa cách nhi đồng… Nhưng theo chỗ biết của tôi - vì tôi có cộng tác với nhà xuất bản Ngày Mai của Đỗ Văn Hồng và nhà xuất bản Cây Thông của Đỗ Văn Giao - thì sách in bán chạy nhất lúc đó lại cũng vẫn là những sách vui cười, giễu cợt hay phúng thế.


Trong các sách này, tôi còn nhớ có những cuốn vui nhộn như Ba Giai Tú Xuất, Trạng Quỳnh, Tiếu lâm Việt Nam, Trạng Lợn và những cuốn dễ đọc, nhắm mục đích tiêu sầu như Thánh Địa lý Tả Ao, Chuột sa chĩnh gạo.


Sau hết, cũng nên nghĩ thêm một điểm này nữa: là không có lúc nào những bài hát nhái có tính cách trào lộng phổ biến rộng rãi như lúc này. Ở ngoài đường, trong quán rượu, ở tiệm cà phê, đâu đâu người ta cũng nghe thấy trẻ nhỏ - và cả người lớn lên cơn nữa - hát lên những câu như:


Con chó xồm cắn con chó lài…


hay:


Giò này giò nóng


Ai muốn mua thì xin cứ…


đồng thời với những câu đồng dao tỏ nỗi uất hận đối với Pháp thực dân làm cho đồng bào ta cơ khổ:


Con cò mà đậu cành tre,


Thằng Tây bắn súng cò què một chân.


Hôm sau ra chợ Đồng Xuân,


Chú khách mới hỏi sao chân cò què.


Cò rằng cò đứng bụi tre…


hay:


Cao su xanh tốt lạ đời,


Mỗi cây là một xác người công nhân.


hay nói về sự hợp tác với Pháp:


Tậu voi chung với đức ông,


Vừa phải đánh cồng, vừa phải hốt phân.


hay chế giễu người đàn bà con gái vì đồng tiền bán rẻ thân xác cho Tây:


Hỡi cô yếm thắm hoa tầm,


Chồng cô đi lính, cô nằm với ai?


Cô đẻ thằng bé con trai,


Chồng về chồng hỏi “con ai thế này?”.


 


Quần lĩnh bông, dây lưng rút hỏa hoàng (?)


Ngồi trên lầu ngó xuống tựa như nàng cảnh tiên…


Một mai bóng xế, trăng nghiêng,


Tây về xứ hắn, ôm duyên chờ già.


Hết đồ ăn bận vô ra,


Còn chi trang điểm phấn hoa lược cài.


Không biết làm cách gì để tiêu pha những ngày tháng buồn rầu trước cảnh hỗn loạn của phong hóa, đồi trụy của luân lý, một số nhà văn trào phúng lại học Hồ Xuân Hương trước tác những thơ văn, ví cuộc đời lúc ấy như “cái giống” và nhân tình thế sự như một cuộc “làm ái tình giữa đàn bà với đàn ông”.


Trong những thơ đó, có những bài không tiện chép ra đây như Bài phú bất lực chẳng hạn, nhưng có những bài rất thanh nhã mà nói một hiểu hai:


ĐÁNH GIẶC ĐÊM


Nửa đêm giờ Tí trống canh ba,


Vác súng lên thành tháo lũy ra.


Một tướng xông vào trong cửa ải,


Hai quân lăn lóc bãi san hà.


Quân ta giao chiến cùng quân nó,


Nước nó giao hòa với nước ta.


Đánh giặc xong rồi lau khí giới,


Thu binh hồi trại xếp can qua.


ĐÁ GÀ


Vui xuân nhằm tiết mồng ba,


Ông bà cao hứng bắt gà đá chơi.


Gà ông ngóng cổ gáy hơi,


Gà bà thủ bộ đợi thời gà ông.


Gà ông chém trúng cạnh mông,


Gà bà nổi giận ngậm cần gà ông.


Đá nhau một chập ướt lông,


Gà bà trúng cựa, gà ông gục cần.


VỊNH LÃO TƯỚNG QUẦN VỢT(1)


Càng già càng dẻo lại càng dai,


Lão tướng ra quân chẳng kém trai.


Đấu mấy hiệp liền không đuối sức,


Tranh ba ngày tiếp chửa mòn hơi.


Khi mau, khi chậm, khi mơn ngắn,


Lúc xuống, lúc lên, lúc thọc dài.


Gác lại, gác qua, phô đủ kiểu,


Mòn lông banh nỉ lão còn chơi.


 


Mòn lông banh nỉ lão còn chơi,


Cân sức cho nên chẳng dám lơi.


Chống đỡ gay go trào bọt mép,


Cò cưa dai dẳng toát mồ hôi.


Chơi trưa chưa phỉ còn chơi tối,


Đánh chiếc xong rồi lại đánh đôi.


Phút chốc mưa đâu tung xối xả,


Cuộc vui hào hứng tạm ngưng rồi.


 


Cuộc vui hào hứng tạm ngưng rồi,


Chốc nữa lau khô lão lại chơi.


Biểu diễn sân quen hay đáo để,


Nắn dồi banh mới sướng mê tơi.


Người trên ập xuống phều phào thở,


Kẻ dưới nâng lên khúc khích cười.


Đối thủ gặp nhau mùa nắng cực,


Quần lâu thấm mệt ngã lăn nhoài.


Ngoài những bài thơ trào phúng đăng báo hoặc truyền khẩu, trong suốt thời kỳ này không có một tờ báo hoàn toàn trào phúng nào ra đời. Phải đợi mãi đến tháng Sáu, tháng Bảy gì đó năm 1954 - nghĩa là trước khi có cuộc di cư vào trong Nam - người ta mới thấy một tờ báo nhỏ, bốn trang, tên là Vịt chào đời. Người ta bảo rằng báo ấy là của các tay đàn em của tổng trấn Nguyễn Hữu Trì đưa ra để phục vụ chánh trị của “đảng ta”, nhưng lúc ấy chánh quyền Việt Nam đang đi “chuyến tàu vét”, tiền cạn mất rồi nên chỉ ra được năm sáu số gì đó thì báo Vịt lìm lịm rồi “đi đứt” không ai buồn để ý.


Ngay lúc báo này ra, số người đoái tình đọc đến cũng không nhiều, một phần vì lúc ấy người ta lo bán nhà bán cửa để đi, còn bụng dạ nào mà cười cợt vui đùa nữa, một mặt cũng vì báo Vịt viết văn trào phúng kém, chửi ai thì đào ông bới cha lên, không tế nhị, cục cằn, cà lơ, không vì công ích mà chỉ lo hạ cá nhân khác xuống để “côông kêênh” người của “đảng ta” lên…. Báo Vịt chết một cách tủi nhục không được ai nói tới.


 


XI. CÓ BAO NHIÊU THỨ “TRÀO” VÀ


NHỮNG CÂY CƯỜI TIỀN CHIẾN ƯA “TRÀO” NÀO?


Đến đây, chúng tôi xin tạm chấm dứt bút ký về các cây cười tiền chiến. Chánh tình nước ta đi đến một khúc quẹo, bộ môn cười bước sang một giai đoạn khác đa diện hơn mà tương đối cũng chua chát hơn, quốc gia nhạo Việt Minh, Việt Minh chửi quốc gia. Thế rồi thì hội nghị Giơ Neo chia đôi đất nước, một triệu người di cư vào trong Nam chống Cộng, ông Ngô Đình Diệm lật ông Bảo Đại, diệt Bình Xuyên, đuổi thực dân Pháp về nước, lập Đệ nhất Cộng hòa. Ôi không biết bao nhiêu là biến cố, không biết bao nhiêu sự việc lúc cười lúc khóc, không biết bao nhiêu sâu bọ làm người, chó nhảy bàn độc. Cố nhiên những biến cố đó, những sự việc đó, những vụ “lăng nhăng”(1) đó là một kho đề tài vô tận cho những nhà văn phúng thế, viết không tài nào hết. Nhưng bởi vì những văn thơ trào lộng, trào phúng, trào cơ, trào sán, trào ma, trào kiểu đó không thuộc phạm vi loạt bài này - chỉ thu trong quỹ đạo tiền chiến - nên chúng tôi không bàn tới và mong rằng sau khi suy nghĩ, suy làm và nghiên cứu kỹ càng, chúng tôi sẽ viết tiếp sau này. Riêng về các cây cười tiền chiến, chúng tôi xin tạm ngừng nơi đây, mong rằng và ước ao rằng các bạn đọc đến đây cũng tạm cho là đủ để có một quan niệm về loại văn cười qua mấy giai đoạn lịch sử ta từ năm 1954 về trước.


CÓ BAO NHIÊU THỨ TRÀO?


Nói chung văn chương trào phúng ở nước ta không có một thời nào vắng bóng trong văn học sử. Từ trước 1900, tức là từ trước thời kỳ chữ quốc ngữ được phổ cập trong dân chúng, các nhà văn nhà thơ ta đã chú ý và đã sáng tác rất nhiều thơ trào phúng. Những nhà thơ như Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Yên Đổ, Trọng Quỳnh, v.v… là những bậc thầy về trào phúng. Phan Kế Bính, Dương Bá Trạc, Phạm Duy Tốn là những người kế tiếp. Cho đến bây giờ các nhà văn nhà thơ trào phúng mỗi ngày mỗi nhiều hơn và thơ văn trào phúng lại được nhiều màu sắc hơn. Người nọ kế tiếp người kia xây dựng một nền văn chương trào phúng phồn thịnh không bao giờ nghỉ, không bao giờ ngừng. Đó là một đặc điểm đáng quý của văn chương ta vậy. Có lẽ vì thấy như thế và nghĩ như thế cho nên có người đã nói: dân tộc hết bị Tàu đô hộ đến Tây cai trị… chiến đấu khổ cực để giành lấy quyền sống nhưng lúc nào cũng can cường, cũng cứ cười và tuy có khóc nhưng cười nhiều hơn khóc.


Thực vậy, người Việt Nam cười trong khi đất nước hòa bình, lại cười cả những khi chiến tranh, cười trong lúc yên ổn nhưng không quên cười những lúc gian nguy, cười trong lúc no nhưng đói cũng cứ cười, sắp chết cũng cười và cười luôn vào mặt những kẻ giàu tiền, giàu của, giàu thế lực, giàu phương tiện, giàu võ khí.


Bởi vì cười trăm ngàn lối trong trăm nghìn trường hợp khác nhau, với trăm nghìn tình trạng có lệ, phức tạp, nên văn cười của ta cũng có nhiều thể, nhiều lối đặc biệt mà chúng tôi muốn rút tỉa một kết luận trong lúc kết thúc loạt bài này.


Văn cười, nói một cách khác thường, được gọi là văn trào phúng. Sự thực, trào phúng không đủ để làm cái tiếng cười trong văn học sử nước ta. Người Âu Mỹ có hai thứ văn cười: văn châm biếm (satire) và văn trào lộng (humouristique). Qua những văn thơ cười cợt của các nhà văn tiền chiến, chúng tôi nghĩ rằng riêng hai chữ “trào phúng”, “trào lộng” không đủ để nói lên những màu sắc kỳ lạ huyền ảo, vô cùng biến hóa đơn.


Chữ Nho, trào là cười nhạo, phúng là mượn lời bóng bẩy để cảm hóa người. Trào phúng thế là dùng một thứ văn bóng bẩy, nói ví để cười nhạo, nhằm mục đích cảm hóa người ta.


Trào lộng cũng là cười nhạo, nhưng không ví von, cười chơi thôi mà không ác.


Sự thực, “trào phúng” và “trào lộng” không đủ xem qua các văn xuôi và thơ văn cười tiền chiến, mà văn cười của thời kỳ tiền chiến lắm khi còn có tính cách “trào sán”, “trào tiếu”, “trào cơ”, “trào mạ”.


“Trào sán” là thế nào? Trào sán là cười nhạo, vô hại, nếu có thể dùng một tiếng khác tương đương để nói thì là tailler. “Trào tiếu” cũng thế. Nhưng “trào cơ” thì khác: trong cái “trào cơ” người ta thấy có cái ý nói khích. Còn “trào mạ” thì ngụ ít cái cười mà có ý nặng về mặt chửi bới, chửi rủa, thóa mạ người ta.


Nếu cần phải xếp thứ tự của các loại trào đó, chúng tôi tạm xếp hạng như sau, tùy theo sự nguy hiểm của mỗi loại trào (bắt đầu bằng chữ trào ít nguy hiểm nhất):


1. Trào lộng (cười chơi, đùa cợt).


2. Trào phúng (có tính cách khuyên răn).


3. Trào cơ (ý nói khích).


4. Trào tiếu (cười nhạo, tailler).


5. Trào sán (cũng như trên).


6. Trào mạ (ý chửi xỏ, thóa mạ).


Bài thơ của Trọng Huỳnh ghẹo cô hàng nước là một điển hình thơ trào lộng (bắt chước giọng Nghệ An):


Bán hàng nay cô đã mấy tuổi?


Nước cộ còn nóng hay đã nguội?


Lủng lẳng trên cao dăm nắm nẹm,


Lơ thơ dưới móc một buồng chuồi.


Bánh dang, bánh dầy đều soa mợ,


Khoai ngứa, khoai lang cũng chấm muồi!


Ăn uống xong rồi tiền chửa đụ,


Biết nhau cho chịu một vài buồi.


Để làm thí dụ thơ trào phúng, tôi muốn kể bài Lời vợ người hát chèo (Ưu ế phụ từ) của Tam Nguyên Yên Đổ:


Xóm bên Đông có phường chèo trọ,


Đang nửa đêm gọi vợ chuyện trò.


Rằng: “Ta thường làm quan to,


Sao người coi ta chẳng ra trò trống chi?”.


Vợ cả giận mắng đi mắng lại:


“Tuổi đã già sao dại như… gì!


Đêm hôm ai chẳng biết chi,


Người như biết đến thiếp thì hổ thay!


Đời có hai điều này nên sợ:


Sống chết người quyền ở tại tay;


Thế mà chàng đã chẳng hay,


Còn ai sợ đến phường này nữa chăng?


Vả chàng vẫn lăng nhăng túng kiết,


Sớm hôm chèo kiếm chác qua thì,


Tướng chèo còn chẳng ra gì,


Quan chèo đi nữa khác chi thằng hề!”.


Theo tôi, bài Than nghèo của Tú Xương là một thí dụ “trào cơ”:


Cái khó theo nhau mãi thế thôi,


Có ai hay chỉ một mình tôi?


Bạc đâu ra miệng mà mong được,


Tiền chửa vào tay đã hết rồi!


Van nợ lắm khi tràn nước mắt,


Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi.


Biết thân thuở trước đi làm quách,


Chẳng ký, không thông cũng cậu bồi!


Hai bài thơ sau đây có thể coi là thí dụ “trào tiếu” và “trào sán”:


GIỄU QUAN ĐỀ


Của Ba Giai viết dưới triều Tự Đức, lúc ấy Pháp chiếm Hà Nội: Quan án sát chạy trốn, đề đốc sợ chết chạy trốn luôn, không anh nào dám chết để chống Pháp:


Nhắc câu Thái Lỉnh với hồng mao,


Chí khí quan Đề khoảng khoái sao!


Thắt cổ, chân buông lê xuống đất,


Trẫm mình, đầu ngóc nghễnh lên cao.


Sờ lưng thuốc độc rơi đâu mất,


Lấy hốt làm gươm thích chẳng vào!


Tứ bất tử rồi, ngơ ngẩn mãi,


Hỏi thăm quan án chạy nơi nào?


BÀI PHÚ THẦY ĐỒ HỌC QUỐC NGỮ ĐỂ ĐI THI


Của Phạm Ứng Thuần làm ra để giễu những người theo Pháp ngay từ buổi đầu, học để làm đầy tớ Pháp:


Này cu-a-cua, này ô-c-ốc,


Vác lều vào trường, cắp sách đi học.


Văn chương mạt kiếp, thằng bé hết hơi,


Âu, Á chuyện đời, bác đồ tịch ngóc.


Thầy khóa khom lưng kiếm gạo, mặt tầy lệch, cổ tầy gang,


Ông Tây đá đít lấy tiền, câm như hến, nín như thóc.


Nguyên phù thầy chỉ vì thầy đã:


Nghênh nghênh ngang ngang,


Dở dở dang dang,


Râu ria một nạm,


Văn sách ba trường.


Thầy chị mặt hề nhẵn hàng thịt,


Thầy chị văn thề xế tái vương…


Thi thì một hỏng một vào o-a-c-h oách,


Tính lại nụa gàn nứa dở ư-ơ-n-g ương!


Ư thị hồ


Thầy nằm thầy kêu, thầy ngồi thầy gõ,


Nách cắp vở đồ, tay xách cái lọ.


Học trò kia kìa, quan trường đó nọ,


Thằng vào thằng ra, văn dễ văn khó.


Thằng thì kêu trời, thằng thì chửi chó,


Hỏi rằng xong chửa? L-a-m lam huyền làm.


Hỏi rằng nhục không? C-o-co-sắc có.


Hỏi rằng giám trường là ai? Thưa rằng viên công sứ Đạc (Darles).


Hỏi rằng quan trường là ai? Thưa rằng mấy ông trạ gạc(1).


Thôi thì: Cũng chẳng đi học, cũng chẳng đi thi,


Thi cũng không đỗ, đỗ cũng không đi.


Túy lúy càn khôn hề, rượu thầy đánh tì tì,


Khoan hòa vũ trụ hề, mồm thầy cười khì khì.



Thôi tôi lậy thầy trăm lậy, thầy xếp bút nghiên, lều chõng, thầy đi về.


Đến “trào mạ” thì… nhất bởi vì nó là cả trào phúng, trào cơ, tráo sán, trào lộng, trào tiếu nhưng lại gia thêm một chất chửi bởi, thóa mạ, lăng nhục người bị đem ra làm đầu đề cho câu chuyện.


Điển hình cho loại cười này, chúng ta có thể đơn cử những bài chửi thực dân, chửi quan lại, chửi những nhà “tu hú”, chửi tham nhũng, chửi độc tài như mấy bài sau đây:


ÔNG PHỦ CÕNG BÀ ĐẦM


Thằng cha Phủ Vĩnh thế mà thâm,


Nịnh bố cu Tây, cõng me Đầm.


Đôi vú áp vai, đầu nghển nghển,


Hai tay bưng đít, mặt hầm hầm.


Phen này cứng cánh nhờ ơn tổ,


Lúc ấy sa chân chết bỏ bầm.


Chẳng kể mề đay cùng tưởng lục,


Ngửi tay, tủm tỉm, miệng cười thầm.


hay:


CHÓ


Lũ mày chẳng phải giống nhà đâu,


Mẹ Nhật, cha Tây hoặc bố Tàu.


Nịnh kẻ giàu sang, đuôi vắt vắt,


Dọa người khốn khó, miệng gâu gâu.


Bơ thừa sữa cặn mày xơi thích,


Anh ruột em nhà có nể đâu.


Liệu xác: ngày mai người thắng vật,


Rượu, riềng, mi sẽ hưởng công đầu.


HÁT XƯỚNG


Hát xướng làm chi hỡi các quan,


Trời làm hạn hán khổ trăm đàng.


Nước về Phú Lãng lương tiền hậu,


Dân mắc cu ly cốt nhục tàn.


Ngán nỗi con người mà chó ngựa,


Ngờ đâu địa ngục ở nhân gian!


Kẻ nghèo nước mắt lau không ráo,


Hát xướng làm chi hỡi các quan!


Nhiều khi thơ trào mạ là cả một bài chửi tục, như hàng tôm hàng cá chửi nhau. Tôi còn nhớ hai câu điển hình cho loại thơ này đăng trên báo Tự Do (ký bút hiệu Trần Đăng, bút hiệu của một nhà thơ quen biết) chửi một người họ Đào:


Đào là đào tổ đào tiên,


Đào cha, đào mẹ, đào tiền, đào xu…


nghe mà rởn tóc gáy, sợ cho cái văn trào mạ.


CÁC CÂY CƯỜI TIỀN CHIẾN ƯA “TRÀO” NÀO?


Nói chung, các cây cười tiền chiến thường ưa trào lộng, trào phúng, trào cơ, trào tiếu, trào sán. Nhiều khi trong một bài mà pha hai ba lối “trào”, nhưng tựu trung trào mạ, trừ phi uất hận lắm mới dùng đến, mà ví dụ có trào mạ thì những danh từ dùng trong thơ văn cũng cân nhắc và chọn lọc để cho không đến nỗi nặng nề quá mức.


Thời thế đổi thay, biến thiên dồn dập đến với đất nước này, thành thử lòng người cũng kém bình tĩnh; do đó, từ sau Hiệp định Genève, thơ trào cơ, trào phúng, trào tiếu, trào sán, trào lộng ít đi, nhưng trái lại, thơ trào mạ lại nhiều hơn. Đó là thời kỳ kháng chiến chống Pháp, vì nhu cầu của tuyên truyền, thơ trào phúng nào cũng có chất trào mạ. Sau đó là thời kỳ ông Ngô Đình Diệm lật ông Bảo Đại, sự xáo trộn diễn ra hàng ngày, bên này giễu bên kia, bên kia chê bên này, thành thử ra nhà văn trào phúng không giữ được lời lẽ nữa, thơ cũng như văn đều có tính cách chửi cho “sướng miệng”.


Dẫu sao, văn cười, dù bất cứ thuộc loại “trào” nào, cũng là một loại văn đặc biệt dễ làm cho người ta ưa và dễ đi sâu vào tâm hồn người đọc hơn cả các loại văn khác trong văn chương kim cổ.


Có lẽ vì thế tờ báo nào muốn cho phổ cập cũng có mục “phim”, vui cười, nói phiếm, thơ hài hước, thơ cay, thơ chua… chế giễu cái này, cái nọ. Thường thường truyện tiếu lâm, những bài thơ trào phúng lại thường được người ta nhớ lâu và kể lại cho nhau nghe để người nọ truyền người kia, y như thể càng nhiều người biết thì người đọc càng thích thú.


Chính vì lẽ đó, trong thời bình cũng như trong thời chiến, văn cười có một tác dụng sâu rộng hơn các loại văn khác. Đả kích một chế độ, một nhân vật, một thói tục, một bài văn cười lắm khi công hiệu hơn cả trăm bài bình luận. Có ai từng kháng chiến đã thấy hồi chống Pháp, người dân, qua những hài kịch, những bài vè, những phong dao tục ngữ, đả kích Bảo Đại, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu với một thái độ khinh bạc đến chừng nào. Họ thành ra những người lố bịch, tức cười, kỳ lạ, không thể nào “ngửi” được, không thể nào “thương” nổi. “Cái lố bịch giết người ta” là thế.


Một thí dụ khác: cũng là chống Cộng sản, đả kích Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, đài phát thanh quốc gia ở Hà Nội hồi 1949-1950 viết và nói không biết bao nhiêu bài bình luận chán như cơm nếp nát, có ai buồn nghe đâu? Nhưng đài phát thanh Tự Do của Pháp mỗi ngày chỉ có một bài nghe uất không chịu được mà người ta vẫn cứ vặn máy để nghe “xem hôm nay nó nói gì”. Ấy là vì Văn Tuyên, tức Soubrier Marcel, đã khéo pha vào bài bình luận những câu cười cợt, trào lộng, trào mạ làm cho người nghe nhẹ nhõm, buồn cười, không nặng chình chịch đến làm người nghe phải nhức đầu buồn ngủ.


Biết vậy nhưng người ta không làm được, có lẽ vì văn trào phúng không phải là thứ văn “ở tầm tay” của bất cứ nhà văn, nhà báo nào. Viết văn cười đã khó, khó hơn là làm thế nào cho có duyên, chứ cứ cố nặn ra văn cười đã không làm được cho người ta cười mà bí quá lại chửi bứa chửi bừa đi thì tức là “ám sát” văn cười vậy.


Vì biết như thế, các nhà văn trào phúng hiện nay, qua những mục “phim”, nói phiếm, qua các hài kịch, thơ ca, các tùy bút vui…, đã tỏ ra thận trọng vô cùng.


Đó là một điểm hay, hứa hẹn một chân trời rộng và sáng chói cho loại văn trào phúng mà chúng tôi sẽ kiểm điểm một ngày gần đây.


 


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







(1) Có người bảo bài thơ này của ông Hương Thủy.




(1) Theo thơ của Tản Đà:


Trời làm một trận lăng nhăng,


Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.




(1) Trạ gạc: tên gọi người dân Nghệ Tĩnh.




bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »