tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22612412
Tiểu thuyết
20.04.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


Cho nên, khi anh Cả chết, anh Sáu cảm thấy ân hận vô cùng. Anh tự nhận tất cả lỗi về phần mình. Động quan anh Cả, anh khóc rống lên, quyết đưa anh Cả về tận nơi yên nghỉ cuối cùng ở Thi Phổ, một chiều hè hoang vắng, gió nồm gọi ai, vi vút trên cánh đồng. Đứng trên đường cái quan, anh nhìn đoàn người đi hạ huyệt qua xóm nhà tranh hoang phế, mảnh khăn trắng trên đầu anh tung bay, tất cả tràn ngập một không khí chết chóc, im vắng. Ông mặt trời đã từ từ rơi xuống đỉnh núi Dàng, chiếu cái bóng anh đổ xuống mặt đường, trên màu vàng nhạt của ánh chiều hấp hối.


Mang thêm cái tang anh Cả, về phần chàng, họa vô đơn chí.


Nhật báo Gió Nam bị ông Thiệu liên tục khủng bố, cứ ba, bốn số thì tịch thu một. Chàng bấm ngón tay, tirage 50.000, mỗi bổn tám trang, vị chi 100.000 tờ giấy. Mỗi tấn giấy, theo định lượng bấy giờ 43.000 tờ, cộng tiền nhuận bút, biên tập, in, mướn tòa soạn… Tổng trưởng Thông tin và chiêu hồi Hoàng Đức Nhã khỏi cần đóng cửa mà cho tịch thu, lấy cớ có những bài luận điệu Cộng sản, nhất là những bài chính luận thường xuyên đòi hòa bình, chống tham nhũng, phê phán quân phiệt, tay sai ngoại bang, yêu cầu Thiệu phải ra đi, gần giống như những gì mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đưa ra bàn Hội nghị ở Paris.


Chỉ cần cấm phát hành mươi số trong một tháng thì đã đủ cho báo hoàn toàn sạt nghiệp về mặt tiền nong.


Nhất là sau khi anh Bảy mới mở thêm mục mới Nếu tôi là Tổng thống do anh đích thân phụ trách, chế giễu một cách cay độc chính quyền thối nát của Thiệu – Khiêm. Có lần, chúng đưa anh ra tòa. Rất may thời đó, theo luật, anh chỉ phải chịu án phạt một đồng bạc danh dự. Anh nói đùa: Danh dự của họ chưa đáng giá một đồng bạc. Mình chịu phạt như thế cũng là vinh quang cho họ lắm rồi. Nhưng, tất cả đều thấm đòn tịch thu: tiền hết, nợ giấy chồng chất. Tội nghiệp, thầy Huyền Diệu và Nhật Thường phải chạy đôn chạy đáo để nuôi tờ báo thoi thóp hàng ngày trước khi ngủm hẳn.


Chàng đang lo lắng thì anh Nguyễn Trọng Phu ở Đà Lạt xuống rủ lên đấy chơi nhân nghỉ hè. Anh lớn hơn chàng năm tuổi, đậu thành chung thời Pháp, hiện làm Trưởng ty Xã hội ở Phú Yên.


Năm sáu lăm, anh qua tuổi động viên mới dám soạn thi tú tài 1 ban C Nha Trang. Xong thi viết, anh về Tuy Hòa ngay. Bất ngờ, anh được chấm đỗ, không kịp có mặt để vào vấn đáp.


May sao, khóa đó chàng cũng đi chấm ban A và B ở đó. Chàng một mặt nói với ông Tôn Thất Tắc, chánh chủ khảo thông cảm hoàn cảnh công chức của anh nên hội đồng vẫn tổ chức lại cho mình anh kì thi miệng, một mặt đánh điện cho anh vào gấp.


Năm sau, xong Toàn phần, anh tiếp học lên đỗ Cử nhân Luật rồi thi vào Tham vụ Ngoại giao, sắp rời Đà Lạt để đi Hán Thành nhận nhiệm sở.


Mời chàng lên chơi, ý anh muốn thưởng công cho thằng em rể họ xa về cái việc rất nhỏ năm năm trước. Lần đầu tiên lên thủ phủ Tây nguyên, được đắm mình trong tiếng thông reo, chàng thấy lòng mình an tĩnh lạ thường, dù chỉ là trong mấy ngày.


Khí hậu ôn đới khiến anh giáo hò lơ Thi Phổ có cảm giác mình đang được đến châu Âu mà hồi giờ chàng chỉ biết qua sách vở. Buổi sáng sương mù như hơi thở của đá rịn ra từ những sườn đồi, nhà ai thấp thoáng. Một chút hơi lạnh ướp hương những đóa hồng nhung rực rỡ từng quen với giá rét bên hè.


Sau bữa điểm tâm sớm, anh Phu đưa chàng tới Đồi Cù, dặn chàng cứ thoải mái rong chơi. Phần anh đi làm, trưa về sẽ đến đón.


Chàng sung sướng hít thở không khí tươi mát của cao nguyên rồi cũng lên chiếc xe ngựa kiểu thời trung cổ dành cho khách du lịch đánh một vòng quanh đồi. Xong, chàng ra bãi cỏ xem biểu diễn máy bay vô tuyến điều khiển từ mặt đất, bấy giờ còn rất mới lạ.


Tại đây, chàng bắt gặp những cặp tình nhân, dắt nhau đi trên sườn đồi vắng vẻ ngoằn ngoèo, bước chân cố ý xệu xạo để có dịp ngả người vào nhau, đắm say mộng ảo. Lựa một chỗ không có bóng người, chàng tựa vào gốc thông già ngồi nghỉ. Được tiếng gió hát ru rì rào, chàng thiu thiu ngủ.


Bỗng chàng thấy có cụ già tóc râu bạc trắng, khoác áo rộng xanh, đội mũ cánh chuồn, dáng quắc thước, chống gậy đi đến. Cụ nhìn người trẻ tuổi đang ngủ trong giây lát rồi nhẹ nhàng vỗ đầu vào vai chàng:


Chào ông giáo! Ngủ ngon quá!


Chàng bối rối chắp tay, tự trấn tĩnh: Thưa cụ ở đâu lại?


Ông cụ chỉ vào gốc thông: Nhà lão đây, cây pơ mu đỏ này.


Chàng vụt tỉnh hẳn, trở nên nhanh trí: Cụ đích là Hoàng Thạch, Xích Tùng, ờ cũng đáng như gia nghiêm vẫn thường kính mộ và xưng tụng?


Cụ cười, có vẻ vừa lòng: Thông minh đấy. Nhưng lão người Việt NamRồi cất giọng cụ ngâm:


Ngồi buồn mà trách ông Xanh


Khi vui muốn khóc, buồn tanh lại cười.


Kiếp sau xin chớ làm người


Làm cây thông đứng giữa trời mà reo


Chàng phủ phục sụp lạy.


Uy Viễn Tướng công! Sao cháu lại có cái duyên may gặp Người?


Ông cụ đỡ chàng dậy: Sao không nói ngược lại? Sao ta lại có cái duyên gặp cháu?


Chàng hổ thẹn:Cháu chỉ là hậu bối vô danh tiểu tốt. Cháu xuất thân chỉ là một anh giáo hò lơ, quê mùa, tận nơi cùng cư nham huyệt Thi Phổ. Sánh sao được với tướng công, sử xanh còn ghi tạc, công đức lớn lao, thi ca quán thế?


Cụ lắc đầu:


Đừng nói vậy. Cháu cũng cử nhân xuất thân như ta, còn biết khoa học, nguyên tử của thế kỉ 20. Lại còn tiếng Tây… Ta thuộc về hàng cổ tích rồiCụ trầm ngâm, như nhớ về một quá khứ xa xôi:


Có lúc ta chỉ là một tên lính thú ở Quảng Ngãi…


Chàng vội vô phép ngắt lời cụ:


Cụ ơi! Chính cái lúc làm lính thú đó, cụ đã để tên trong lịch sử nước ta bằng một câu nói vượt không gian, thời gian: Khi làm tướng tôi không lấy làm vinh thì khi  làm lính tôi không lấy làm nhục. Người ta ở địa vị nào thì cốt phải làm tròn nhiệm vụ mình ở địa vị ấy.


Cụ vừa lắc đầu vừa khoát tay ra hiệu cho chàng đừng nói nữa:


Cháu không được tâng bốc ta như thế. Ta chúa ghét những đứa khen ngợi mình, làm cho con người khoái chí, trở thành tự cao, tự đại, biểu hiện đầu tiên của sự suy tàn nhân cách.


Chàng chắp tay vái cụ già:


Ông nội cháu ra đời bốn năm sau ngày cụ mất[1]. Cháu chỉ vào hàng cháu chít của cụ, đâu dám ngợi khen mà chỉ một lòng kính tính tiền nhân, một bậc tiên nhân mà đời sau coi như một mẫu mực về đời sống con người Việt Nam.


Rồi chàng nói như đang say sưa giảng bài cho học trò trên bục: Cụ đã bằng thể ca trù, một thể thơ rất đặc biệt của dân tộc ta, dạy rằng một đấng nam nhi, sinh ra trên đời, lúc còn trẻ phải chăm lo học hành, chưa ra làm việc, vẫn an nhiên tự tại với tất cả cái tri thức đó mà hiêu hiêu nhiên điếu vị canh sằn. Lao động nông nghiệp, nhưng là một công dân đầy trách nhiệm trong trật tự và phát triển xã hội ở thôn quê thời xưa:


Miền hương đảng đã khen rằng hiếu nghị


Đạo lập thân phải giữ lấy cương thường


Khí hạo nhiên chí đại chí cương


So chính khí đã đầy trong trời đất


Lúc vị ngộ hối tàng nơi bồng tất


Hiêu hiêu nhiên điếu vị canh sằn


Xe bồ luân dù chưa gặp Thang, Văn


Phù thế giáo một vài câu thanh nghị


Cầm Chính Đạo để tịch tà cự bí


Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên


Lúc được tuyển làm cán bộ, phải:


Đem tất cả sở tồn làm sở dụng


Trong lang miếu ra tài lương đống


Ngoài biên thùy vạch mũi can tương…


… Kinh luân khởi tâm thượng


Binh giáp tàng hung trung


Vũ trụ chi gian giai phận sự


Nam nhi đáo thử thị hùng…


Trả xong món nợ áo cơm cho cuộc đời, đến tuổi già thì về hưu chớ không tham quyền cố vị, theo Xích Tùng Tử và Hoàng Thạch Công, tiêu diêu nơi hàn cốc thanh sơn.


Và cụ không nói suông. Năm 1858, gần tám mươi tuổi, được tin Pháp tới bắn phá cửa Hàn, cụ còn dâng sớ xin đi tòng chinh. Vua Tự Đức đã phê: Trẫm không muốn nhọc lòng người lão thần. Và năm đó, cụ mất. Thế hệ của cháu, người ta quá kiêu căng, tự đánh giá quá cao mình. Có người còn tự cho rằng mình là cái rốn của vũ trụ và không ai thay thế được, cố bám lấy cái chức của mình cho tới chết.


Còn cụ, cụ khiêm nhường làm sao!


Cuộc đời cụ đẹp lạ thường. Lời thơ cụ viết bằng lối hát ả đào, với nghệ thuật xướng ca thật bình dân của đất nước, cả những người mù chữ cũng thuộc, đã được tiếng tơ điệu trúc truyền đời từ thành thị tới làng quê, chiếu sáng trong thanh sử như mặt trăng, mặt trời.


Nếu cơ trời vận nước nổi lên, tiền đồ tốt đẹp thì kẻ bất tài cơ hội, nịnh nọt điếu đóm, tham danh trọng lợi, phải được dạy cho học thuộc, để chúng tự gọi thức lương tâm mà thấy xấu hổ. Người quân tử được tỏ rạng, kẻ tiểu nhân bị diệt sạch, thì lo gì Tổ quốc ta không có một tương lai tươi sáng?


Cụ già lắng nghe chàng ca ngợi mình nhưng sắc mặt giờ đây thản nhiên, không lộ một chút gì tỏ vẻ mừng vui hay phiền muộn. Chàng thấy hình ảnh cụ nhòe dần, và cuối cùng, trước mắt mình, chàng chỉ thấy cây pơmu cổ thụ thân đỏ rực cực kì cao lớn, một thực vật đã trở thành vô cùng quý hiếm của nước ta. Cây lão tùng thân thẳng đuột như ngàn năm lá vẫn xanh, vươn tận trời xanh, dường như có thể nói chuyện với các vì sao, chịu được tuyết sương giá rét.


Ra, chàng đã nằm mơ. Chàng tự nhủ thầm: Cái bài thơ kì lạ xuất hiện trong văn học Việt Nam thế kỉ mười chín, lâu nay mình cứ ngờ ngợ, không khẳng định được là của ai. Nhưng nay, nếu mộng là thực, thì tác giả của nó phải đích là Nguyễn Công Trứ:


Ngồi buồn mà trách ông Xanh


Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười


Kiếp sau xin chớ làm người


Làm cây thông đứng giữa trời mà reo


Tiếng thông reo Đà Lạt đã giải được biết bao lo lắng của chàng. Về tới nhà anh Phu, vợ anh ấy đã hỏi chàng: Cậu đi đâu mà ra chiều vui vẻ thế? Mới lên đây có hai ngày, da dẻ đã hồng hào hẳn lên.


Chàng cả thẹn chống chế:Sách sinh học nói, con người càng lên ở độ cao thì lượng hồng huyết cầu trong máu tăng lên chị ạ. Mới rồi, ghé thăm chùa Linh Sơn, bất ngờ gặp mấy đứa học trò Chu Văn An, chúng nó mừng quá, chụp cho mấy tấm ảnh. Chị coi! Người đẹp bên hoa thược dược này.


Chị Đệ ngắm nghía cái vẻ mặt tươi rói của chàng, như nói với đứa em nhỏ của mình:


Cậu hợp với khí hậu Đà Lạt rồi, xin đổi lên đây đi.


Chàng mỉm cười nghĩ tới Thụy Vũ:


Đấy, em tính chọn bút hiệu mới là Thược Dược đó. Nhưng mà anh Phu thì sắp đi Seoul.


Chị vốn là người thật thà:


Ờ nhỉ!


Thế là chàng chuẩn bị về với Sài Gòn, Sài Gòn của trăm nỗi lo âu, suốt ngày chạy xe ngoài đường: soạn chấm bài, họp hành, viết báo, chạy tiền nhà in… Dù sao, cũng phải mua mấy ký dâu tây cho lũ nhỏ, artichaut cho bà xã và cho mình, mấy giò laieul, huệ đỏ, cũng không thể quên được những củ thược dược mà trồng kịp ra hoa trước Tết, nhón lấy vài cây đẹp nhất lén mang cho Thụy Vũ, người con gái không mấy đẹp, nhưng dày ấn tượng như một con bướm nhỏ cợt nhả, nhởn nhơ bay lượn trong lòng chàng.


Ra tới sân bây Liên Khang, chàng ồ lên một tiếng, chạy tới bắt tay vị đồng hành lớn tuổi, veston cà vạt cẩn thận, bác sĩ Phan Huy Quát mà với tư cách Tổng thư ký Vụ Hội đoàn Phật tử, chàng thỉnh thoảng gặp ở chùa Giác Minh của Thượng tọa Đức Nhuận:


Xin chào! Bác sĩ khỏe không?


Ông nhếch một nụ cười héo hắt, không che nổi những vết nhăn mà thời cuộc đã hằn sâu trên trán:


Chào giáo sư, vẫn lui tới Ấn Quang thường đấy chứ, các thầy lâu nay thế nào?


Chàng chắp hai tay trước ngực, nghiêng mình thi lễ, theo thói quen cha dạy từ hồi bé, với bất cứ ai lớn tuổi hơn mình:


Cảm ơn bác sĩ, ngài Thiện Hoa đang có một bên gan không được tốt. Ngài mới mang tấm bảng trước ngực với ba chữ Xin vào tù để chống việc đôn quân bắt lính. Thầy Thiện Minh thì vừa mở lớp Phú Lâu Na cho các sư trẻ, ở Tổng vụ Thanh niên, 294 Công Lý.


Bác sĩ chậm rãi:


Tôi có biết. Và tôi cũng đã đọc bài giảng Vai trò người Phật tử trong Giáo hội mà giáo sư giảng ở đó nữa, hay lắm. Tôi đồng ý với giáo sư rằng, Phật giáo trước 1964 có sáu Tập đoàn mà phân nửa là Hội của giới Cư sĩ. Tuy tăng già Bắc, Trung, Nam của quý hòa thượng Tố Liên, Đôn Hậu, Khánh Hòa lập ra nhưng nếu không có bàn tay của các vị hộ pháp Nguyễn Năng Quốc, Lê Đình Thám và Mai Thọ Truyền thì…


Như được gãi vào chỗ ngứa, chàng cướp lời bác sĩ:


Bác sĩ nói đúng, không có công lao của các vị trí thức đó buổi đầu thì Phật giáo đâu có như ngày nay. Năm sáu ba cũng vậy, giới cư sĩ đã thúc đẩy tăng ni không ít trong công cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo đến thành công. Nhưng Hiến chương sáu ba của Giáo hội Thống nhất không dành cho cư sĩ vai trò nào.


Nói ra thì khó nghe nhưng chủ trương này, chắc xuất phát từ tham vọng của một vị sư nào đó muốn thu tóm tất cả, tới nỗi Ban Tài chính Giáo hội, một hoạt động rất phàm tục mà cũng phải do một vị tăng nắm giữ…


Là một chính khách, ông dè dặt:


Có lẽ vì thế mà ông Mai Thọ Truyền đã rút ra khỏi Giáo hội và đang là Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa trong Chính phủ.


Chàng gật gù tán thưởng và có dịp thỏa thuê nhìn ngắm ông thật kĩ. Có lẽ bác sĩ là một trong số ít người làm chính trị ở miền Nam lúc ấy từng giữ chức vụ lớn mà bụng và cổ không dư thừa chất mỡ. Ông thuộc đảng Đại Việt quan lại, nghe nói là anh ruột nhà sử học Phan Huy Lê ở miền Bắc. Có lúc ông làm Chủ tịch Liên minh Á châu chống Cộng. Cuộc đời luôn có những việc tréo hèo đến lạ. Hồi 1965, ông ra làm Thủ tướng Chính phủ dân sự ở Sài Gòn thì đám giáo dân chống Cộng của cha Hoàng Quỳnh cho ông là trung lập thân Cộng, bèn huy động dân dao búa kéo tới số 7 Thống Nhất biểu tình phản đối, nằm lì hàng tuần trước cổng, chửi bới, ăn uống, tiểu tiện, tạo điều kiện cho quân phiệt làm cuộc đảo chính êm thấm đưa Thiệu – Kỳ lên ngôi.


Chiếc DC4 dân sự cất cánh, họ ngồi bên nhau. Bác sĩ Quát cho biết về Hội đàm Paris, sau khi bàn cãi nhiều tháng về chiếc bàn tròn hay bàn vuông, hai bên hay bốn bên, Hội nghị Paris đã bắt đầu.


Ông khuyên chàng nên tham gia ứng cử vào Hạ nghị viện năm tới. Chàng hỏi: Còn bác sĩ? Ông nói: Tôi già rồi. Lớp người như tôi không còn thích hợp nữa, làm được thì mới nói, mà nói thì không hai lời.


Chàng lại chọc:


Thế mà bác sĩ khuyên tôi ra làm chính trị. Vậy tôi giỏi khoác lác và hai lời lắm sao?


Ông vội vã thanh minh:


Ấy chết, xin lỗi giáo sư. Ra dân biểu, giáo sư biết là mình thiểu số, nói không ai nghe. Nhưng giáo sư sẽ vì tôn giáo của mình nói lên những điều lương tâm tôn giáo bắt buộc phải nói.


Đang trò chuyện thì tàu bay bay vào một vùng không khí loãng, phi cơ lắc lư như con tàu say sóng, khiến đèn hiệu phải báo cho mọi người buộc thật kĩ dây an toàn. Vẫn không tránh được khi nghiêng bên này, khi ngửa bên kia, có khi hẫng hẳn đi, rơi hụt xuống chân không mấy mét, ai cũng hết hồn. Có tiếng trẻ con khóc và tiếng mấy bà già, cô gái thì thào cầu nguyện mẹ Maria và Bồ Tát Quan Thế Âm. Chàng đọc được vẻ lo ngại trên mắt ông. Và thời tiết đột nhiên trở nên xấu quá, dường như đang có cơn bão rớt ở đâu lạc vào núi rừng, đuôi nó quét lên một phần cao nguyên. Trời mưa to, vén cái màn nhỏ ở cửa kính nhìn ra ngoài chỉ thấy mù mịt một màu trắng đục. Con tàu như con chuồn chuồn nhỏ bé bay tòng teng, chập chờn, mong manh giữa mênh mông biển cả mây mờ. Thời gian trôi qua sao mà chậm. Không ai nói với ai, nhưng trong tâm tư mỗi người, Chúa và Phật đã được mời về để giúp quên đi mối lo sợ hay để tự trấn an trước mối hiểm nguy. Ai cũng tự trách giá mình đi về bằng đường bộ, dù có bị Việt cộng bắt ở giữa đèo thì vẫn còn cơ hội nhìn mặt vợ con. Đằng này… Hú hồn, máy bay đã đến vùng trời Tân Sơn Nhất.


Nhưng quái lạ, đã hai lần nó đáp hụt, tiếng động cơ gầm rú nghe đến chết khiếp. Hành khách nhốn nháo, viên phi công phụ phải ló ra buồng lái truyền lệnh cho không một ai được đứng dậy mà phải ngồi tại chỗ, buộc dây thật chặt. Chàng lại chơi trò đùa ông bác sĩ hiền lành:


Hồi bác sĩ làm thủ tướng, phe quân sự và người Mỹ không thích ông. Họ bày cho đám Xóm Mới quậy phá. Biết đâu hôm nay cũng vậy? Họ sợ ông về giúp cụ Sửu chuẩn bị ứng cử tổng thống vào nhiệm kì tới nên không cho máy bay hạ cánh chăng? Bay một lát nữa hết xăng mà rơi thì chúng ta, tất cả sẽ yên vị ở Niết bàn và thiên đường, khỏi còn nỗi lo lắng gì nữa…


Ông lắp bắp hỏi: Vậy sao?


Từ này của người miền Nam nhưng được phát âm qua cái miệng Bắc Trung bộ của ông, chàng nghe sao chân chất hiền lành như nước sông Sài Gòn mà ta uống mỗi ngày. Cho nên cuối cùng, Đức Phật đại từ bi và Đức Chúa lòng lành đã hiển thị: Mọi người đặt chân xuống mặt đường nhựa Tân Sơn Nhất, thở phào ra sung sướng. Ôi, cái mặt đất khoan dung, dịu dàng mà phải hàng giờ phập phồng lo sợ trên chiếc phi cơ tí tẹo như cánh phù du cao thấp dưới lưng trời(1) ta mới biết quý giá dường nào.


Chàng xách giúp ông chiếc túi ra cửa ga. Ông mời chàng thỉnh thoảng ghé nhà chơi. Chàng hứa, nhưng mãi đến khi ông mất, đó là lần cuối cùng chàng bắt tay tạm biệt ông. Nguyễn Trãi hình như có hai câu:


Tam thập niên dư, trần tục mộng


Nhất điểu thanh đề tự khả tri


Chàng tạm dịch:


Ba chục năm dư chưa dứt mộng,


Một tiếng chim kêu tỉnh lại rồi.


Chuyến đi chơi Đà Lạt ngắn ngủi đó đã không làm chàng bớt vồ vập khi trở về bên thân xác người vợ mới ngoài ba mươi đang sung sức và nàng lại có bầu. Nàng xấu hổ với bạn bè vì liền trong ba năm có ba đứa, muốn uống thuốc từ chối. Chàng đã can ngăn. Và con bé chào đời. Anh Sáu vào chấm thi gặp lúc chàng còn ở ngoài quê, anh đặt tên cho nó: Nguyễn Hà Như Tâm, đứa con duy nhất mang họ mẹ trong tên, nhưng lớn lên không như tâm chút nào, nó bị phân liệt thần kinh. Lại cũng số phận con người.


Chàng thì như kẻ mộng du, mỗi tối mười một giờ, tắt đèn lên giường không ngớt rùng rợn nghĩ tới ngày mai: Thức dậy, mắt nhắm mắt mở, vừa ngáp vừa rửa mặt, điểm tâm nhanh chóng, xỏ quần tấn áo, rồ máy Honda, theo dòng người cuồn cuộn mà đến lớp, nhiều khi xa thật là xa, mãi xóm Bình Đông hay Gò Vấp chẳng hạn. Chàng có cái cảm giác như luôn bị chìm ngập mãi trong mớ bụi mù hỗn độn vây chặt lấy mình, chẳng khác nàng Kiều:


Khi tỉnh rượu lúc tàn canh.


Giật mình, mình lại thương mình xót xa.


Dù cái hình thức lao động khác nhau nhiều, nhưng sự mệt mỏi và mối kinh sợ thì rất giống nhau. Đau đớn thay cho người thợ ngán ngẩm khi tới xưởng và ông thầy giáo không muốn đứng trước một lớp mà học sinh chật như nêm. Chúng có mặt không phải để thu thái chút tinh hoa gì của nhân loại mà vì tránh khỏi bắt lính, tha hồ chọc nhau, nghịch ngợm đủ kiểu.


Đời gieo neo thế nhưng mùa xuân vẫn sang. Được nghỉ ngơi và quên đi trong mấy ngày những nhọc nhằn và có khi khổ nhục của mình, chàng thấy tràn trề hạnh phúc, nhất là vào cái năm Hợi nằm đợi mà ăn 1971. Đông Chủ đã mang tới cho chàng niềm vui mặc dù chàng dư hiểu rằng ngày nào trên thực tế cũng như ngày nào. Noel rồi dương lịch, rồi Tết ta, thấy người ta gởi cho nhau tấm thiếp hồng, trẻ con bận áo mới, lòng ta tự nhiên cũng được lây niềm lạc quan của cộng đồng.


Được thầy Nhật Thường gợi ý, thầy Thiện Hoa kêu chàng đến Ấn Quang bảo chuẩn bị ra ứng cử vào Hạ nghị viện tháng Tám tới để làm công tác xã hội. Tờ Trắng Đen của Việt Định Phương, bấy giờ đã kêu gào Thiệu hãy để ông Dương Văn Minh, Đại tướng hồi 1963 có công lật đổ Ngô Đình Diệm đã đi lưu vong, lúc ấy đang ở Bangkok được trở về. Máy bay ông đáp xuống Tân Sơn Nhất, đám chính khách đang phò ông Trần Văn Hương ùa xô nhau té chạy, tấp nập ra đón cựu Quốc trưởng, tân nhân vật sáng giá của thời cuộc.


Hồi lính Lê dương Pháp còn hãm hiếp và đốt nhà cướp của ở Việt Nam, có một người Trung Phi tên Bocassa. Năm 1954, anh ta theo đoàn quân thua trận trở về mẫu quốc rồi qui cố hương. Thực dân vốn là những phù thủy cao tay của thời đại.


Nếu bà tiên trong cổ tích cho Lọ Lem ba hạt dẻ để nàng thỏa được mong ước gặp hoàng tử của lòng nàng thì Pháp, Mỹ trong những năm đó, có thể biến một tên lính đánh giặc thuê thành tổng thống. Cho nên, Bocassa rồi cũng đã trở thành tổng thống Trung Phi. Nhưng như vậy chưa đã, được ít lâu, bắt chước Napoléon và Viên Thế Khải, Bocassa tự xưng Hoàng đế. Trên ngai vàng, Hoàng đế nhớ ra rằng trong những năm ở Việt Nam, ngài có quan hệ với một gái mại dâm và cô ấy có bầu, sinh được một gái, mà khi Pháp rút quân 1954, ngài cập rập không mang theo được. Đứa con hoang bị thất lạc mãi đến nay. Ở ngôi cửu ngũ, vua Bocassa cho sứ giả sang Sài Gòn tìm công chúa. Nhưng tìm sao được giữa hàng vạn trẻ lai thời Pháp, nay lưu lạc ở rải rác thành thị và thôn quê vùng bị chiếm cũ, một cô gái đích thực là của vua Bocassa? Việt Định Phương bèn chớp lấy cơ hội.


Anh ta điều tra thật kĩ về Bocassa rồi tìm được một ả giang hồ đã về già, có đứa con gái lai da đen trạc tuổi vị công chúa bị thất lạc trong mênh mông khói lửa chiến chinh mà vua Bocassa đã loan báo.


Sứ giả qua lại giữa Trung Phi và Sài Gòn như mắc cửi, tìm đến hóc bà tó Tây nguyên, hỏi han, thẩm tra, giám định. Cuối cùng Việt Định Phương cũng trưng ra được hai mẹ con một người đàn bà được nói là có thời đã ăn nằm với Bocassa. Họ được ngự tiến đi Bangui.


Xứ này có rất nhiều kim cương, tất nhiên Việt Định Phương được trả công vô cùng hậu hĩ bởi ông vua giàu có, ngông cuồng và bốc đồng mặc dù cô gái về sau được giám định gene là không phải của ông. Hai mẹ con cô vẫn được ở lại trong cung điện và sống cuộc đời vương giả cho đến khi nhà vua bị lật đổ và vào nằm trong ngục thất.


Bụt và Chúa không chỉ có trong cổ tích và vẫn hiện hữu ngay trong thời đại nguyên tử và máy vi tính này, chỉ e ta không có cái tâm làm điều lành đó thôi.


Được cả chì lẫn chài, Việt Định Phương theo gương Lã Bất Vi, đem tất cả đầu tư vào giấc mộng tạo ra một quốc trưởng. Bởi vì, tạo ra một công chúa Lọ Lem được thì cũng có thể tạo ra một quốc trưởng dù công việc được biết trước là sẽ khó khăn hơn nhiều. Giới trí thức bấy giờ hay đem chuyện này ra tán, ngạc nhiên khi một người như tướng Minh lại chịu để Phương lợi dụng như thế.


Riêng đối với báo Gió Nam, việc tướng Dương Văn Minh ra ứng cử thật quan trọng đến sự tồn vong của nó. Nhà sư đứng ra chạy tiền làm báo là thầy Huyền Diệu thì đã xin được cái học bổng đi châu Âu. Thầy Nhật Thường Phó tổng thư ký Giáo hội Ấn Quang tính liên lạc với phe ông Minh, đề nghị sử dụng tờ báo như cơ quan ngôn luận chính thức của ông trong chiến dịch tranh cử. Như thế rất ổn, vì các sư Ấn Quang sẽ không ai phản đối, các Mạnh Thường Quân sẵn sàng bỏ tiền cho con bài tẩy tương lai của mình, mà với danh nghĩa là tiếng nói của một ứng viên tổng thống thì theo luật, nó sẽ tránh được tai nạn cứ tuần lễ bị hốt vài lần.


Đấy là cửa sinh duy nhất của tờ báo. Công cuộc thương thảo đang tiến hành thì phía Quốc hội mà đa số do phe Thiệu nắm giữ đã ra một dự luật theo đó, muốn là ứng cử viên tổng thống, phải hội đủ 100 chữ kí đề cử của thành viên Hội đồng tỉnh, thành phố, điều bấy giờ không ai có thể có được ngoài Thiệu.


Đang lúc hì hục cứu vãn tờ báo hấp hối đã mất bao tiền bạc và công sức thức khuya dậy sớm vắt óc ra viết bài, giữa hồi nước sôi lửa bỏng đó, thì thầy Thiện Hoa cho kêu chàng lên Ấn Quang, trung tâm đấu tranh, điểm xuất phát các cuộc biểu tình.


Tối hôm đó lạ thay, sao mà yên tĩnh khác thường. Trong căn phòng nhỏ trên lầu, thầy kéo chiếc rèm cửa cho kín kẽ một chút, rồi rót cho chàng chén trà thơm ngát, ngài nhỏ nhẹ:


Tôi biết đạo hữu có lòng. Tuy Giáo hội không chính thức tham gia chính trị nhưng thiết nghĩ, Phật tử cũng phải góp phần nói lên nguyện vọng hòa bình, độc lập, tự do của dân tộc.


Thầy đứng dậy, thò tay lên án thư lấy một tờ giấy có ấn Giáo hội to, màu son còn tươi rói và thơm mùi mực, có chữ kí ngoằn ngoèo của chính mình đưa cho chàng. Chàng cung kính đỡ lấy. Thì ra đây là Giấy giới thiệu, thầy gửi cho Tỉnh Giáo hội Quảng Ngãi đề nghị cử chàng ra làm Phật sự đặc biệt. Tấm lòng và cử chỉ trân trọng của thầy đã làm chàng thật sự xúc động, tự cảm thấy mình nhỏ mọn bất xứng. Chàng run run cầm tờ giấy trong tay:


Con cũng muốn ra ứng cử thử xem đồng bào nơi quê hương mình còn thương mình không? Nhưng nay, với trọng trách này, con tự lượng sức mình e không làm nổi.


Thầy đọc được thoáng ngần ngại, nhút nhát trong ánh mắt chàng, bèn đổi lối xưng hô, và buông từng tiếng chắc nịch như làm cho chàng được khuyến khích và an tâm hơn. Đâu có mỗi mình giáo sư. Còn nhiều người khác nữa chứ, mỗi tỉnh vài ba vị, nhất là ở miền Trung và Sài Gòn này.


Thành phố bắt đầu giấc ngủ, trời phương Nam không mấy khi nhìn thấy những vì sao. Đêm đó chàng thao thức mãi. Tuần sau, giấy tờ đã đủ, chàng lên trường xin nghỉ phép đi miền Trung. Vợ chàng qua thầy Canh bói một quẻ. Thánh dạy: Thân chủ sắp có công danh lớn.


Nàng hân hoan trở về, hào phóng xuất hầu bao bán bún bò để dành hơn năm nay, chi cho chàng nửa triệu bạc làm lộ phí hồi hương. May quá, sẵn có cậu học trò cũ là lính Không quân lái L19 đi công tác Đà Nẵng, chàng xin quá giang. Tên chú ấy là Hồ Thành Đạt. Vợ chàng lại càng tin chắc mẩm là con đường công danh của chàng sẽ suôn sẻ. Con gà trống cúng lễ lâm hành hôm đó thật to, mồng đỏ và chân cẳng, theo nàng rất tốt. Riêng chàng, chỉ thích quả tim và bộ ngọc kê của nó.


Thi Phổ, quê hương ta ơi, em hát trên sóng lúa những chiều vàng tháng Năm dù nơi nơi, chỉ có điêu tàn. Núi Dàng bạc đầu mây trắng khăn tang. Má gò Quán Lác nhăn nheo sỏi đá. Lòng sông Cầu Đạp khô kiệt cây còi. Sung sướng biết bao khi được trở về với quê hương mình, được thắp trên mả mẹ một cây nhang, được nhìn trên mồ cha bao bông may bay loạn những chiều vô cớ gió nổi, được ăn tô don nóng hổi, thưởng thức món cá thài bai, đặc sản sông Trà mà được biết, thuở xưa ông ngoại ta rất thích. Ông làm quan mãi Phú Yên, người nhà phải mất mấy ngày đường đi bộ đem vào. Yêu làm sao những hạt gạo móng chim, lúa nhồng, lúa tàu đã nuôi ta lớn lên, yêu làm sao ngôi trường nhỏ loang lổ vết đạn mà hồi còn bé lần đầu tiên mẹ dắt ta đi học, chữ nghĩa Thánh hiền, lời thơ Đường, rồi Nguyễn Du, Victor Hugo, Lamartine… Con cóc cụt đuôi, ai nuôi mày lớn, dạ thưa thầy tôi lớn mình tôi… có phải vậy không, hỡi các bài hát thật dễ thương của những đứa con ta trong tuổi ấu thơ của chúng?


Lên Thiên Ấn, thầy Hồng Ân hỉ hả vui mừng: Ông giáo có gặp thầy Trí Quang không? Ông có nói gì tôi không? - Dưới mắt thầy và bao kẻ khác, thầy Trí Quang là thần tượng cao vút, người đời chỉ ngoái cổ lên ngưỡng vọng chứ không được quyền phê phán điều gì. Chàng thưa: Bạch thầy, quí thầy vẫn khỏe, riêng thầy Thiện Hoa có thư cho Ban đại diện Tỉnh Giáo Hội mình. Thầy đọc giấy giới thiệu, trầm ngâm giây lát rồi chậm rãi, khác hẳn sự vồ vập nồng nhiệt lúc đầu, lo lắng:


Tình hình tỉnh ta rất phức tạp. Ông giáo cũng biết, tôi và thầy Giải Hậu không thuận nhau đã lâu. Còn ông Giải An, Huyền Tế, Huyền Đạt mỗi ông cát cứ một nơi. Nên để giải thế ghềnh trong nội bộ, đại chúng đã cử Thượng tọa Giải Tân ở Nghĩa Hành, tuy bán thế xuất gia nhưng từng có địa vị từ thời Pháp, lại tuổi tác lớn hơn cả, ngồi ghế Chánh đại diện. Tôi nghĩ là ông giáo có nhiều thuận lợi, nhưng tốt hơn là ông giáo đưa giấy này đến Tỉnh Hội. Ba hôm nữa, ngày Đoan Ngọ có cuộc họp. Ông giáo là người ruột của tôi, cái đó chúng ta biết với nhau, bên ngoài nên thủ thường, không khinh địch được.


Rớm nước mắt, chàng cảm cho cái tấm lòng của thầy, tự nhủ: Ta về quê lần này, dù có thất cử thì lời nói đó cũng đủ rồi, không còn cần gì nữa.


Nhưng khi chàng kể lại câu chuyện với Bình, anh ta nói:


Dẹp cái lãng mạn của mày sang một bên đi. Đã làm chính trị mà đi ứng cử, lại đối lập, thì phải cố cho được. Thất cử rớt một cái bị đập chết, không những mình mày mà cả anh em bầu bạn nữa.


Chàng thừ người ra nghĩ ngợi. Trước khi về, chàng có sang bên kia cầu chữ Y gặp anh Trần Đình Huyến, người Quảng Nam, em anh Trần Đình Lan làm Phòng Nhì Đông dương cho Pháp đang ở Paris và anh Trần Đình Tri, hiện Ủy viên Trung ương, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội ngoài Bắc. Không biết hồi kháng chiến, anh Huyến có làm gì cho Tây không, mà ngoài đó có câu: Trần Đình Tri kháng chiến, Trần Đình Huyến Việt gian.


Huyến cỡ tuổi anh Sáu, nghe đám bạn anh nói anh chống Diệm năm 1955, bị Nhu tính bắt giết, anh chạy thoát sang Campuchia, mới trở về Sài Gòn sau 1963, mang theo một bà vợ người xứ chùa Tháp thật trẻ. Anh dám đến ở trong một khu vườn rộng và hẻo lánh giữa một vùng Rạch Ông còn hoang vắng rậm rạp, nhất là về ban đêm, ai đi qua cũng sợ ma, chỉ nghe tiếng ếch nhái quanh năm kêu buồn.


Lại có kẻ cho rằng anh đang giao thiệp bí mật với Việt minh, người thì nói anh vẫn hợp tác với Phòng Nhì- Pháp, trong mạng lưới của người anh mình. Gì thì gì, không phải CIA, đều không sợ. Và chàng qua hỏi ý kiến anh trước khi quyết định vâng lời thầy Thiện Hoa. Anh bảo:


Nên, nhưng chú phải biết, dân Trung mình không ai hơn bà con họ hàng.


Môi dưới của anh dày bè ra, như lúc nào cũng sẵn sàng mỉa mai ai đó.


Trên đường từ Thiên Ấn về thị xã, bằng chiếc Honda của chú Út, thả dốc chầm chậm, chàng nhìn dòng sông Trà đang mùa khô hạn.


Dải cát ven bờ vẽ ngoằn ngoèo một vệt dài màu vàng nhạt thật đẹp, như Ngân Hà mà chỉ những đêm thu ở miền Trung, chàng và em chàng vẫn được nhìn thật rõ, để chơi trò đếm sao thời thơ ấu. Vừa đi, chàng càng thấm thía lời nói của Bình, con người từng có những bài thơ khá hay nhưng rất thực tế đó đã khuyên chàng, vẫn theo cái giọng điệu đặc biệt của anh:


Không cái gì có thể là trò chơi được hết. Thi sĩ than mây khóc gió thì hãy tha hồ than khóc, nhưng thi sĩ cũng có cái dạ dày cồn cào mỗi khi nó không được no và thi sĩ cũng biết nằm trên bụng vợ, sản xuất đều đều những tí nhau, thì không có quyền mộng mơ, nhất là khi được giao cho nhiệm vụ.


Bình nhìn chàng từ đầu đến chân, chu mồm làm cử động bộ râu mép một cách thật buồn cười, tiếp: Dạo này tao thấy mày ốm quá đấy. Lo dữ lắm hả. Thôi thì bề gì cũng phải dốc sức trong một tháng.


Chàng học hỏi nơi Bình sự quyết chí, đã làm thì đừng để thất bại, nơi anh Huyến: phải biết dựa vào bà con, anh em họ hàng, bạn bè đồng đạo.


Về đến trước nhà anh Sáu, đầu đường Trần Hưng Đạo, bên kia chắc chắn và mĩ thuật theo đúng đường nét gothique, vọt lên cao khỏi hàng cau, tre và dừa rậm rạp luôn xanh tốt trong khu vườn rất rộng, ngôi giáo đường lớn nhất tỉnh, thời ông Diệm là một trung tâm quyền lực chỉ nhỏ hơn tỉnh trưởng một chút. Sau 1963, nó đìu hiu vắng vẻ làm sao. Vậy mà bây giờ khách khứa ra vào tấp nập, xe cộ ngổn ngang dựng trong sân. Cha xứ trong màu áo chùng đã bạc của mình đang đứng gần cổng nói chuyện với một viên trung tá quận trưởng. Ông này khoanh tay trước ngực và nghe một cách chăm chú.


Nhưng khi chàng lên đến chùa Tỉnh Hội thì mới thấy cuộc đua vào nhà hát Tây(1) quả thật gay go.


Hôm đó nhằm ngày rằm, thiện tín viếng chùa khá đông. Lại thêm hàng đạo hữu hằng sản hằng tâm muốn cách cái mạng mình từ chỗ dân thường, thầy giáo, sĩ quan, cán bộ... ra ông Nghị để hi sinh, ái quốc rất đông.


Chàng là một trong số những người ấy. Cứ nhìn cái đống dép guốc nằm la liệt ngoài phòng vị Đại đức thị giả của Thượng tọa chánh đại diện thì biết ngay đã có bao nhiêu vị nhanh chân hơn, tới trước chàng.


Anh Bửu, một học trò cũ của chàng, da tái mét vì sốt rét, đang làm thư kí của Tỉnh hội nhác thấy chàng, đã vội chạy ra, nắm tay nói nhỏ: Thầy về bao giờ thế. Em biết lí do rồi.


Rồi anh kéo chàng rồng rắn lượn nhanh giữa đám Phật tử đang lũ lượt vào cổng, không một ai hay biết, đưa chàng vào tới cửa buồng mình: Mời thầy vô phòng nghỉ của em chơi một lát, đợi họ vãn bớt, em sẽ báo với Thượng tọa Giải Tân. Thầy ở đây ăn cơm với em nhé. Tương rau nhà chùa mà- Chàng đang bối rối, Bửu ấn chàng xuống ghế:


Thầy cứ xem em như người học trò nhỏ hồi xưa, dù tóc đã bạc. Em theo người anh con cô cậu làm phái viên hành chánh ở Minh Long, bị kí sinh trùng falciparu ăn hết máu. Nay qua tuổi lính rồi, về đây thất nghiệp thì làm công quả cho chùa. Vợ em có cái sạp ngoài chợ.


Bửu nói một hơi dài như người chưa bao giờ được nói dù hàng ngày anh phải tiếp xúc với không biết bao người, từ một chị bán hàng muốn mua một cuốn kinh Nhật tụng cho tới một sĩ quan Cộng hòa mong được nhà chùa đỡ đầu trong giấc mộng vận động một chân quận trưởng, hoặc một giao liên cho cách mạng bị bắt, phải chối phăng và chỉ cần một sư thầy có uy tín nói với ông trưởng Công an tỉnh Hồ Anh Triết một tiếng là được thả.


Bửu tiếp: Đã có vài lố vị đến đây đòi được ủng hộ ra Dân biểu, từ một ông thượng sĩ chỉ có tiểu học trước kia vào Công giáo, theo Cần lao (Đảng của ông Diệm) nhanh chóng từ binh nhì leo lên chức đó, nay ông Diệm chết rồi, thì cũng khai là Phật tử. Lại có người đã được hậu thuẫn vô Hội đồng Tỉnh rồi còn muốn trèo cao hơn nữa. Tỉnh ta chỉ có năm ghế, mà tới nay đã nhận những gần bốn chục đơn ứng cử. Thầy đã nộp chưa?


Bấy giờ Bửu mới chịu để cho chàng có dịp mở cái miệng vô cùng mệt mỏi của mình, không giấu nổi nỗi ngán ngẩm:


Tôi còn phải đợi ý kiến của Tỉnh Giáo hội, nhất là của riêng cậu đã chứ.


Tới đây, anh chàng này mới thấy ông thầy học cũ của mình mồ hôi mồ kê túa ra vì nóng. Anh đứng dậy bật cái quạt:


Xin lỗi thầy, em mải nói quên mất, dạo này oi bức quá. Trong bữa cơm, Bửu cho biết ngoài chàng, cựu Trung tướng Trần Văn Đôn cũng đã được Giáo hội Trung ương hậu thuẫn giới thiệu ra đây.


Về phía địa phương, giới bổn đạo thương gia giàu có, phần lớn người Huế và Đà Nẵng vô đây trước kia được cựu Tỉnh trưởng Mai Ngọc Dược tận tình giúp đỡ thì nay, họ muốn trả ơn ông này, hiện đang thất cơ lỡ vận, bằng cách ủng hộ ông. Còn anh Tạ Thanh Hối, một học trò cũ của thầy, một huynh trưởng gia đình Phật tử, đang phải bận áo sĩ quan Cộng hòa cũng muốn cởi bỏ chiếc bông mai trên ve cổ cồn để trở về đời sống dân sự mà phục vụ Đạo pháp và Dân tộc.


Chàng nhai một miếng cơm nát bấy ra mà vẫn tìm chưa ra lẽ. Bửu phải giục chàng:


Thầy nghĩ gì trầm ngâm thế. Công việc sẽ khá vất vả đấy. Thầy phải ăn uống cho mạnh vào mới kham nổi. Nhiệm kì trước, em giúp cho anh Phạm Tấn Nho, suốt một tháng trời, ngày nhịn đói, đêm không ngủ, sức ảnh như voi mà cũng muốn bứt đó.


Chàng hỏi: Lần này anh ấy có tái ứng cử không?


 – Hình như có, nhưng xem chừng dư luận chung không mấy thuận lợi. Phần em, tình nghĩa với anh ấy vẫn nguyên vẹn. Nhưng Giáo hội Trung ương và tỉnh Hội chọn ai thì em vâng vậy. Em biết tin tức về thầy sớm vì anh Hối vô Sài Gòn xin gặp Thượng tọa Thích Huyền Quang Tổng thư kí Viện Hóa đạo để xin được ủng hộ, nhưng chỉ mới được thầy Phó Nhật Thường tiếp kiến. Thượng tọa Phó tổng thư kí nói: Ngài Viện trưởng đã giới thiệu giáo sư chủ bút nhật báo Gió Nam, Chủ tịch Tổng đoàn Giáo chức Phật tử về Quảng Ngãi. Còn về anh Hối, thầy sẽ trình sau.


Anh ấy đã nộp đơn ứng cử trước khi đi Sài Gòn nên nay đang nằm trong đó chờ và gọi điện cho gia đình biết, nhờ thông báo tình hình ấy cho Tỉnh hội. Với riêng em, giữa anh Nho và anh Hối, đều là huynh trưởng Gia đình Phật tử cả, ai cũng được.


Cho nên, với hai ông Mai Ngọc Dược và Tạ Thanh Hối, chàng thấy rất rõ lí do ứng cử của họ. Chứ còn Trần Văn Đôn thì chàng rất thắc mắc. Ông trung tướng từng là Phó chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, nhân vật số hai trong đảo chính 1963 này, người Nam bộ, dân Tây, nói tiếng Việt chưa sõi.


Là nghị sĩ trong liên danh Công- Nông- Binh ở Thượng viện, mà theo luật, năm ngoái phải bắt thăm để thay một phần ba, ông rủi ro ở trong số không còn ngồi lại Hội trường Bến Chương Dương ba năm tiếp theo 1970–1973 nữa.


Ông rất giàu có và bề gì vẫn còn thế lực rất lớn đối với chính quyền, tại sao ông không tái ứng cử thượng nghị sĩ? Ông màng gì cái chức dân biểu? Và tại sao lại phải ra tận Quảng Ngãi? Trong khi, nếu ông muốn ở bất cứ nơi nào khác gần Sài Gòn thì hai ông Thiệu – Khiêm sẽ dễ dàng thỏa mãn ngay. Tại sao ông phải chọn danh nghĩa Phật giáo và phải ra tận cái đất Quảng Ngãi đãi ra sạn, khỉ ho cò gáy này? Tại sao và tại sao?


Chàng không ngớt băn khoăn mãi đến khi Thượng tọa Giải Tân, sau khóa lễ mời chàng lên văn phòng nói chuyện. Vị sư già rất sung sướng khi được biết chàng có vợ ở làng quê ông. Điều ấy quan trọng hơn cả như lời anh Huyến nói. Còn những chi tiết khác về thân thế chàng, ông thuộc vanh vách. Những kẻ yêu mến và ghét chàng đã có quá nhiều thì giờ gần gũi với ông để khen tặng hay chê bai. Chàng là em thầy Diễn mà ông ngưỡng mộ, trước từng dạy Trần Quốc Tuấn mà con ông từng theo học, nhất tự vi sư bán tự vi sư, đạo lí nhà nho đã dạy. Ông tự bạch mình tuy theo Phật nhưng gốc Nho. Nho Phật là một, giản dị vậy thôi, cội bồ đề của ông không cần phải như thọ hay bổn vô thọ theo Huệ Năng hay Thần Tú gì ráo(1). Và điều làm ông vừa lòng nhất: chàng là cháu rể ông Chủ Lam, người đã cung cấp cho gia tộc ông một người chị dâu cả rất tốt.


Đằm thắm mời chàng ở lại cùng dùng cơm tối, ông nói:


Cháu đừng lo, Hòa thượng viện trưởng đã có thư, thầy tin là không một ai dám phản đối trong cuộc họp quyết định chọn người đưa ra ứng cử Quốc hội.


Nói vậy chớ không phải vậy - người Nam bộ có một câu nói đầu môi rất hay, tuy họ không phải những tín đồ hoài nghi chủ nghĩa. Người dân quê đồng bằng sông Cửu Long muốn cho ta phải tỉnh táo kiểm nghiệm thực tế. Thầy Giải Tân có tấm lòng tốt thật, nhưng những người xung quanh thầy, ai cũng mang ý đồ của họ. Mỗi một chúng ta trong cuộc sống bị níu kéo bởi bao thứ và chúng ta bị buộc phải chấp nhận tam nghiệp: ý nghĩ, lời nói và hành động theo như thiêng liêng, hoặc số phận, hoặc nghiệp đã định ra cho mình.


Dưới mắt Phật tử Quảng Ngãi, ông Đôn là người đã có công lớn lật ông Diệm, cứu họ ra khỏi pháp nạn. Cái danh trung tướng của ông mang lại bao vinh quang cho cái tỉnh nhỏ nghèo nàn này. Sự giàu có của ông bảo đảm một sự chi tiêu hào phóng trong công cuộc vận động có thể bao hết cho cả số ứng cử viên còn lại mà tỉnh Hội đưa ra.


Còn việc ông bí mật là người của Thiệu hay ai đó thì không cần biết làm gì, miễn miệng ông chịu khó không quên hai chữ trung lập. Với Tỉnh trưởng Ngô Văn Lợi, ông Đôn mang binh phục ba ngôi sao vàng sáng chói trên cầu đại, là một thượng cấp khả kính. Hơn nữa, Đôn là một thần tượng mà Lợi nằm mơ mới thấy cái diễm phúc được phục vụ một con người cao cả như thế. Lợi chỉ cần cho người vào thỉnh ý Tổng thống phu nhân xem, nếu cứ khách quan trong cuộc bầu bán này, thì có mối đe dọa nào xảy ra cho chiếc ghế tỉnh trưởng hay không? Cho nên, cái thế của mông xờ André Trần Văn Đôn chắc như bắp.


Còn ông cựu Tỉnh trưởng Mai Ngọc Dược, chàng và chú Út tới thăm ông. Bề gì ông cũng là bạn cùng lớp với anh Bảy ở trường Việt Anh, Huế và năm 1957, hồi chàng bị mổ sạn bàng quang, làm Tỉnh trưởng Quảng Ngãi, ông đã đến thăm, cho chàng một bao gạo, dù bị anh Tảng nhằm lúc vắng người, tự bụm miệng chửi ầm ĩ. Ông Dược nói, giọng đặc miền sông Hương núi Ngự:


Toa biết không, moa làm quan rứa nhưng thanh bạch, chẳng có cái chi cả. Chừ ứng cử chỉ mong chờ Giáo hội giúp đỡ thôi.


Ông ở nhà một thương gia giàu có buôn phụ tùng xe đạp. Sau khi mất chức Tỉnh trưởng Long An, ông về sống ở Sài Gòn nên không còn chịu nổi cái nóng nực cuối hè của Quảng Ngãi, mình trần trùng trục, chỉ quấn chiếc xà rông, ngồi trên giường tiếp khách. Chàng nghĩ tới người con gái nuôi của ông, cô bé Hồng Vân ngày nào còn mới năm đầu trung học, nhà rất nghèo. Chàng đã sớm phát hiện ra tài năng của nàng và nhiệt tâm khuyến khích cái giọng hát trời cho đó, nay đã trở thành một nữ ca sĩ rất nổi tiếng về các làn điệu dân ca ở Sài Gòn.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] 1858.




(1) Mượn ý Tô Đông Pha trong bài Phú Xích Bích: Ký phù du ư thiên địa.




(1) Chỉ việc ứng cử Quốc hội. Quốc hội (Hạ nghị viện) miền Nam, trụ sở ở Nhà hát Tây (tức Nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh hiện giờ).




(1) Rút từ sự tích về cuộc tranh luận giữa hai đại đệ tử của Ngũ Tổ là Huệ Năng và Thần Tú. Thần Tú cho rằng: Tâm như bồ đề thọ nghĩa là cái tâm như cây bồ đề. Huệ Năng quan niệm ngược lại: bồ đề bổn vô thọ.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 19.05.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 11.05.2018
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 07.05.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 07.05.2018
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 07.05.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
xem thêm »