tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21324216
Tiểu thuyết
31.08.2017
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy



Vân lắc đầu, cười dịu dàng:


-  Ấy, trước hôm anh lên đây, em gặp một người vào cũng bảo rằng ba mạ em ở ngoài ấy nghe tin em đã chết. Nghe nói mạ em đi bói và thầy bói cũng nói em đã chết rồi. Tội nghiệp thế, rồi em gặp cô giáo Phượng mới biết là bên lớp đệ tứ trường Đồng Khánh cũng có một cô tên là Vân, và chính cô Vân ấy mới bị Tây bắn chết lúc vỡ mặt trận.


Long chợt kêu thốt lên:


-  Tròi ơi, bây giờ mới biết là anh ngốc quá, có thế mà không nghĩ ra. Phải, trước khi kháng chiến Vân đã sang học chuyên khoa bên Khải Định rồi kia mà, có học Đồng Khánh nữa đâu. Thế mà… anh làm thơ khóc than mãi.


Vân để ý nhận xét thấy Long hơi lúng túng trong việc xưng hô, hình như anh còn ngượng ngập chưa xưng anh với cô dễ dàng như trước. Và cho mãi đến lúc ấy mới thấy Long nở ra một nụ cười nhè nhẹ.


Vân cười to hơn đáp:


-  Mấy bài thơ ấy đọc chán chết. -  Rồi cô nũng nịu – Đấy bây giờ em sống lại rồi đây, anh phải làm thơ mừng nhé, mà phải cho hay vào, không thì em không xem đâu.


Long hơi phật ý hỏi lại:


-  Mấy bài thơ ấy em xem bao giờ mà bảo là chán?


-  Thì em vẫn giữ cuốn nhật ký của anh đấy chứ.


-  Vậy à. Vân lấy ở đâu thế? Vậy em đưa lại ngay cho anh đi. Xem làm gì?


Đến lượt Vân tỏ vẻ không bằng lòng:


-  Kìa sao lại bảo em xem làm gì? Trưốc đây, anh chẳng đưa cho em xem ngày một là gì?


Long buột mồm đáp:


-  Trước khác nay khác chứ.


Long biết mình nói lỡ lời, đang lúng túng tìm một câu gì để sửa chữa lỗi lầm thì Thiện đã lên tiếng. Từ nãy đến giờ Thiện cảm thấy rõ ràng mình là người thừa. Nhưng không lẽ đã đi gần 10 cây số; trèo ba cái dốc cao lên đây để báo tin cho Long về công tác mà đến khi gặp lại không nói gì. Lựa lúc Long đang lúng túng, Thiện nói luôn:


-  Này, thôi, mình mừng Long đã tai qua nạn khỏi và mừng anh chị gặp nhau nhé. Bây giờ sắp có việc bận, mình về thôi. Chỉ báo cho Long biết như thế này: mình, ông Thắng và Vân có đứng ra bảo đảm cho Long nhận công tác kháng chiến. Ấy là vì mình đọc được nguyện vọng của Long ghi trong nhật ký, Tỉnh đồng ý để Long nhận công tác ở Ty Thông tin. Cơ quan Ty Thông tin đóng ở Hòa Mỹ CK1. Tuỳ Long đấy. Nếu Long không muốn thì Long cứ nói.


Long nắm ngay lấy tay Thiện, mắt nhìn thẳng vào mắt thiện, cảm động nói:


-  Hôm nọ, lúc thay băng, mình có hỏi cậu Thắng rằng sao mình không bị coi là Việt gian mà lại được săn sóc ở đây. Cậu Thắng có bảo rằng kháng chiến sẵn sàng thâu nạp mình và nếu khỏi bệnh sẽ được... công tác. Mình cũng tưởng chỉ là câu nói an ủi. Không ngờ hôm nay lại là sự thật. Thiện    bảo mình còn không muốn cái gì nữa. Cuộc sống đã mở mắt cho mình. -  Long chỉ vào vết thương nói tiếp -  Đây, vết đạn này còn đây và sẽ còn mãi mãi, có bao giờ mình quên được. Nhờ Thiện chuyển lời mình cảm ơn... tỉnh, cảm ơn vô cùng...


Thiện không hiểu Long chỉ vào vết thương và nói như vậy là có ý gì, nhưng anh thấy không tiện hỏi. Anh thong thả chào cả hai người rồi quay mình từ từ đi xuống núi, trong bụng vẫn phân vân không hiểu câu nói của Long là như thế nào.


Thiện đi rồi, Vân và Long lại tiếp tục câu chuyện vừa bỏ dở. Vân hỏi, giọng hơi bực dọc:


-  Sao anh lại bảo trước khác nay khác?


Long lúng túng đáp:


-  Không đấy là anh bảo rằng trước đây anh với em cùng chung một lối nghĩ...


Vân ngắt ngay lời Long:


-  Còn bây giờ thì không cùng chung tư tưỏng chứ gì. -  Rồi Vân nói tiếp, giọng có vẻ chua chát. -  Mà thật đấy, em đã gửi cho anh bao nhiêu là thư. Anh chẳng chịu nghe gì cả. Bao nhiêu người, người ta kháng chiến ngay từ đầu cơ. Như anh Thiện ấy, nói với anh ấy về công tác học được bao nhiêu thứ bổ ích. Nói chuyện với anh thì cứ quanh quẩn những gì đâu đâu ây.


Long thấy hơi nổi giận, anh đã nóng mặt định phản công vài câu. Nhưng nghĩ đi nghĩ lại Long thấy lúc này mà cãi nhau với Vân thì không có lợi gì. Anh viện cớ còn mệt và chóng mặt đòi về giường nằm nghỉ.


Vân cũng từ giã anh về buồng riêng của mình. Nỗi vui mừng khi gặp lại Long đã khỏi hẳn vết thương không làm tan được cơn bực dọc không đâu trong tâm trí Vân. Cô cảm thấy trong tình yêu của cô, hình như có một vết nứt rạn đang to dần. Cô tủi thân, nằm úp sấp mặt lên gối, tự nhiên không ngăn được nước mắt thấm ướt cả mặt gối.


 


                                                                       XI                  


 


Các cán bộ của Ty Thông tin Thừa Thiên mấy hôm nay bận tíu tít về đại hội tỉnh. Long về cơ quan này được bốn ngày thì đại hội họp. Cảm giác đầu tiên của anh khi về cơ quan có thể nói cũng như cảm giác một cô dâu lần đầu tiên về nhà chồng. Hay hơn nữa, là cảm giác một người từ trong bóng tối lâu năm lần ra ánh sáng, chói mắt, bỡ ngỡ, lạ lùng trước tất cả mọi việc, mọi vật, mọi người. Long chờ đợi những nét mặt nghiêm khắc, những ánh mắt dò xét, những lời hỏi vặn kỹ càng về lý lịch, tư tưởng. Nhưng không, người ta đã đón Long một cách rất bình thường. Chính, Ty phó Ty Thông tin, một thanh niên chỉ hơn Long có một tuổi, đã tiếp Long một cách khá lịch sự. Chính không hỏi gì Long về quá khứ, chỉ hỏi anh đã đủ sức khỏe để làm việc chưa và sau đó giới thiệu cho anh rõ về tổ chức và cách làm việc của tỉnh cùng hệ thống các phòng ở huyện, các ban ỏ xã. Rồi Chính cho Long biết: ban lãnh đạo Ty quyết định phân công cho Long việc lưu trữ hồ sơ, công văn, tài liệu, thư viện và phụ trách trang trí nhà Đại chúng.


Chính nói rằng công việc ấy quan trọng ở chỗ nó giúp cho công tác của các cán bộ biên tập, nó làm cho lối làm việc của Ty được cải tiến nếu được sắp xếp lại hợp lý. Chính đã vỗ vai Long nói: “Đồng chí là trí thức, xin đồng chí đừng thấy những sự lộn xộn trong hồ sơ, tài liệu ở đây mà cười. Chúng tôi trông cậy ở đồng chí”.


Thật là những lời ngọt ngào và dễ nghe. Nhưng thực tế khi Long bắt tay vào việc, anh không khỏi chán ngán. Cái gọi là thư viện chỉ gồm không quá một trăm cuốn sách, hầu hết là những cuốn đã cũ, xuất bản trong khoảng từ tháng 9 năm 1945 đến 12 năm 1946. Chỉ có một vài cuốn là xuất bản trước cách mạng và một hai cuốn khá mới đem từ Huế lên. Còn hồ sơ tài liệu thì chỉ là một đống công văn xếp không đầy một bị lai. Đây là những loại công văn thường, những tài liệu không quan trọng và không bí mật. Chỉ một hai hôm sau Long biết rằng những tài liệu thuộc loại “mật” không phải về tay anh giữ. Tuy vậy anh cũng tìm thấy nguồn vui trong việc sắp xếp lại đống tài liệu và sách vở ấy. Đọc lướt qua một lượt những tên sách và những trích yếu công văn, anh đã có thể sắp xếp chúng lại một cách có hệ thống hơn trước, làm cho Chính phải khen ngợi. Nhưng công việc ấy chỉ làm anh mất có hai buổi làm việc. Sau đó, không còn việc gì nữa, anh được phân công thêm việc trang trí và cắt dán khẩu hiệu cho nhà Đại chúng. Lúc Chính mới nói qua về sự phân công thêm này, Long không khỏi buồn tủi. Một sinh viên đại học, một giáo sư như anh mà bây giờ đi cắt dán khẩu hiệu, trang trí cho một phòng họp bé bằng cái lỗ mũi trên chôn núi rừng này! Nhưng Long cũng tự biết mình lắm. Lẽ ra ta đã bị khép tội là Việt gian kia, anh thường lấy câu đó ra để tự an ủi mình.


Đến Đại hội thông tin tuyên truyền toàn tỉnh, Long được làm công việc trang trí cho hội trường. Anh đã làm hết tâm trí và nghĩ cách trang hoàng phòng họp cho đẹp, anh miệt mài suốt buổi với cái kéo, lọ hồ và mấy tấm giấy màu mua từ Huế lên để cắt dán cho được những khẩu hiệu đẹp. Sự tích cực ấy không ngờ lại mang đến một kết quả khác: các cán bộ Ty Thông tin bắt đầu tin anh hơn một chút và đến khi Đại hội họp, anh đã được làm thư ký ghi chép những lòi phát biểu của các đại biểu trong những buổi họp công khai toàn hội trường.


Đại hội thông tin tuyên truyền toàn tỉnh họp trong ba ngày liền. Cả thảy có gần ba chục người từ sáu huyện và thị xã Huế lên. Đại biểu của Huế là Nguyễn Mô, một công nhân trạc ngoài ba mươi tuổi. Dáng dấp bề ngoài của anh đại biểu này đã làm cho Long thất vọng. Bỏi vì khi nghe nói có đại biểu của Huế, Long đã mừng rơn, vừa ngạc nhiên vừa hãnh diện. Long chắc cái ngưòi dám hoạt động bí mật trong thành phố Huế phải là một chàng trai tài ba, nhanh nhẹn, sắc sảo, có khả năng ứng phó với kẻ địch, có thể tiếp xúc với giới thượng lưu trí thức, khi cần có thể đóng vai một trang phong lưu công tử, lại có khi phải đeo băng bịt mắt vào và sử dụng khẩu súng lục một cách tài tình. Nhưng không, Nguyễn Mô chỉ là một công nhân trình độ văn hóa tiểu học, với khuôn mặt vuông và gồ ghề, cái trán thấp, mái tóc bờm xờm để râu chưa cạo. Tuy vậy Long vẫn tìm tới gặp Mô, Long tò mò muốn biết tình hình Huế, anh lại muốn biết xem trong lòng một thành phố do địch hoàn toàn kiểm soát thì làm thế nào mà hoạt động được. Những câu trả lời của Mô đã làm Long hơi thất vọng. Bởi vì anh ta chỉ biết nói về tình hình cụ thể ở một vài xóm thợ, tình hình chợ Đông Ba, chợ An Cựu, tình hình ở nhà máy đèn, các nhà máy in, xưởng vôi Long Thọ. Còn những nơi mà Long muốn biết, như tình hình các trường Khải Định, Đồng Khánh, tình hình các giáo sư và gia đình họ v.v... thì Mô chỉ biết chung chung. Mô nói rằng anh chỉ mới liên lạc được vối một số học sinh tốt và phong trào hiện đang có cơ phát triển. Còn hỏi về thành tích của Mô, về cách anh ta làm sao mà khéo luồn lọt, hoạt động bí mật có những gì khó khăn, thì Mô chỉ trả lời một cách khiêm tốn, anh chỉ nói rằng nhờ có nhân dân bảo vệ; khéo trà trộn vào trong quảng đại nhân dân là được. Những câu trả lòi như thế cố nhiên chưa gây cho Long một ấn tượng sâu sắc. Nhưng đến khi đại hội họp công khai toàn hội trường, anh đã ngạc nhiên xiết bao khi thấy Mô đứng lên trình bày những kinh nghiệm phong phú và những nhận định hết sức rành mạch về công tác trong thành phố bị tạm chiếm. Ngồi ghi lấy những lời phát biểu ấy, Long thấy dần dần những quan niệm của anh trước đây về một chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật dần dần đổ vỡ: anh bắt đầu nhận thấy, tuy chưa rõ ràng lắm, một kết luận: muốn hoạt động phải dựa vào dân, mà dân đây là những người lao động, những người không có trí thức, những dân đen, như cậu anh trước đây thường nói. Một đại biểu nữa cũng làm anh chú ý. Đó là đại biểu xã Hưng Long, thuộc huyện Phong Điền. Xã này đặc biệt ở chỗ nằm ở ngay đồng bằng nhưng từ khi vỡ mặt trận đến nay đã hơn một năm mà vẫn chưa hề vỡ cơ sở và chưa có tề. Kinh nghiệm tuyên truyền của Hưng Long cũng không ngoài mấy điểm: bám chắc lấy dân, động viên nhân dân tổ chức và ủng hộ du kích, ủng hộ chiến khu và bộ đội. Trong giờ nghỉ, Long đã tìm tới gặp làm quen với đại biểu xã Hưng Long.


Tới hôm ấy, khi đại biểu nghỉ họp, Long đã lần mò giở những cuốn sách trong cái “thư viện” nghèo nàn chỉ gồm khoảng một trăm cuốn sách của anh ra và tìm đọc. Tình cờ anh ra cuốn “Giai cấp là gì” của Nhà xuất bản Ánh Sáng. Đó là một cuốn sách mỏng, chỉ gồm độ năm mươi trang, in bằng giấy bản, có nhiều tờ đã dính bết vào nhau và đã vàng khè. Nhưng khi đọc hết cuốn sách,


Long chợt thấy như những lời của đại biểu dự đại hội đều ít nhiều có nằm trong cuốn sách nhỏ này. Lần đầu tiên, anh tự đặt ra những câu hỏi: ta ở giai cấp nào trong xã hội, ý nghĩa của cuộc cách mạng và kháng chiến đối với mỗi giai cấp ra sao? Long nhìn cái “tủ sách”, phải nói là cái bị sách thì đúng hơn, của anh một cách trìu mến hơn trước. Anh bắt đầu thấy rằng đây là một kho tàng tuy ít nhưng quý báu và anh tự nguyện với mình sẽ ra sức đọc cho hết những cuốn sách đầy bụi bặm ấy.


Long dần dần yên tâm vối công việc của anh. Ngày hai buổi, anh lên hội trường nhà Đại chúng, xem lại các khẩu hiệu, các tờ tranh, chữa lại những chỗ bị hỏng. Anh vào sổ các công văn tài liệu, chú ý đọc kỹ để phân loại cho đúng. Xong rồi anh miệt mài đọc sách.


Nhưng Long không phải đã thấy yên ổn hoàn toàn. Từ sau buổi gặp Vân và Thiện ở bệnh viện, Long còn gặp thêm Vân mấy lần nữa trước khi anh rời hẳn CK7 để xuống Hòa Mỹ. Nhưng không hiểu tại sao, giữa hai người, đáng lẽ phải có một sự vui mừng vồ vập vì đã xa cách nhau hơn hai năm trời, trong đó có hơn một năm biệt vô âm tín, một năm người nọ tưởng người kia đã chết, thì trái lại, đến lúc gặp nhau, không ai bảo ai mà hình như đều cảm thấy có cái gì khuất khúc, mắc mớ, không tự nhiên thoải mái, không thật gắn bó thắm thiết. Long cho rằng đấy là tại Vân không hiểu được lòng mình. Và anh cũng không ngăn được mối nghi ngờ: hay là Vân đã có hơi đổi khác. Không hiểu sao, cái hình ảnh Vân và Thiện cười đùa thân mật với nhau bên bờ suối của bệnh viện thỉnh thoảng lại hiện lên trong tâm trí Long. Long cố gạt cái hình ảnh ấy đi, anh nghĩ rằng nghi ngờ bạn và Vân là một tội lỗi, là không xứng đáng, nhất là hôm Vân đưa lại anh cuốn nhật ký, anh được biết chính Thiện đã cứu anh khỏi chết và chính Thiện đã có ý bảo đảm cho anh nhận công tác kháng chiến. Đúng là nếu giữa Thiện và Vân có tình ý với nhau, thì chắc Thiện đã không đối xử với mình như thế. Long cũng thấy được cái cao thượng trong việc làm của Thiện. Thiện cứu anh nhưng không hề nhắc lại chuyện ấy, coi như là một việc rất tự nhiên, rất đáng phải làm và chỉ có thế thôi. Long tự nhủ mình cũng phải tỏ ra xứng đáng với việc cứu mạng và hành động cao thượng của Thiện và anh nghĩ bụng nhất định sẽ có dịp anh đền ơn bạn một cấch cân xứng. Nhưng lý trí của anh nghĩ thế mà tình cảm của anh vẫn không yên ổn. Có những buổi chiều, anh ngồi thừ ra, không có việc làm, và cũng không còn nghị lực để làm một việc gì. Anh chờ đợi Vân tới với anh. Nhưng Vân vẫn không thấy tới. Một ngày, hai ngày, rồi một tuần, hai tuần. Long chua chát nghĩ: Cô ả đổi lòng rồi. Cũng chẳng thèm tới xem mình đến làm việc ở đây nó ra làm sao. Cũng có lúc Long nghĩ rằng Vân ở CK7 xa cách Hòa Mỹ đến 10 cây số, lại phải trèo ba cái dốc núi cao và đúng lý ra, anh lên với Vân thì phải hơn. Nhưng mỗi khi nghĩ như vậy, anh lại tự gạt phăng cái ý đi lên CK7 thăm Vân đi, anh cảm thấy trong hoàn cảnh hiện tại của anh, làm như vậy là tỏ ra quỵ lụy, là mất cái lòng tự trọng của người con trai.


Cuộc sống kháng chiến, đáng lẽ tới với Long như một tia nắng ấm, như một ánh sáng chói lòa, thì lại bị một làn sương mù che phủ. Nhưng chưa một giây nào, Long nghĩ tới việc rời bỏ cái công tác ít ỏi và buồn tẻ của anh ở cơ quan thông tin... Anh đã cảm thấy mình phải quyết tâm chọn lấy một con đưòng.


 


*


 


Chiến khu Hòa Mỹ sau hơn một năm xây dựng đã trở nên tấp nập hơn bao giờ hết. Trên cái bãi đất trống của làng Hòa Mỹ, ngoài ngôi nhà Đại chúng khá lớn của Ty Thông tin tỉnh, còn có thêm câu lạc bộ của trung đoàn 101 to không kém. Hàng chục hàng quán nhỏ nữa cũng đã mọc lên, và khách sành ăn, sành hút không những có thể tìm thấy ở đây phở, cháo gà, kẹo ngọt còn cả những bao thuốc lá Cotab, Mic hay Bastos nữa. Đêm đến, khi các cơ quan lên đèn, cũng là lúc các hàng quán trở nên tấp nập. Có cửa hàng treo cả đèn măng sông từ ở Huế lên đốt sáng lóa cả một góc làng. Đông vui nhất vẫn là cửa hàng của bà chủ tịch Phong Nguyên. Cả ông chủ tịch, một vị thân sĩ đã có tuổi và nguyên là người có khá nhiều ruộng đất ỏ làng này, mỗi khi có bạn bè quen thuộc, cũng kéo họ tới cửa hàng của vợ để đàm đạo. Mặc dù những lớp rào tre mọc lên ở một số nơi để phòng quân nhảy dù, hình như người ta vẫn yên trí chiến khu là bất khả xâm phạm. Vì đã hơn một năm nay mà có bóng một tên Pháp nào dám bén mảng đến đây đâu, tuy rằng chúng đã chiếm đóng toàn tỉnh và có đến hơn bảy mươi vị trí. Cái khẩu hiệu chống chủ quan, phải cảnh giác của tỉnh ủy và ban chỉ huy trung đoàn đưa ra được mọi người, kể cả những cán bộ đứng đầu một số cơ quan tỉnh coi là khẩu hiệu tuyên truyền “chẳng qua trên cần giáo dục nhân dân thì cứ phải để ra mà thôi”. Ở những hàng quán của chiến khu này, người ta bàn chuyện công tác một cách công khai, người ta còn lấy làm thú vị khi thấy cả người chủ quán cũng gãi ria mép bàn góp vào câu chuyện. Chà, đất trời sang xuân sao mà dễ chịu. Hình như qua những cơn vật vã ban đầu, máu người ta đã dần dà khá quen vối con ma sốt rét. Số người bị sốt không phải là không còn. Có người còn bị lên cơn điên vì sốt rét nữa cơ đấy, những dáng ngưòi thân tàn ma dại, lê chân không nổi vì sâu quảng ăn gần hết cả bắp trái chân và ngồi không nổi vì sốt rét, xem chừng đã bớt đi khá nhiều rồi. Cứ thế này thì kháng chiến mưòi năm cũng được. Từ những làng mạc xa xôi, tận mé bờ biển, từ những vùng Thành Lượng, Kê Môn, Đại Lược của hai huyện Phong, Quảng và từ cả một số vùng của huyện Phú Vang như Hà Thanh, Hà Úc, những gánh gạo, muốỉ, ruốc, cá khô, thuốc lá đã thấy chở lên chiến khu đều đều hơn trước. Dốc Bà Quế ở CK1 đã quang hẳn ra vì chân người đi.


Một việc mới nữa cũng đã xảy ra: đó là những đám cưới. Lúc đầu, đó là một đám cưới ở một cơ quan bộ đội, giữa một cán bộ tiểu đoàn với một chị cứu thương. Đám cưới ấy hãy còn làm đơn giản, số khách mời tới không đông lắm, nhưng cũng đã có nước chè, thuốc lá và một ít kẹo vừng, đủ cho mỗỉ người dự tiệc ăn hai cái nhấm nháp. Đến đám cưới thứ hái, thứ ba thì bộ đội nảy ra sáng kiến tổ chức ở nhà câu lạc bộ của trung đoàn. Rồi các cơ quan dân, chính, đảng bắt chước tổ chức đám cưói ở nhà Đại chúng. Vô tình, cơ quan của Ty Thông tin tỉnh biến thành một nơi cho mượn trụ sở và các phương tiện trang trí cho những đám cưới đời sổng mới ở chiến khu. Cứ như thế mà nhu cầu ngày càng tăng lên. Các đám cưới dần dần đòi hỏi phải có thêm bánh kẹo, có khẩu hiệu, có hoa rừng. Ty Thông tin dành cả một căn phòng nhỏ làm buồng hạnh phúc cho những cặp vợ chồng mới cưới. Các cơ quan có những cặp vợ chồng mới cũng phải


vây lấy ít ra là một chỗ riêng cho những lứa đôi làm tổ ấm gia đình.


Đám cưới giữa Út và Lựu cũng đã tổ chức ở nhà Đại chúng tuy cả hai lúc đầu đều không muốn, họ chỉ muốn làm tiềm tiệm ở cơ quan cho xong. Nhưng anh trưởng ban sinh hoạt cơ quan đã muốn như thế, chối cũng không được. Hôm Út tới nhà Đại chúng để xem việc trang trí đã xong chưa thì anh gặp Long đang ngồi đọc sách một mình ở trong căn phòng rộng và trống trải ấy. Thấy có bóng người ngấp nghé đứng nhìn ngoài cửa, Long quay ra nhìn. Anh nhận ngay ra Út, người thợ điện đã đào giúp anh những nhát cuốc chắc nịch. Quên mất rằng chính Út đã trông thấy anh bị giải lên chiến khu như một tên Việt gian, Long đứng ngay dậy vội vã nói:


-  Kìa, đồng chí công nhân. Có việc gì cần thế đồng chí?


Đến lượt Út hơi ngạc nhiên khi nhận ra Long và nghe Long gọi mình bằng đồng chí một cách thân mật tự nhiên. Rõ ràng mình thấy anh chàng này bị bắt giải lên chiến khu kia mà, Út nghĩ thế và anh dè dặt đáp:


-  Vâng. Chả là… cơ quan tôi có mượn... để tối nay làm đám cưới... nên tôi tới...


Long vui vẻ đáp:


-  À, vậy ra đồng chí ở Ty Công an. Có, tôi phụ trách trang trí ở đây, tôi có biết việc ấy. Mọi thứ đều đã sẵn cả. Chả là đây không phải là đám cưới thứ nhất tổ chức ỏ đây. A, mà đám cưới ai với ai đấy đồng chí? .


Út vẫn chưa hết nghi ngại. Anh khẽ đáp, giọng nói hơi ngượng nghịu:


-  Vâng. Làm đám cưới của tôi với... Vậy ra, anh là...


Thấy dáng điệu ngập ngừng và vẻ mặt nghi ngại của Út, Long chợt hiểu ngay. Anh thấy mình cần chủ động nói đề Út hiểu hoàn cảnh của mình. Và chỉ một phút sau họ đã ngồi nói chuyện với nhau thân mật.


-  Anh Út ạ! -  Long vỗ vai Út nói với một giọng hết sức cởi mở và thành khẩn. -  Cái hôm gặp các anh đào hầm ở gần Kim Luông ấy đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều. Không, cũng không phải mãi đến hôm ấy tôi mới thay đổi. Thay đổi từ trước kia. Nhưng thật là cảm ơn các anh, cảm ơn anh. Nào anh cho tôi bắt tay anh một cái để tồ lòng biết ơn chân thật của tôi.


Út hơi ngạc nhiên và hơi ngượng trước cái kiểu cách bày tỏ tình cảm của Long, xưa nay, những bạn thợ của anh chưa hề làm như thế. Nhưng anh cũng chìa tay ra cho Long bắt và chỉ nói khẽ:


-  Anh nói quá. Chúng tôi chỉ là dân thợ, văn hóa kém lắm.


Long nói giọng sôi nổi:


-  Không. Chính tôi bây giờ thèm được là người như trong giới các anh. Tôi nói thật đấy. Tôi có nhìn ra vấn đề tôi mới nói như thế. À mà quên, xin lỗi, mải nói chuyện khác, quên không hỏi anh cho biết chị ấy tên là gì, cũng làm ở cơ quan anh chứ.


Út không trả lời vội. Anh đang mải nghĩ tới câu nói của Long. Lạ nhỉ, những người có học bây giờ cũng muốn là dân thợ. Nói thế thôi chứ, ai lại muốn ngược đời như vậy. Tự nhiên, Út lại thấy nhen lại trong lòng anh cái niềm thắc mắc anh đã có từ lâu lắm:tại sao nói Đảng Cộng sản là của thợ thuyền mà riêng anh vẫn không thấy ai nhắc tới việc cho anh vào Đảng. Hay là tại mình có khuyết điểm gì? Chỉ quen nhất có bác Hải già thì bác ấy bây giờ tận trên tỉnh ủy mấy khi gặp. Út muốn nói ra cái điều thắc mắc ấy lắm nhưng chợt nhớ ra cái người đang nói chuyện với mình là Long người mới tham gia kháng chiến sau khi bị bắt, anh lại thôi.


-  Kìa anh, nghĩ gì mà thần ra thế. Nghe tôi hỏi tới chị ấy là đã tương tư ngay rổi à?


-  À, không. Vâng. Vợ tôi sắp cưới là Lựu, cái ngưòí đàn bà mà chắc anh đã thấy hôm... đi lên chiến khu ấy Lựu cũng ở cơ quan tối.


-  À, thế ra là em bác Na, trước nhà tôi. Chị ấy xinh đấy chứ. Hồi trước cũng có đến nhà tôi ở Huế một vàí lần. Thôi, thành thật chúc anh chị hạnh phúc...


Long đang vui vẻ nói, tự nhiên liên tưởng mối tình giữa anh và Vân đang dang dở, anh bỗng thấy buồn nản, không ngăn được một tiếng thở dài kín đáo...


 


                                                            *


 


Gian phòng rộng của nhà Đại chúng tối hôm ấy đã được Long đem hết tài sức ra trang trí. Phía tường trong đối diện với cửa ra vào, dưới bức chân dung Hồ Chủ tịch là tấm vải đỏ với khẩu hiệu “Vui duyên mới không quên nhiệm vụ”. Dưới khẩu hiệu ấy, trên cái bàn nứa trước đây vẫn dành cho các diễn giả, Long đã chịu khó nhặt được khá nhiều hoa dại trên rừng và đem cắm trong một vài ống nứa. Ấy thế mà xinh và hợp cảnh đáo để. Bỏi vì giữa cái khung cảnh mọi thứ đều bằng nứa ấy, nếu để vào đấy một chiếc bình sứ hay một lọ pha lê thì chưa chắc đã ăn ý. Bàn tiệc cưới được xếp thành hai dãy dài theo chiều dọc. Không có khăn bàn, cũng không đủ cốc uống nước. Ty Thông tin đã cho mượn ba cái tích và chừng mười cái cốc, ai khát cứ việc chuyền tay mà uống. Kẹo bánh cũng không có nhiều, mỗi người chỉ dược chừng ba cái kẹo vừng và một cái kẹo giấy. Chỉ có thuốc lá là khá đủ. Và người ta, trong khi chờ đợi lễ cưới bắt dầu, đã phun khói đầy um cả gian phòng. Và ngưòi ta cũng tự động chia thành nhóm nhỏ, nói chuyện với nhau râm ran đủ mọi thứ, trong khi chú rể còn đang lúng túng vì chưa thuyết phục được cô dâu cứ mạnh bạo ra mắt bà con.


Thật là một gánh nặng cho Út. Khi không đem anh ra mà làm tội làm tình thế này. Cứ như ý anh thì ở đây đã không nhà không cửa, không cha mẹ họ hàng thì chỉ làm qua loa ở cơ quan trong CK1 cho xong. Nhưng ngưòi ta lại cứ bắt làm theo đời sống mới. Người ta bảo rằng cái lệ ở chiến khu sang năm thứ hai này là thế. Để anh phải loay hoay đi mượn cho được một bộ quần áo khá lành lặn trong kho quân trang và mượn cả cho Lưu nữa. Thuyết phục được Lựu mặc cái bộ quần áo ấy, mặc dù đó chỉ là một cái áo cánh ngắn bằng vải phin trắng và một cái quần đen mượn của chị thư ký văn phòng của Ty. Rồi cũng chính Út phải thuyết phục Lựu chịu đi ra dự đám cưới ở Hòa Mỹ. Cô gái này từ hôm nhận lấy Út không hiểu sao cứ người trở chứng. Nói gì cũng không chịu nghe nữa. Bảo chịu khó đi ra Hòa Mỹ vì người đã lỡ tổ chức cưới ở nhà Đại chúng rồi, thế mà cứ nguây nguẩy: “Đấy, anh muôn cưới “người ta” thì cứ đi ra, em chẳng đi đâu cả”.


Út cười:


-  Thì người ta là cô chứ là ai nữa, cô ăn nói lạ thật.


-  Ứ! Ừ bảo em ăn nói lạ, thôi, chết thì chết, em không đi đâu nữa.


Thế là Út lại phải ra công dỗ dành. Đại khái, cái gánh nặng của anh nó là như thế. Thế nhưng rồi không hiểu sao cứ đến phút cuốì cùng thì mọi việc rồi cũng ổn cả. Cả cái việc đem cô dâu ra trình mặt bà con, cuối cùng rồi cũng xong. Út và hai cô phù dâu, một chị làm y tá, một chị làm cấp dưỡng của cơ quan, và hai chàng phù rể là Hiền và Bao, đã “đùn” được Lựu ra khỏi căn phòng mà Lựu lúc đầu cứ nhất định ngồi ỳ. Rồi cả năm người ấy phải vây quanh lấy cô dâu, áp giải cô đi như giải tù, có nghĩa là ngăn đàng trưốc chặn đàng sau không cho cô quay lại hay chạy đi đâu mất. Chú rể thì vừa sung sướng vừa ngượng nghịu trong bộ quần áo sột soạt, cô dâu thì cúi gằm mặt xuống đất, tai và đôi má đỏ bừng như trái bồ quân chín, và họ đi vào phòng cưới giữa một tràng pháo tay lốp đốp. Không biết có cậu nào ở Ty công an bỗng đem ra nổ đột ngột tràng pháo chuột ngắn bằng gang tay còn để dành từ Tết, Thế là người ta lại reo lên ồn ã, người ta đứng cả dậy và đòi cô dâu ngẩng mặt lên. Cái tràng pháo cưới ở chiến khu, tuy ngắn ngủi đơn sơ, nhưng sao mà ấm cúng. Hương pháo và một vài mảnh pháo đỏ nổ tung trưóc cửa gây cho người ta một ấn tượng về hạnh phúc.


Lựu thì cứ như người bị ù tai, cô đi mà không hay biết gì nữa. Chỉ có cảm giác như mình đang đi vào một nơi đầy hạnh phúc và cái nỗi sung sướng của cô làm cô như say, như ngây ngất, bàng hoàng. Lựu cũng biết rằng mình không nên “làm gái” quá. Nhưng không hiểu sao mà cô cứ thấy thẹn thùng quá đỗi, cô chỉ muốn có cái gì để che mặt lại cho không ai thấy nữa. Nhưng cô lại cũng muốn trong khi ấy thì mọi người đều biết nỗi sung sướng của cô và đều thấy cô cũng là cô gái quê xinh xắn không kém chị kém em trong làng bao nhiêu. Trong thoáng chốc, Lựu tưởng như mình đang ăn cưới ở làng và chung quanh là những ông chú bà bác. Đột nhiên cô nhớ tới mẹ và rơm rớm nước mắt. Cô liếc nhanh sang Út và bỗng như nhớ lại hình ảnh hồi nào anh nằm ở cái ổ rơm nhà ngoài, một đêm mới gần đây thôi, ở cái làng êm đềm mà cô đã sống từ thuở nhỏ với mẹ...


Mọi người đang ngủ say sau một đêm vui đùa nhộn nhạo, sau một cái đám cưới tưng bừng, thì một tiếng nổ vang động cả núi rừng trong buổi ban mai làm ai nấy tỉnh giấc, bàng hoàng, ngơ ngác. Có tiếng ì ì. Không biết có ai vừa tung chăn dậy đã hét lên mấy tiếng kinh khủng: máy bay ném bom! Tiếp theo tiếng hét là một tiếng nổ nữa, lần này to hơn và nghe rõ ràng là gần hơn. Bụi trên trần nhà rắc xuống như vôi bột, đất dưới chân người ta như rung lên. Tất cả, hối hả, người ta chạy vội ra khỏi nhà, tìm tới những chiếc hầm tránh bom nông choèn mới đào vội chưa được một tuần.


Út tỉnh dậy trước, anh quơ vội cái chăn và lay Lựu:


-  Lựu, dậy mau. Máy bay. Ra hầm.


Lựu vẫn ngủ say sưa, môi hé mở một nụ cười thật hồn nhiên như trẻ nhỏ. Cô trở mình một cái, ôm chặt lấy cái chăn như mới đầu hôm qua, cô ôm ấp người yêu. Út chợt thấy trào lên niềm cảm xúc. Không hiểu sao trong lúc nguy biến như vậy mà anh lại chợt thấy yêu Lựu vô ngần. Anh khẽ cúi mình xuống ôm ngang lưng Lựu, khẽ nựng: “Dậy, đậy em”.


Tiếng bom nổ lần thứ hai kéo Út về thực tế. Anh chợt thấy hốỉ hận vì đã không nghe lời Lựu. Đêm qua, lúc tan tiệc cưới, Lựu đòi về ngay cơ quan. Nhưng anh đã nghe lời Long và các bạn khác ở lại Ty Thông tin vì ngại trời tối Lựu của anh đi về cảm lạnh, hoặc vấp ngã. Giá bây giờ mà ở CK1 thì có phải ổn không. Rừng rậm ấy, máy bay dò có hàng năm cũng không ra. Ở đây thì trống trải, nhà cửa lộ thiên, lại không biết có đủ hầm mà nấp hay không.


Lựu đã mở mắt ra, đôi mắt ngái ngủ và hình như hơi ngạc nhiên vì thấy Út đã đứng dưới giường mà không còn nằm ôm lấy cô ở trên giường. Nhưng chỉ một thoáng, Lựu đã hiểu cả: “Máy bay à anh?”.


Họ cùng chạy vội ra hầm. Cũng may, cách phòng hạnh phúc không xa lắm có hai cái hầm cá nhân khá sâu còn để trống. Út không thấy sợ cho mình, anh chỉ lo cho Lựu. Mà quả thật, lần đầu tiên Lựu bị cái cảnh máy bay bay lượn, ném bom và bắn phá ngay trên đầu. Tim Lựu đập thình thịch, mặt biến sắc, cô cứ chúi đầu xuống cố cho thấp hẳn người đi trong chiếc hầm chừng nào hay chừng ấy, không hề dám ngẩng lên.


Chính nhờ cứ thỉnh thoảng lại ngẩng lên nhìn sang phía hầm của Lựu mà Út trông thấy một đoàn máy bay gồm hơn một chục chiếc đang nặng nề lượn những vòng đầu tiên trên bãi đất trống rộng chừng một chục cây số vuông của làng Hòa Mỹ. Một dấu hỏi lớn hiện ra trong óc Út: Chúng bay nhiều như thế để làm gì? Một cục đen đen đầu tiên từ cái bụng trắng hếu của chiếc đa- cô- ta rơi ra rồi nở ra thành một cái dù màu xanh lục. “Chúng nó nhảy dù”, Út bỗng nhảy vọt lên khỏi miệng hầm của anh rồi hét lớn lên như thế. Anh biết rằng chung quanh cơ quan Ty Thông tin có nhiều người đang nấp trong các hầm tránh bom và có thể là họ cũng chúi đầu xuống đất như Lựu không biết quân địch đang làm gì. Rất nhanh, Út nhảy một bước tới bên chiếc hầm của Lựu, gọi to:


-  Lên, Lựu, chạy vào CK. Chúng nó nhảy dù.


Rồi anh chụm hai tay vào miệng làm thành như chiếc loa, hướng về các phía hét lớn: “Đồng bào ơi. Tây nhảy dù. Ra khỏi hầm, chạy vào rừng”.


Anh cúi xuống kéo Lựu lên chạy nhanh tới con đường hào mà bộ đội tiểu đoàn Thuận Hóa mới đào thông từ Hòa Mỹ vào CK1. Từ bốn phía các hầm chung quanh làng Hòa Mỹ, toán người chạy tán loạn theo đủ các ngả vào rừng.


Lựu bước khỏi hầm và trái với dự đoán của Út, khuôn mặt bình tĩnh của cô làm Út ngạc nhiên. Cô liếc nhanh về phía đoàn máy bay địch đang lượn vòng hỏi út:


-  Nhảy dù đâu anh?


Út kéo tạy Lựu, gắt:


-  Chạy mau đi đã. Vào CK1.


Sao anh lại gắt em?


Út càng gắt to hớn, tay phải anh giật Lựu gần như ngã chúi:


-  Đã bảo mau lêụ mà! Chạy thôi.


Lựu chạy theo Út. Được mươi bước, bỗng cô thấy Út dừng ngay lại, dúi cô vào một cái hố đất nông chưa kịp hiểu gì cả thì đã nghe thấy tiếng rú lên rùng rợn của chiếc máy bay “xít- fít- phai” nhào xuống như con diều hâu dữ tợn. Cô nhắm mắt lại. Nhưng không, chiếc máy bay đã bắn một tràng liên thanh xuống cách chỗ Út và Lựu nằm đến hơn chục thước. Nhưng họ cũng đã ngửi thấy mùi thuốc súng khét lẹt và những mảnh đất vụn đã văng tới gần bên họ. Lợí dụng lúc máy bay vừa bay ngược lên, Út lại kéo Lựu chạy. Đây rồi, họ đã tới cách con đường hào chừng hơn trăm thuớc. Chỉ gắng một chút nữa thôi là sẽ có một con đường để chạy khá an toàn, và theo con đường hầm ấy chỉ chạy chừng nửa cây số thôi là vào hẳn những lùm cây rậm rạp. Từ đấy vào cho đến CK1, đến cơ quan Ty Công an, quân nhảy dù chắc là không thể vào được. Vào đấy, ta sẽ xin lấy ngay súng đi trợ chiến với hộ đội, Út vừa nghĩ như thế vừa liếc mắt nhìn về địa điểm quân dịch nhảy dù. Anh ước lượng chúng nhảy xuống chỗ ấy lầ gần cơ quan công khai bên ngoài rừng của tỉnh bộ Việt Minh, cách chỗ anh đang chạy chừng một cây số rưỡi. Kịp chán, anh nghĩ thế, miễn là Lựu và mình không bị máy bay bắn phải.


Nhưng Út đang nắm tay Lựu chợt thấy Lựu rời tay ra và đứng lại nhìn quanh một lát như để nhận xét cảnh vật chung quanh.


-  Chạy đi em. Nhìn cái gì thế?


-  Anh ạ? Đây là chỗ hôm nọ em vói anh và cô giáo Phượng chôn rào nứa đây.


Mãi đến lúc ấy Út mới để ý thấy chung quanh mình là những chông nứa cắm tua tủa. Nhưng anh lại giục Lựu:


-  Chạy đi em


Trước sự ngạc nhiên của Út, Lựu không chịu chạy cô nói:


-  Sao anh vội vã thế, rào nứa thế này còn sợ gì quân nhảy dù hả anh?


-  Rồi chỉ tay về phía một lùm cây nhỏ và thấp lè tè về phía bên trái ngay gần đấy, Lựu nói:


-  Nấp vào đây đã đi anh. Em mỏi chân lắm rồi.


-  Không được. Giao thông hào kia rồi kìa, chỉ còn dăm bước nữa, nhưng từ đấy vào rừng còn hơn hai trăm thước, nghỉ lại bây giờ một chút là nguy hiểm lắm.


Như để chứng minh cho lời nói của Út, chiếc máy bay khu trục “xít- fít- phai” lại bổ nhào xuống như một con quái vật, vối một tiếng rít kinh khủng như muốn nuốt chửng cả hai người.


-  Chạy ra giao thông hào. -  Út thét lên.


Nhưng anh chỉ kịp nhận thấy Lựu chạy bổ vào lùm cây phía bên trái mà cô vừa chỉ. Một tràng đạn đại bác 20 lý 7 từ trên máy bay xả xuống rít lên ngay trên đầu Út, làm anh phải nằm chúi xuống tận đáy giao thông hào, không dám ngẩng đầu lên. Đất vàng đậm văng lên bắn vào đầy người anh và phủ lên mái tóc Út cả một mảng dày. Chết, không biết Lựu có việc gì không, chỗ ấy làm gì có hầm, Út nghĩ như thế và mặc dù đầu óc đang ù lên, không biết máy bay địch đã bay ngược lên chưa, anh cũng cứ nhổm người dậy nhìn về phía lùm cây thấp phía bên trái. Và lạ lùng chừa, anh thấy Lựu vẫn bình tĩnh ngồi thu mình, dưới một gốc cây thấp, ngồi chứ không hề nằm, và mặt cô đang đăm đăm nhìn lên một chiếc đa- cô- ta của địch, Út gọi lớn:


-  Lựu, chạy đi em.


Lựu tự nhiên mỉm cười, nói như tiếng chim hót:


-  Nó không bắn nữa đâu, nó đang chúi mũi xuống phía dốc lên CK7 kia. Anh xem kìa, mấy cái này... Có lẽ nó sắp thả dù xuống ngay chỗ này.


Út đứng thẳng người dậy, nhận thấy đúng là chiếc máy bay khu trục đã chuyển hướng sang bắn phá ở phía bắc chiến khu, gần Khe Me. Nhưng trên đầu anh, một số chiếc dù lôm đốm đang thong thả rơi xuống, Út đột nhiên thấy lo sợ: tay không thế này, lại vướng Lựu ở đây, nó nhảy dù xuống ngay trước mắt mình thì làm thế nào?! Út nhảy ba bước tới bên cạnh Lựu định kéo vợ chạy. Nhưng không biết từ bao giờ Lựu đã nắm ở trong tay một cái gộc tre, chừng như của một người nào đó đã dùng để nện đất hôm chôn rào chống quân nhảy dù ném vào đấy, và một tay cô nắm chặt lấy thân cây mà cô nấp, không chịu chạy theo Út. Út hét lên:


-  Lựu, chạy chứ! Làm cái gì thế?


-  Sợ gì anh. Em muốn tận mắt thấy một thằng Tây nhảy dù bị chết vì rào của em chôn.


-  Liều quá, không được...


Một tiếng soạt như xé lụa ngay trên đầu hai người làm Út im bặt và ngẩng lên nhìn. Đúng là một chiếc dù to tướng đang phủ lên đầu họ và cả hai cùng có cảm tưởng như một cái lọng khổng lồ đang ụp xuống. Một thằng lính Pháp nhảy dù bỗng vướng phải đầu nhọn của chiếc rào nứa. Hắn rú lên một tiếng kinh khủng. Chiếc rào nứa đã đâm thủng chiếc quần ka ki dày cồm cộp của hắn và xọc mạnh vào đùi hắn. Nhưng sức nặng của hắn và cả chiếc dù làm chiếc rào nứa nghiêng dần rồi đổ hắn xuống, cùng với tiếng rơi đánh phịch xuống đất của một tấm thân nặng nề đã bị thương.


Nhanh như cắt, Lựu đã chạy ra và dùng hết sức đánh cây gộc tre vào đầu tên lính Pháp làm hắn làn quay ra bất tỉnh. Lựu hét lên vui sướng:


-  Anh Út ơi. Anh Út đâu. Nó có súng. Anh tước lấy khẩu súng này.


Út chạy vội ra, giằng lấy khẩu súng sau vai tên lính Pháp. Đó là một khẩu súng Mỹ, kiểu súng tôm- xơn và những băng đạn mới nguyên.


Lựu bỗng chạy thêm mấy bước nữa về phía trái.


Út hoảng kinh gọi với:


-  Lựu, chạy đâu? Vào rừng thôi. -  Lựu như không nghe tiếng Út gọi, cô vẫn cắm đầu chạy.


Nhưng chỉ được vài bước, bỗng cô như đứng dừng lại trong một tư thế hoàn toàn không tự nhiên, rồi hai tay ôm ngực, cô lảo đảo vài cái rồi ngã vật ngay xuống đất.


Sự việc xảy ra quá nhanh làm Út không còn kịp suy tính gì nữa. Mặc cho làn mưa đạn của quân bộ địch hình như đã lội qua dòng sông Ô Lâu kéo lên đang bắn tới tấp về phía anh, Út lao mình về phía Lựu vừa ngã xuống. Anh cõng lấy thân hình còn nóng hổi và mềm nhũn, chạy nhanh về phía giao thông hào rồi đặt xuống, lấy tay lay mạnh người Lựu. Lựu đã tắt thở.


Thật là như một cơn ác mộng. Mới đêm qua đây, Lựu còn nằm gọn trong tay anh, thế mà bây giờ...


Đôi mắt Út vằn lên những tia máu dữ tợn. Anh chỉ nghe mang máng phía sau lưng mình ngay bên bờ giao thông hào có tiếng chạy dồn dập của một trung đội vệ quốc quân đang rút lui. Và anh có thoáng nghe tiếng ngưòi nào hét lên, chừng như cốt để anh biết: “Chạy đi thôi! Nó lên đến nơi rồi!”.


Nhưng Út không còn nghĩ gì tới việc chạy. Anh đặt Lựu nằm ngay ngắn trong giao thông hào, lấy tay khẽ vuốt mắt cho vợ rồỉ cầm khẩu tôm- xơn, anh đứng thẳng ngay dậy, lăm lăm chĩa khẩu tôm- xơn về phía quân địch đang tiến lên. Bên tai anh, tiếng đạn rít lên từng hồi ghê rợn. Những tiếng cắc bụp, viu. Những cành cây con bị bắn vào như tơi ra trước cơn giông bão của súng đạn con người. Trong làn khối đạn mù mịt, bỗng Út trông thấy một khẩu liên thanh FM không biết của ai bỏ chỏng chơ trên miệng giao thông hào, chỉ cách chỗ anh đứng chừng 10 thước. Út nhảy vọt khỏi chỗ nấp, chạy như tên bắn về phía khẩu súng. Anh chỉ kịp nhận thấy một khuôn mặt vệ quốc quân rất trẻ nằm vắt ngang trên miệng chiếc hố giao thông vào khẩu FM nối với một băng đạn dài còn chưa moi hết ra khỏi chiếc thùng đạn. Út còn trông thấy cả một rẻo đất cách chỗ khẩu súng ba bước có thể làm một chỗ bắn rất thuận lợi. Rất nhanh, anh nhảy bổ tối bên mô đất, nằm dán người xuống đất, chĩa cái nòng súng đen ngòm bóng loáng của khẩu FM về phía bờ sông Ô Lâu. Anh để khẩu tôm- xơn nằm dọc ngay bên cạnh mình. Tự nhiên, không hiểu sao Út bỗng thấy mình bình tĩnh hơn bao giờ hết. Nỗi sợ sệt lúc nãy hình như tan biến đâu mất cả khi trong tay anh hai khẩu súng. Anh nằm im lặng chờ quân địch, quên không chú ý rằng cả một trung đội bờ sông Ô Lâu vừa phải rút lui hỗn loạn và giờ đây, trên cả một trận dịa dài hàng trăm thước, anh chỉ có một mình...


 


 *


 


Đội quân bộ Pháp vẫn thong thả tiến lên theo đội hình hàng ngang dưới sự yểm hộ của máy bay khu trục và súng liên thanh. Năm khẩu đại bác 75 ly thì vẫn đặt ở phía đồn Đất Đỏ, cứ cách một phút lại bắn một loạt lên các triền núi. Tiếng đạn đại bác nổ trên rừng núi nghe âm vang rùng rợn như những cơn sấm truyền những khi trời sắp lên cơn bão giật. Và tiếp sau tiếng đạn đại bác rung chuyển cả núi rừng, là tiếng từng bầy vượn sợ hãi hú lên như tiếng còi tàu hỏa. Những phát đại bác ấy cố nhiên là không trúng vào đâu cả, tuy rằng cũng có quả rơi hú họa vào địa phận CK1 hay CK2, CK3. Tuy vậy, đại bác yểm hộ cùng làm cho toán lính bộ Pháp và ngụy binh cũng như đại đội nhảy dù thêm yên tâm tiến lên. Quân Pháp, đúng là một đội quân nhà giàu, đã bắn không tiếc đạn. Bất cứ một bụi cây, một hàng rào tre nứa, hay một mái lau nhỏ, đều được tưới mưa đạn kỹ. Và sau đó, khi bộ binh xông lên đến chiếm lĩnh những khu đất hoang vắng, những căn nhà bỏ trống, vài cái lán chơ vơ thì ngọn lửa cũng bắt đầu bốc lên thiêu trụi cả làng Hòa Mỹ. Mấy trăm nóc nhà, cả những quầy hàng chưa chạy kịp phút chốc đều ra tro. Có tiếng cười rú lên man rợ của những tên lính nồng nặc mùi rượu mạnh. Có những phát đạn lẻ tẻ bắn vào những con gà, con chó, vì không đủ trí thông minh để chạy theo chủ chúng vào rừng, nên bây giờ thành mồi ngon cho đội quân của cường quốc Pháp. Nhưng chiến thắng của quân Pháp, nói cho thật khách quan, cũng không phải chỉ có như thế. Trong số hơn một nghìn con người ở làng Hòa Mỹ, cán bộ có, thương binh có và đông nhất là nhân dân mở hàng quán ở chiến khu, có đến vài chục người quá tin vào cái hầm tránh bom của mình, đã không biết rằng có quân nhảy dù và quân bộ đánh lên chiến khu. Phần nhiều những người xấu số còn ở lại đó là những phụ nữ và trẻ con những ông già bà cả vì quá sơ nên cứ chúi người xuống đất và không nghe tiếng loa gọi của bộ đội. Những người bất hạnh, vinh dự thay lại nằm trong con số quân Việt Minh bị giết mà bộ chỉ huy chiến dịch tiêu diệt chiến khu báo cáo lên bộ chỉ huy quân lực Pháp ở Trung Kỳ.


-  Thắng lợi! Thắng lợi! Hu- ra!


Đám quân bộ lúc gặp toán quân nhảy dù đã cùng nhau reo to lên như thế. Phải, thắng lợi rõ ràng quá. Quân nhảy dù nhảy xuống căn bản là không gặp phải sức kháng cự gì. Chỉ có một chiếc máy bay đa- cô- ta trúng phải đạn liên thanh, được lệnh bay trước về căn cứ. Một số tên nhảy nhầm xuống vùng có cọc rào, trong đó hai tên bị thương, còn một tên nhảy quá sâu gần vùng rừng rậm, chưa rõ số phận. Một mũi tiến từ phía Hiền Sĩ, Cổ Bi lên, một mũi từ vùng Đất Đỏ, và một mũi từ đồn Mỹ Chánh tiến lên vùng Khe Me, cả ba mũi ấy đều chỉ vấp phải sức kháng cự yếu ớt của quân Việt Minh. Chỉ có mũi quân tiến từ Đất Đỏ lên, tiến thẳng ngay vào làng Hòa Mỹ là gặp phải một hỏa lực kháng cự tương đối mạnh. Chỉ có một dúm ấy Việt Minh, mặt đứa nào đứa ấy vàng bủng ra vì sốt rét, ăn thì chỉ có rau me rừng với nước lã thế mà dám đương đầu với cả lục quân và không quân phối hợp của nước Pháp. Cái đội quân gì mà lì lợm. Hình như họ không hề biết gì đến binh pháp, đến chiến lược và chiến thưật. Thì trên một trận tuyến chỉ dài có mấy cây số, quân nhảy dù Pháp đã đánh bọc sau lưng, ba mũi quân Pháp đã khép chặt vòng vây lại như một gọng kìm bằng thép nguội, tưởng chừng ở trong cái mảnh đất cỏn con của làng Hòa Mỹ ấy, một ngọn cỏ cũng không tránh khỏi bị xẻo nát, thế mà giận thay, thỉnh thoảng vẫn có một tên Việt Minh không biết nấp ở cái xó xỉnh nào, bắn trộm một phát. Những viên chỉ huy Pháp tuy căm giận mà vẫn phải phục và phải e sợ những tay xạ thủ ấy. Đúng là chỉ bắn một phát là ăn một người. Mà lại ăn “có trọng điểm” lắm. Cứ nhè những sĩ quan có đeo lon, những xạ thủ súng máy mà xơi từng người một. Và khi lội qua dòng sông Ô Lâu, hơn một chục lính Pháp và lính ngụy đã chết trên dòng nước lạnh đang chảy băng băng. Ồ, nhưng mà kể gì. Cả tháng chỉ có hơn sáu mươi tên lính và sĩ quan bị chết, trong đó quá nửa là lính ngụy, khoảng ba bốn chục tên nữa bị thương thế mà đã chiếm được chiến khu nổi tiếng là bất khả xâm phạm, là đất thần thánh của Việt Minh, trong một trận đánh kéo dài chưa tới hai tiếng đồng hồ, thì thắng lợi đó quả là không thể tưởng tượng được. Cả cái chiến khu hơn một năm nay luôn luôn là cái ám ảnh của bộ chỉ huy quân lực Pháp ở Trung Kỳ, chỉ sau có hai tiếng đồng hồ tiến quân, bây giờ đã bị thiêu trụi thành bình địa. Thắng lợi! Hai tiếng ấy vang lên trong óc thiếu tá Bác- ni- ê, chỉ huy trưởng chiến dịch “Con hổ xám” tiêu diệt chiến khu Thừa Thiên, lúc ấy đang hiên ngang đứng ngay trên nền nhà Đại chúng đã bị cháy trụi nhà nheo mắt nhìn chiếc đa- cô- ta cuối cùng đang lượn vòng thả xuống một đám mây những tờ truyền đơn nhỏ xíu. Thiếu tá Bác- ni- ê nhún vai, mỉm cười, cái cười nửa như tán đồng, nửa như mỉa mai, khẽ lẩm bẩm: “Ồ các nhà chính trị! Để cho người ta làm chiến tranh thôi”. Và trong óc Bác- ni- ê lại lóe lên hình ảnh chiếc lon trung tá khi hắn ra lệnh cho điện ngay về bộ chỉ huy quân lực Trung Kỳ rằng thắng lợi đã hoàn toàn.


Nhưng Bác- ni- ê vừa ra lệnh xong thì đã phải giật mình quay lại. Sau lưng hắn, một đại đội quân Pháp và ngụy binh vừa chạy tán loạn từ phía rừng về. Bác- ni- ê phái luôn một sĩ quan tùy tùng ra chặn toán quân lại. Chỉ một lát sau, tên đại đội trưởng chạy tới, mồ hôi đầm đìa, mặt vừa đỏ lại vừa tái, hơi rượu nồng nặc không át hết được mùi mồ hôi và mùi nước đái hắn vừa tè ướt hết chiếc quần lính ka ki có hai túi dài thòng.


-  Báo cáo thiếu tá chỉ huy. Quân địch phản xung phong gần cửa rừng. Hỏa lực mạnh. Mìn gài nhiều.


Bác- ni- ê giận dữ quát:


-  Đồ khiếp nhược. Bảo chúng nó dừng cả lại. Tư thế sẵn sàng chiến đấu. Theo đội lính tiến lên xung phong.


Quả là Bác- ni- ê nói không nhầm. Cái đại đội lính Pháp tiến vào cửa rừng bị đánh bật lại, chẳng qua chỉ vấp phải một khẩu súng máy của một tên bộ đội Việt Minh còn sót lại trên cả một trận tuyến dài gần 2 cây số. Nhưng cái tên ấy sao mà dai dẳng. Hắn điều khiển, khẩu súng máy sao mà tài tình. Cứ ba phát một, ba phát một, luồng đạn đi như kẻ chỉ, nhằm thẳng vào mũi chủ công của đại đội quân Pháp, quét sát mặt đất. Một vài lính Lê dương say, nghênh ngang vác súng ngược sau lưng cứ thế ngồn ngộn đi lên đã bỏ mạng rồi. Cả những tên say nhất cũng đã phải nằm dán xuống đất. Từ trên sườn núi, một phát đạn súng cối 81 ly rủi thay lại rơi đúng ngay vào chỗ ấy. Và dưới đất một quả mìn cũng nổ tung. Chừng ấy thứ đủ để cho cả một đại đội lính Pháp và bảo vệ quân rút lui tán loạn. Bên kia trận tuyến, nòng súng đen ngòm của một khẩu trung liên vẫn chĩa theo toán rút lại, không ngớt nhả đạn.


Tặc, tặc, tặc. Tặc, tặc, tặc... Út vẫn say sưa bắn, không biết rằng anh chỉ có một mình. Quân giặc đang rút lui. Anh muốn đứng dậy xung phong quá. Nhưng anh cũng đủ tỉnh táo để biết rằng bỏ cái mỏm đất và tư thế nằm bắn lợi hại này mà vác độc một khẩu tôm- xơn lên đuổi theo cả một đại đội thì chỉ là một sự liều lĩnh. Quân giặc đã lui có dễ đến hơn trăm thước. Khẩu súng máy cũng vừa hết đạn. Đột nhiên mắt Út ngước nhìn lên một cành hoa mận rừng trắng tinh đang rủ xuống ngay bên tay phải anh. Giữa đám khói thuốc súng và bụi đất mù mịt không hiểu sao cành hoa vẫn như yên lành nở phảng phất một mùi thơm rất nhẹ. Út với tay bẻ vội cành hoa và chạy tới bên cạnh giao thông hào. Xác Lựu vẫn còn nằm trong hào giao thông, yên lặng như đang trong một giấc ngủ say say lắm. Vác về chăng hay chôn ngay ở đây? Út loay hoay một lúc rồi anh vác xác vợ lên vai, một tay vẫn gắng cầm thêm lủng lẳng khẩu tôm- xơn còn lên đạn sẵn rồi anh len lỏi trong giao thông hào đi vào rừng.


Bác- ni- ê đã điều hai đại đội khác thay đại đội chủ công để đánh vào cửa rừng. Mệnh lệnh của y là “dù thế nào cũng phải chiếm lấy cửa rừng để chặn đường sinh sống của Việt Minh và làm một đầu cầu tiến lên phá hết các chiến khu trên núi của Việt Minh”. Nhưng đợt xung phong lần thứ hai của quân Pháp đã quá muộn. Quân đội Việt Nam đã kịp chỉnh đốn hàng ngũ và ở cửa rừng, họ đã giáng cho quân Pháp những đòn nặng nề. Từ trên sườn núi những phát súng cối 81 ly và 60 ly cùng những khẩu súng máy nặng nề của họ bắn rất trúng. Đường vào cửa rừng hẹp chỉ một người đi lọt. Bên trong, hình như mỗi một bước tiến lên là cả một hố chông gai. Cuộc chiến đấu kéo dài cho đến gần chiều tối thì chấm dứt. Không thể đóng quân trên mảnh đất làng Hòa Mỹ đã bị thỉêu trụi và trơ trọi, quân Pháp đã phải rút quân sang bên kia sông Ô Lâu và đóng một đồn cách làng Hòa Mỹ 2 cây số. Cuộc đánh chiếm chiến khu Hòa Mỹ, như óc mơ tưởng của viên thiếu tá Pháp Bác- ni- ê, đã kết thúc như thế. Thắng lợi hay thất bại? Một mình viên sĩ quan Pháp ỏ một cái góc rừng này không thể nào nhận định được. Đó là cộng việc của bộ chỉ huy quân lực ở Huế, hơn thế nữa, là của bộ chỉ huy quân lực Pháp ở Trung Kỳ.


(còn tiếp)


Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 16.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »