tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21281132
Tiểu thuyết
12.05.2015
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy


III



Nhà ông Tham Nghị ở góc phố Trần Hưng Đạo, tên phố mới do chính quyền nhân dân đặt ra từ sau cách mạng. Người ta gọi ông là “ông tham” nhưng không phải là làm tham tư như các cụ quan to ở các bộ trong một thành. Không, ông làm công chức ở sở công chính, cái chức vụ ông tham người ta đặt cho ông từ lâu và cho đến nay ngưòi ta vẫn gọi như thế theo thói quen. Vợ chồng ông Tham Nghị chỉ có một con trai - Long - năm ấy vừa chẵn hai mươi mốt tuổi và vừa đỗ xong bằng tú tài ban triết ở trưòng Khải Định. Hồi còn bé, Long là một thằng bé hư vì được nuông chiều quá mức. Nó muốn cái gì được cái ấy, muốn ăn muốn mặc ra sao đều được bố mẹ  bằng lòng cho cả vì hai ông bà hiếm hoi, nhất là bà, chỉ sợ không chiều nó, nó sinh ốm đau hay mệnh hệ nào thì... Thế nhưng cũng may là đến năm mười lăm tuổi lúc Long bắt đầu lên học bậc trung học thì cậu họ Long là giáo sư Hanh bắt đầu để ý đến việc giáo dục Long. Sự rèn luyện của Hanh cũng không phải là vất vả, mấy năm đầu, Long chỉ lo ham chơi, lười học. Nhưng Long tỏ ra có nhiều năng khiếu, cậu học sinh ấy khá thông minh và có trí nhớ rất tốt. Chính vì vậy mà Hanh đã không nản trong việc kèm cặp cho Long, nhồi cho Long những điều đạo lý mà ông ưa thích. Sự kèm cặp ấy không phải là không có kết quả. Học lên lớp đệ tứ thì Long đã bớt lười, bớt ham chơi những trò mà anh cho trẻ con. Long bắt đầu ham đọc tiểu thuyết của nhóm Tự lực văn đoàn, đọc thơ của Xuân Diệu, rồi đến Vũ Hoàng Chương. Cũng từ đó, Long đã ôm mộng làm văn chương. Anh cảm thấy mình có rất nhiều năng khiếu về mặt ấy và theo anh thì làm thơ, viết văn không gì là khó khăn, con đường ấy sẽ đưa anh đến bậc thang danh vọng trong xã hội. Hơn nữa còn làm cho tên tuổi anh được lưu danh trong lịch sử. Anh bắt đầu làm thơ, những bài thơ sặc mùi lãng mạn. Đọc và thấy nó cũng xuôi chảy, cũng tình tứ, cũng bóng bảy, cũng có nhiều ý tứ mạnh bạo, nhiều lối dùng chữ độc đáo không kém gì của các thi sĩ danh tiếng đương thời. Chính vì ham thích thơ văn mà trong lớp Long đã chơi rất thân với Thiện, tuy rằng gia đình Thiện nghèo hơn gia đình Long nhiều. Bố Thiện trước học trường kỹ thuật Huế, sau ra làm việc ỏ Sở Máy đèn thành phố. Nhưng năm Thiện mới bước lên lớp đệ tam thì bố Thiện đã bị bắt vì tham gia công hội đỏ. Nhà Thiện đông anh em, mẹ Thiện mở ngôi hàng xén nhỏ gần chợ Đông Ba mà không nuôi nổi các con. Thiện đã tưởng phải bỏ học ngay từ năm ấy. Nhưng cũng may cho anh, chú anh cũng làm đốc công ở Sở Máy đèn, vì chưa có con trai nên nhận chu cấp cho anh tiền ăn học. Cũng như Long, Thiện cũng đọc thơ, đọc tiểu thuyết, anh cũng tập tành làm thơ, anh viết cả truyện thiếu nhi gửi cho Nhà xuất bản Truyền bá ở Hà Nội.



Thiện và Long chơi với nhau nhiều chỗ tâm đầu ý hợp. tuy rằng Long tiêu tiền rất vung tay, Thiện thì quý từng xu một, Long thì ăn mặc sang trọng, Thiện thì ăn mặc hết sức xuềnh xoàng, Long ưa nói những câu đạo lý mà ông cậu họ nhồi cho anh. Dù học những điều đạo lý của Hanh, Long vẫn có khuynh hướng không quý gia đình cho lắm, thường nuôi mộng giang hồ phiêu bạt để được sống phóng khoáng tự do, sống như thế, theo anh mới là cuộc sống của một nghệ sĩ chân chính. Trái lại Thiện rất yêu bố và nhớ bố, anh quặn ruột lại mỗi khi nghe tin bố bị đày từ nhà lao này sang nhà lao khác, anh luôn thấy trong việc bố anh bị bắt có điều gì bí ẩn mà anh không thể thổ lộ với ai được nhưng cũng mơ màng cảm thấy rằng ông bị bắt không phải vì là người xấu mà vì một việc gì đó cao thượng. Và anh rất yêu mẹ, anh xem mẹ là ngưòi mẹ hiền mẫu mực nhất trong các bà mẹ. Tính tình khác nhau như thế mà họ chơi thân với nhau được, ấy là vì tuổi còn trẻ, những điều suy nghĩ chưa rõ nét, họ chỉ thấy họ có những ước mơ giống nhau về sự nghiệp tương lai và thế là Long cho rằng Thiện là người bạn mà suốt đời mình không thể giận, cũng không thể xa, và Thiện ngược lại cũng cho Long đối với mình là người bạn thân thiết nhất trong đời.



Đến lớp nhì ban tú tài phần 1 thì một sự tình cờ khiến cả hai cùng bưóc vào cửa ngõ của tình yêu. Ở vườn hoa trên bờ sông Hương trước cổng trường, hai cậu chợt gặp một cô gái xinh đẹp đang bị một tên du côn săn theo chọc ghẹo. Cô gái đang lo sợ thì Long và Thiện đều xông đến can thiệp, cả hai đều đang độ lớn, cả hai đều ham vận động và có sức lực. Tên du côn biết rằng không đọ sức nổi với cả hai cùng một lúc liền bỏ đi mất. Vân - là tên cô thiếu nữ mười bảy tuổi mà hai cậu vừa ra tay cứu nạn. - Vân vừa đang tuổi dậy thì, dáng người thon đẹp, học lớp đệ tam trường Đồng Khánh. Vừa qua cơn lo sợ, cô bỗng để ý tới hai chàng trai vừa sáng sủa vừa có vẻ lịch sự đang đứng trước mặt cô. Hai cậu tỏ vẻ như không để tâm gì tới cái ơn của mình đã cứu cô khỏi tên du côn trêu ghẹo, coi như đó chỉ là việc thường tình, nhưng lại tỏ ra hơi săn sóc cô quá đáng, nói rằng sẵn sàng đưa cô về tận nhà nếu cô muốn, rồi họ làm quen với nhau.



Cả Thiện và Long đều yêu Vân, cả hai đều ghi trong sổ tay của mình những vần thơ “nóng hổi tình yêu” để tặng “người đẹp trong mơ” của mình. Vân cũng có cảm tình với cả hai. Nhưng trong hai người, Long đã mạnh dạn hơn và Long đã chiếm được trái tim của Vân. Long đưa cho Vân những bài thơ lãng mạn của anh, Long mạnh bạo tới nhà Vân chơi trước Thiện. Thiện ngược lại có thái độ hơi e dè, ngượng ngập, anh cảm thấy việc tỏ tình với bạn gái sao mà khó khăn, lúng túng. Vân cũng có so sánh giữa hai người và cô thấy Long có nhiều tài hoa hơn, phóng khoáng hơn, hợp với ý cô hơn. Nhưng cô cũng ưa Thiện ở tính tình điềm đạm và chân thành. Năm Long đỗ bằng tú tài phần 1, cũng là năm Vân học hết lớp đệ tam, Long đã chính thức tỏ tình với Vân. Cuộc tỏ tình này cũng không có gì đặc sắc, cậu đã viết một bức thư dài hơn chục trang giấy nói nên nỗi lòng yêu đương thầm kín của mình, cậu mong cô sẽ “ban cho anh cái hạnh phúc tuyệt vời được cùng em làm bạn đời vĩnh viễn” và cậu ví việc đó như “ánh mặt trời chiếu sáng cả cuộc đời anh”. Vân đồng ý tới vườn hoa trước cửa trường gặp Long, cuộc tình duyên của họ từ đó bắt đầu bén lửa và Vân đồng ý coi Long là người yêu suốt đời, Thiện là ngưồi bạn thân nhất của cả hai.



Hôm ấy, sau buổi nhận lời hoạt động cho Quốc dân Đảng với Hanh, ông cậu họ và là ông thầy tinh thần, Long nhận được tin trường đại học ở Hà Nội đã mở cửa và anh chuẩn bị để đi học. Anh xin tiền bố mẹ mua một ít bánh kẹo và mời các bạn thân nhất tới dự cuộc vui, gọi là tạm biệt các bạn để ra Hà Nội. Cuộc vui tiến hành đã khá lâu mà chưa thấy Thiện đến. Long đang sốt ruột thì thấy Thiện đẩy cửa vào, cách ăn mặc khác hẳn mọi khi: anh mặc bộ đồ Vệ quốc quân, đầu đội lệch chiếc mũ ca lô có gắn huy hiệu đỏ chói với ngôi sao vàng. Thiện vui vẻ nói:



- Chúc mừng anh Long đi Hà Nội học. Và xin các bạn cũng mừng cho tôi, bố tôi từ trong Nha Trang đã ra đây và hiện làm việc ở cơ quan liên hiệp công đoàn thành phố Huế. Còn tôi xin vào bộ đội và rất may đã được chấp nhận. Nghe đâu trong Nam Bộ bọn Pháp dựa vào thế sức quân Anh để đánh chúng ta. Chính phủ ta đã chuẩn bị cho nhiều đơn vị Nam tiến. Tôi hy vọng được đi. Thật là một dịp may để được làm việc cứu nưóc...



Long hơi sửng sốt. Anh chợt nhận ra rằng trong mấy tháng hè qua và sau ngày cách mạng bùng nổ, sau khi hai người đã tốt nghiệp trung học, Long và Thiện ít gặp nhau. Trong kỳ ra Hà Nội để nộp đơn thi vào đại học, Long đã gặp một đảng viên Đại Việt tuyên truyền và khi trở về Huế, anh đã gặp Hanh và nhận lời hoạt động với Hanh. Anh không biết rằng trong khi ấy Thiện ở Huế lại được các cán bộ Việt Minh tới tuyên truyền vì biết anh là con một đồng chí đã tham gia công hội đỏ và bị tù. Anh cũng không biết rằng sau cách mạng, Thiện đã làm tự vệ chiến đấu, đêm đêm vẫn đi tuần tiễu qua nhà anh cũng như qua nhà cậu Hanh của anh. Long thấy cần phải nói một câu gì để phá tan cái ảnh hưởng mà Thiện vừa gieo trong lòng các bạn của mình. Anh nói:





  •  Thôi Thiện ơi, đây là cuộc vui giữa các bạn học chúng ta, đừng nói cái chuyện chính trị ấy.


    Thiện hơi ngạc nhiên:




  •  Sao, Long ơi, chuyện đi bộ đội cứu nước trong lúc này mà Long cho là chuyện chính trị à?


    Ngòi thuốc súng đã châm lên, Long thấy bắt buộc phải nói chính kiến của anh:




  •  Vấn đề không phải là cứu nước. Vấn đề là đi như Thiện hiện nay là phục vụ cho quyền lợi riêng của Việt Minh. Thiện nhớ rằng có nhiều người không đồng ý với Việt Minh. Đi bộ đội! Hay lắm! Nhưng mà nếu không phải là Chính phủ Việt Minh, nếu là Chính phủ Trần Trọng Kim chẳng hạn, thì Thiện có đi không?


    Thiện thấy không thể kìm mình lại được: Chết, Long bị đứa nào tuyên truyền bậy bạ rồi. Tám mươi năm nô lệ, nay nước ta mới được độc lập, sao Long lại nói như thế?


    Thùng thuốc súng đến đây bùng nổ hẳn. Lần đầu tiên, giữa hai người bạn tưởng “suốt đời không thể giận nhau và xa nhau” bỗng xuất hiện một cái hố" chia rẽ sâu thẳm. Long càng nghĩ càng nóng giận: Thì ra nó bảo mình nghe lời cậu Hanh, một người có danh vọng và có đạo đức như thế,là nghe “đứa nào tuyên truyền bậy bạ”. Long đạp bàn nói lớn:




  •  Tôi nói cho anh biết rằng tôi không ăn phải bả tuyên truyền của ai cả. Chính anh mới bị bọn độc tài đỏ, bọn tay sai đệ tam quốc tế, bọn người coi rẻ trí thức chúng nó tuyên truyền. Cứu nước! Lại đem khoe cái cứu nước ra đây, phải, chỉ có anh với bọn Việt Minh của anh mới cứu nước, còn chúng tôi đây thì bán nước hả.


    Thiện cố lấy giọng điềm tĩnh đáp:




  • Long lạ thật, thì mình có nói Long như thế đâu mà...


    Đến đây, một việc bất ngờ đã xảy ra làm Long như bị sét đánh: Vân lên tiếng. Bằng một giọng hết sức êm dịu nhưng kiên quyết: “Bình tĩnh, anh Long. Sao hôm nay anh lại ăn nói hồ đồ như thế. Em thấy rằng anh Thiện nói đúng. Thanh niên bây giờ người ta hăng hái xin tòng quân rất nhiều. Chính em cũng muốn xin đi làm cứu thương cho bộ đội. Ai bảo với anh rằng Việt Minh là độc tài, là coi rẻ trí thức? Chính anh ruột em, anh Hồ ấy, anh ấy cũng là Việt Minh. Anh ấy liên lạc được với Việt Minh khi anh ấy còn ở thanh niên tiền tuyến. Anh ấy đã giảng cho em hiểu rõ nhiều điều rất đúng. Không lẽ anh bảo anh Hồ em cũng là tay sai của ai!”.


    Cô vừa nói vừa nhìn sang Thiện, tỏ vẻ đồng tình.


    Thế là Long từ chỗ sửng sốt tiến tới chỗ nổi lên cơn nóng giận tưởng không có gì dẹp được. Trong một phút vô cùng vô lý anh bỗng nổi cơn ghen và anh nghi chắc cho Vân có tình ý gì với Thiện, nó nói yêu mình nhưng biết đâu nó nói cả với Thiện những câu ấy! Hừ, biết đâu được bụng dạ đàn bà! Biết đâu nó chẳng cười mũi vào mình từ bấy lâu nay. Càng nghĩ càng giận, Long quát to:




  •  Thôi, không có liên hoan gì nữa! Tôi không thể chịu để cho các người vào hùa với nhau mà áp chế tôi. Vân, tôi nói cho cô biết, nếu trong tình yêu mà có điều gì mờ ám là tôi sẽ rất kiên quyết...


    Long càng nói càng nóng, cơn giận bốc lên làm anh chảy cả nước mắt. Các bạn xúm vào khuyên. Nhưng Vân đã đứng dậy. Cô không ngờ Long của cô, ngươi đã hứa hẹn với cô một tình yêu trong sạch nhất lại có thể nói những câu để lộ ra rằng anh nghi cô không trong sạch. Cô nói:




  •  Anh vô lý lắm. Tôi không ngờ anh có thể nói những câu như thế. Anh không cần phải dọa...


    Rồi cô xô ghế mở cửa bỏ ra về.


    Thiện còn cố thuyết phục Long: “Long, Long, nghe đây! Mình lấy tình bạn bao nhiêu năm nay khuyên . Long nên nghĩ lại. Long đừng làm nhục Vân như thế...”.


    Nhưng Long không còn nghe gì nữa. Anh cảm thấy Vân bỏ ra về như thế là đã đổ vỡ hết cả và nguyên nhân đầu đuôi chỉ vì Thiện.


    Cuộc vui buổi chiều hôm ấy do Long tổ chức đã kết thúc một cách bi thảm. Long ôm mặt trở về phòng riêng, gieo mình xuống giường, áp mặt vào gốỉ, khóc nức nở...


    Việc Long đi Hà Nội học làm cho kế hoạch mở rộng vây cánh của giáo sư Hanh ở Huế coi như chưa tiến hành thêm được bước nào. Vân thì khỏi phải nói, Long đã cho Hanh biết tình hình để Hanh không hy vọng hão. Nhưng trước khi Long đi Hà Nội, Hanh cũng đã nhờ Tư “trán nhẵn” giới thiệu cho Long cách bắt liên lạc với Quốc dân Đảng ở Hà Nội. Vài ngày sau, quân Tàu kéo vào đến Huế. Tư “trán nhẵn” giục Hanh rất gấp. Hắn nói bóng nói gió cho Hanh ngầm biết rằng Hanh hành động như thế là quá chậm, nếu Hanh chậm quá, không gây được thực lực ở Huế thì trung ương có thể cần xét lại việc dành ghế bộ trưởng cho Hanh. Thế là Hanh đành phải đánh liều đến nói chuyện với Thuyết, giáo sư môn toán, lý, hoá của trường. Lần này thì Hanh thu được thắng lợi một cách dễ dàng. Thuyết nhận lời ngay. Và, trái với Hanh thường ăn nói một cách dè dặt, Thuyết đến trường là bô bô xưng lên mình là tay Quốc dân Đảng quan trọng ở thành phố Huế, hắn biến cả những giờ giảng toán thành buổi công kích các chính sách của chính quyền nhân dân. cả trường học xôn xao lên về tin có hai giáo sư vào hạng giỏi nhất: Hanh và Thuyết đã theo Quốc dân Đảng. Không biết tin đồn từ đâu mà đám học sinh cứ chụm đầu vào nhau kháo chuyện: ông Thuyết ông ấy nói bô bô lên thế, nhưng chính ông Hanh mới là tay quan trọng. Ông Hanh là lãnh tụ Quốc dân Đảng ở Huế này. Hoạt động của Hanh và Thuyết làm cả tỉnh bộ Việt Minh phải chú ý, tuy tiếng vang của nó không là mấy. Việc quân Tàu đến Huế đã không mang lại cho Tư “trán nhẵn” một cơ hội tốt để mở rộng vây cánh. Ngược lại, đoàn quân Tàu đến ga Huế, một số Hoa kiều buôn bán trong thành phố đã họp thành một đoàn đông đến mấy trăm người, kéo cờ thanh thiên bạch nhật, chở cả trống cái đi đón. Họ đánh trống thì thêm hô khẩu hiệu dọc đưòng ầm ầm bằng tiếng Quảng Đông, kéo từ phía phố Gia Hội, qua cầu Tràng Tiền ra ga, làm mọi người đi đường ai cũng phải dừng lại xem vì lạ mắt. Khi đi họ càng làm rầm rĩ và đi thong thả để phô trương thanh thế bao nhiêu, thì khi về họ lại cuốn cờ im lặng buồn tẻ và bước vội bấy nhiêu. Bởi vì quân Tàu mới sang trông thảm hại quá. Lính thì tên nào tên nấy như vừa ốm đói dậy, da vàng bủng, ghẻ lở, bẩn thỉu, hôi thối. Trông chúng kéo qua lôi thôi lêch thếch, người ta phải bảo rằng đó là một đám tàn quân bại trận. Mọi người bàn tán: Quân như thế kia mà cũng tới để giải giáp quân Nhật. Nghe nói ở trên ga, quân Nhật dàn hàng sẵn, mang súng có lắp cả lưỡi lê, thấy quân Tàu bước xuống đã hô lên mấy tiếng để nghiêm chào. Ấy thế mà có anh lính Tàu sợ quá, ngã lăn xuống chết luôn. Người ta còn kháo nhau: ở chợ Đông Ba, có mấy tên lính Tàu đem một nắm tiền quan kim đi ăn bún, ăn no quá ngã lăn ra chết thẳng cẳng. Có những thanh niên nói với nhau: Lính thế kia thì cứ tay không chúng mình cũng cướp được súng. Lại có người đồn rằng có nhiều tên lính Tàu chết mà quan nó cũng không biết, bởi vì quan nó trước đây vẫn khai quân số bớt đi để lĩnh tiền của cấp trên. Trong những ngày hỗn loạn, thỉnh thoảng trên đường phố, người ta xúm đỏ lại nhìn những tên lính Tưởng làm những trò như bốc tay vào bát bún bò đang nóng để ăn không cần đũa, hoặc hai tên lính Tưởng ì ạch lặc lè khiêng có một thúng rau về trại, người ta còn xúm đông trước cái sân để xem mấy con đầm non đang đứng quạt cho mấy tên tướng Tàu. Người ta kháo nhau: Bọn Tây trước đây đã cho mấy con đầm non ấy ra quạt cho bọn quan Nhật đấy. Có lần người ta xúm đen lại xem một tên lính cưỡi một con ngựa già ốm không yên và cũng không cương. Hắn đã cố nắm lấy bờm con ngựa nhưng vẫn không được, con ngựa đã lồng lên hất hắn ngã xuống mặt, áo quần hắn thấm máu và đầy bùn đất bẩn thỉu bê bết, tả tơi, trông thật thảm hại. Thế mà hắn vẫn phải cố chạy theo sau đuôi con ngựa rồi một tay quệt ngang dòng máu chảy trên mắt trên mũi, một tay nắm đuôi ngựa. Thế là con ngựa tuy đã già nhưng cũng còn đủ sức lồng lên và đá phốc một cái vào tên lính, trúng ngay vào bụng hắn làm hắn ngã lăn ra bất tỉnh. Nhưng đám quần chúng vẫn đứng yên lặng nhìn, không ai ra vực hắn dậy. Một toán lính Tưởng đi tuần ngang qua đấy đã giữ con ngựa lại và mang tên kia đi. Tên quan trong đội tuần tiễu ấy gườm gườm nhìn mọi người, làm một số người vội lảng đi. Thấy một cậu bé có vẻ hơi mỉm cười, tên quan bước tới mặt hầm hầm định gây sự thì ngay lập tức hắn đã bị đám đông vây kín. Nhưng ngay trong đám đông, một công nhân Hoa kiều đã bước ra nói cho hắn biết rằng hắn gây sự là vô lý, tốt hơn hết là nên đi đi thôi. Nhưng điều mà cả thành phố ai cũng xôn xao và phàn nàn là lính Tưởng mới sang được vài hôm đã giở trò ăn quỵt tiền và nhất là tiền của Tưởng hôm đầu đổi theo giá một ăn một với tiền Đông Dương, đến mấy hôm sau đã sụt giá đến mức có người đem mấy đồng quan kim quốc tệ xé chơi cho bõ tức. Người ta còn xôn xao hơn nữa khi thấy bác sĩ Thắng ở bệnh viện thành phố ký tên vào một bản thông cáo đăng trên khắp mặt các báo nói về bệnh sốt hồi quy nhiệt “do những loại rận rệp gần đây mới xuất hiện gây ra”.


    Đó thật quả là những đòn rất đau đánh vào ảnh hưởng của Quốc dân Đảng, vì ai cũng biết rằng Quốc dân Đảng chủ yếu dựa vào quân Tàu mà hoạt động. Điều đó làm cho Tư “trán nhẵn” vô cùng khổ sở bởi vì hắn đã biết rõ rằng vận mệnh của hắn gắn liền với đám quân Tàu ô hợp ấy. Hắn lại càng sốt ruột hơn vì Hanh và Thuyết ngoài việc làm ầm ĩ lên ở mấy cái lớp học trong trường Khải Định, thì không làm được thêm việc gì nữa. Thật là những tên ăn hại, Tư “trán nhẵn” lẩm bẩm như thế trong cái hang chuột của hắn ở ngoại ô. Tên đồng đảng của hắn thì bỗng dưng lăn ra ốm nặng, không làm được việc gì ngoài việc nằm trông nhà và ngày hai buổi buộc hắn phải đi mua cháo về cho ăn, nhiều lúc bực mình quá, Tư “trán nhẵn” mắng vào mặt tên đồng đảng ốm: Trụ sở công khai cũng không lập được, báo cũng không ra được, có dễ đến phải bán xới khỏi cái thành phố chó chết này mà cút đi đâu cho rảnh còn hơn.


    Thế nhưng một tháng sau lại thấy Tư “trán nhẵn” đến nhà Hanh. Hắn cho Hanh biết rằng Việt Minh sắp tổ chức tổng tuyển cử vào ngày 6-1 sắp tới.


    - Ngài phải ra ứng cử ở Huế với danh nghĩa là đảng viên Quốc dân Đảng. Bây giờ trung ương chủ trương một mặt đòi Việt Minh phải chịu nhường cho một số ghế trong quốc hội, mặt khác ở các địa phương đều phải có người ra ứng cử để gây thanh thế. Nếu giành được nhiều ghế trong quốc hội, chúng ta sẽ đòi tham gia chính phủ liên hiệp rồi tiến lên lập chính phủ quốc gia. Cái ghế bộ trưởng mà trung ương định dành cho ngài một phần lớn do cuộc bầu cử ở đây quyết định. Ngài cứ việc thảo ra một bản tuyên ngôn và một chương trình tranh cử, chúng tôi sẽ cho dán bản đó khắp nơi trong tỉnh.


    Tư “trán nhẵn” đã ra công chép bản chương trình tranh cử đó được khoảng hơn chục bản, bởi vì hắn cũng không tìm được cái gì để đem in và hắn cũng biết không có ai chịu nhận đem đi các huyện mà dán. Bản tuyên ngôn mở đầu bằng câu:


    “Trong xã hội phải có kẻ trên ngưòi dưới, làm đảo lộn mọi đạo lý thông thường là có hại. Ban Đảng uỷ cho rằng với dân trí hiện nay mà tổ chức phổ thông đầu phiếu là chưa được nhưng...”.


    Mấy chục tờ giấy dán lên tuy vậy cũng thu hút một số người tò mò đứng xem và số đông đã phá lên cười. Nhưng Tư “trán nhẵn” không phải là không có thành công. Hắn đã moi óc làm ra một câu vè sau khi đã dò biết được số đông nhân dân sẽ bỏ phiếu cho ai. Câu vè ấy hắn cũng viết ra hàng trăm tờ, đem dán. Được vài tờ, còn thì đem vứt bừa vào trong chợ Đông Ba nhân lúc trời tối. Ấy thế mà cũng có mấy tên du côn mang câu vè ấy đi đọc rêu rao khắp nơi: “Chính trị Hoàng Anh, tu hành mật thể, y tế Kinh Chi, lúa mì Trọng Tuyến, nước điện Đăng Khoa”,





Năm ông quan trên đây là rường cột nước nhà



Đồng bào ai không bỏ phiếu ắt là tội to



Nước ta là nước tự do,



Đồng bào ai mà không bỏ phiếu ắt cho vào tù.



Trong mấy dãy nhà của các quan lại cũ, ngưòi ta đã thích thú truyền cho nhau nghe câu vè đó.



IV



Kết quả bầu cử đã được công bố, Hanh được gần hai trăm phiếu trong số hai mươi vạn cử tri, và đứng chót sổ. Lần nàỳ thì không riêng gì Tư “trán nhẵn” mà cả Hanh nữa, mặc dù lòng tự phụ vô bờ bến của ông ta vẫn nguyên vẹn, đã cảm thấy thất bại hoàn toàn. Hôm gặp nhau sau ngày bầu cử, hai người đã than thở với nhau:





  •  Thưa ngài, nước Việt Nam ta nguy mất.




  •  Dân trí thật là thấp kém quá.




  •  Vâng, thưa ngài, dân chúng quả là bầy cừu non. Giới thượng lưu trí thức thì rã rời, mất tinh thần. Mối nguy chính là ở chỗ đó. Nước ta bây giờ thật như con thuyền không lái, để mặc bọn ngưòi không có văn hoá muốn làm gì thì làm. Thật là nhục nhã, nhục nhã quá sức.


    Nhưng mấy hôm sau thì Hanh đã có cái để mà tự an ủi: Long ở Hà Nội đã viết thư về báo cáo cho ông biết: ở Hà Nội, Việt Minh đã phải dành cho Việt Nam Quốc dân Đảng sáu mươi ghế trong quốc hội không phải bầu. Long còn báo cáo rằng anh đã hoạt động trong giới sinh viên, anh đã tuyên truyền lôi kéo được “những sinh viên ưu tú nhất” theo những chính kiến của anh.


    Từ ngày ra Hà Nội, đây là bức thư đầu tiên của Long gửi cho Hanh theo lời Hanh dặn lúc ra đi. Có điều là trong thư Long đã không đả động gì đến việc anh có liên lạc với Trung ương Quốc dân Đảng hay không, bởi vì Long đã không có can đảm làm cái việc mà Tư “trán nhẵn” và Hanh dặn. Cuộc va chạm quá kịch liệt với Thiện và nhất là với Vân làm Long choáng váng và sau đó mấy ngày hầu như chán nản hết cả mọi sự trên đời. Thậm chí Long đã làm liên tiếp mấy bài thơ tỏ ý không còn thiết gì đến cõi đời này nữa, thế giới mà Long mơ ước là một cõi “đạo” mênh mông, không giới hạn và yên lặng hoàn toàn. Có lúc Long đã nẩy ra ý muốn đi tu. Nhưng tất cả những cái đó chỉ là do tưởng tượng của Long nặn ra. Thực tế thì Long vẫn lo sắp xếp quần áo để đi và không quên tính toán xem mình cần xin bố mẹ cho bao nhiêu tiền một tháng ở cái đất Hà thành hoa lệ, đất nghìn năm văn vật mà anh vẫn ước mơ được sống qua các tiểu thuyết mà Long được đọc. Ra đến Hà Nội, Long viết ngay một bức thư cho Vân. Ạnh thiết tha xin lỗi Vân về những câu nói lỗ mãng củạ anh hôm nọ. Anh tự trách mình “đã xúc phạm đến danh dự của em, thật là không xứng đáng với tình yêu của em. Nghìn lần, vạn lần, anh mong em tha lỗi cho anh và anh mong em sẽ hoàn toàn quên buổi đó đi, .Coi như trong đời chúng ta chưa, hề xảy ra chuyện ấy”. Cuối thư, Long viết:


    Vân ơi, em có biết lúc này ở xa em anh nghĩ những gì không? Anh nghĩ rằng mọi sự đều là không có gì quan trọng và sẽ tiêu tan, chỉ có tình yêu của chúng ta là đáng kể và vĩnh viễn còn mãi với thời gian. Nhiều lúc anh thấy chán những sự tranh chấp ở đời, anh ngại những sự va chạm trong cuộc sống. Bên em, chỉ cần sống bên em, sống bình lặng nhưng tràn đầy, đó mới là hạnh phúc tuyệt đốì và chân chính. Vân, em đồng ý với anh chứ. Tình yêu của chúng ta trong thời niên thiếu cao đẹp và trong sáng biết bao nhiêu. Anh tin rằng chúng ta sẽ sống với nhau như thế mãi mãi trong sự bình lặng của tâm hồn.


    Hôn em, vạn lần hôn em”.


    Thư gửi đi mới được ba hôm chưa thấy Vân trả lời, Long lại gửi một thư nữa. Lần này thì anh nói rằng hay là Vân đã giận anh mà không còn nhớ tới anh nữa, nhưng “anh sẵn sàng chịu sự trừng phạt nặng nề nhất ấy của em vì anh rất đáng tội với em. Nhưng cũng mong em tha thứ cho anh. Anh hứa chắc với em rằng trước mắt, anh sẽ chỉ chăm lo vào việc học, sao cho chóng thành tài để chúng ta cùng nhau xây tổ ấm như chúng ta đã hứa hẹn cùng nhau”.


    Ba hôm sau nữa thì Long nhận được thư của Vân và cả thư của Thiện nữa. Anh bóc thư của Vân xem trưóc. Vân đã viết cho anh rằng cô sẵn sàng quên tất cả câu chuyện không may xảy ra hôm ấy, rằng cô trước sau vẫn chỉ yêu Long với mốì tình thủy chung như nhất, cô chờ đợi Long về để cùng xây hạnh phúc suốt đời. Nhưng Long đã nhăn trán suy nghĩ khi thấy Vân viết trong đoạn cuối: “Em thấy rằng chúng ta cần phải chọn con đường đi cho đúng. Nước nhà vừa mới được độc lập, chúng ta lần đầu tiên được làm công dân của một nước tự do, chúng ta phải sống cho xứng đáng, em chắc cái hôm anh nổi nóng với anh Thiện mà nói mấy câu vô lý ấy chỉ là do một sự hiểu lầm giữa hai anh mà thôi, phải không anh. Em chắc Long của em, người yêu của em phải xứng đáng là người thanh niên yêu nước, người thanh niên của thời đại mới. Về phần em, em xin báo cho anh biết rằng từ khi sang học ban trung học chuyên khoa bên trường Khải Định, cái trường thân yêu của anh trước ấy, em đã hăng hái tham gia hoạt động và em được bầu vào ban chấp hành học sinh cứu quốc toàn thành. Em được các anh ấy đây khen ngợi, em sung sướng lắm. Nhưng ai khen, em cũng thấy không bằng anh khen...


    Nhớ anh, chờ anh


    Vân của anh suốt đời và mãi mãi”.


    Để tránh khỏi phải suy nghĩ nhiều về bức thư của Vân, Long vội cầm lấy bức thư của Thiện. Nhưng chưa kịp bóc thư, anh đã rụt tay lại suy nghĩ: Tại sao Thiện biết địa chỉ của mình sớm thế. Mình chỉ mới viết thư cho Vân thôi mà. Hay là...


    Nhưng Long đã vội xua đuổi ngay ý nghĩ đen tối đang định lởn vởn trong đầu óc anh. Anh lẩm bẩm: Đừng nghĩ bậy, chỉ khổ mình và rồi lại khổ cả Vân. Trong một thoáng anh nhớ lại “tình bạn không bao giờ phai” giữa anh và Thiện và anh phải nhận rằng thái độ của Thiện từ trước đến nay đối với anh và Vân vẫn đúng đắn mặc dù hai người đã cùng gặp Vân một lần và chính Thiện đã có lần, trong một phút sôi nổi nhất của tình bạn, đưa cho anh xem bài thơ của Thiện ca tụng Vân và cũng là để cho anh biết rằng Thiện đã sẵn sàng hy sinh tình cảm của mình vì hạnh phúc của bạn.


    Tự nhiên, Long thấy lòng mình trở lại thanh thản. Anh thong thả bóc thư của Thiện ra xem. Trái với điều anh chờ đón, bức thư không có gì đặc sắc. Thiện chỉ mong anh nhớ đến tình bạn cũ mà quên câu chuyện xảy ra hôm ấy, chúc anh học cho thành tài vì “đi học bây giờ cũng là để phục vụ Tổ quốc”. Ngoài ra Thiện không hề đả động gì tới câu chuyện chính trị là câu chuyện đã làm nảy ra xung đột giữa hai người. Gấp bức thư của Thiện lại, Long thở dài tự nghĩ. Thiện không nhắc gì tới vấn đề chính trị là giữ ý với mình đây. Nhưng rồi anh chặc lưỡi, tự nhủ: Chà, mỗi người một chính kiến, không lẽ muốn là bạn của nhau thì cứ phải nghĩ giống như nhau. Kể thì trong lời Thiện nói hôm ấy cũng có chỗ đúng, và xem ra Việt Minh thì cũng không sai cả, nhưng dù sao mình cũng không tán thành những cái quá khích. Quốc dân Đảng cũng chẳng phải là đúng cả, ngay cậu Hanh cũng có chỗ nói hơi cứng nhắc. Anh chợt nhận ra đây là lần đầu tiên anh dám nghĩ về cậu Hanh - người thầy tinh thần của anh như thế. Thế mới biết thật là khó nói mà có một chế độ nào hiện nay cho vừa ý mình. Tốt hơn hết là ta cứ lo học, không theo bên này cũng chẳng theo bên kia, đến đâu hay đấy. Chợt nhớ đến chuyện Vân khoe đang hoạt động trong Đoàn học sinh cứu quốc, Long nghĩ: Vân còn trẻ quá, đang tuổi hăng hái chưa biết gì. Một hai năm nữa, Vân sẽ biết những nỗi éo le của một cuộc đời và rồi Vân cũng sẽ nghĩ như mình thôi. Yên ổn, phải chỉ có sự yên ổn của tâm hồn mới là đáng quý.


    Nhưng Long nào có được yên ổn hoàn toàn. Vào trường đại học, anh chạm ngay phải những cuộc tranh luận chính trị nảy lửa giữa những sinh viên theo Việt Minh và không theo Việt Minh, cứu quốc và không cứu quốc, bênh Quốc dân Đảng và mạt sát Quốc dân Đảng. Long không thể hoàn toàn đóng vai bị động trong cái không khí rối bời ấy. Tuy anh đã tự đề ra phương châm là “cố sức giữ mình”, dù cho cả hai phe nói trên có xếp anh vào loại lừng chừng, loại không biết gì, thậm chí có người còn gọi là loại bị thịt đi nữa, nhưng trong nhiều trường hợp, anh vẫn phải nói lên quan điểm của anh. Nhưng quan điểm của anh bây giờ cũng có khác hồi anh còn ở Huế và nghe theo giáo sư Hanh: quan điểm của anh bây giờ lúc thì được phe này khen, phe kia chửi, lúc thì lại ngược lại. Trong tình hình ấy, anh nhận được thư của Hanh giục anh cho biết về tình hình ăn học và hoạt động. Anh buộc phải nặn óc viết thư trả lời, cố phô cho được cái việc cắt đuôi cứu quốc của Tổng hội sinh viên như là một thành tích của mình, mặc dù lúc viết anh có hơi ngượng vì nói dối.





*



Ở trường, một việc náo động đã xảy ra: Thuyết đã bị bắt, không phải vì tội theo Quốc dân Đảng mà vì tội đã dám đứng trước cửa phòng bỏ phiếu hô hào mọi người vào phá thùng phiếu, và bẩn thỉu hơn nữa là vì đã cưỡng hiếp một bé gái mới mười hai tuổi, làm người ta phải đem con bé vào bệnh viện. Thật là một việc đốn mạt, Hanh nghĩ thế và không ngờ ngưòi mình vừa tuyên truyền kết nạp lại có thể phạm tội hèn hạ đến như thế. Hanh ngồi thui thủi một mình trong phòng với chồng sách cũ. Xưa nay ông vẫn có thói quen như thế. Hanh vốn không ưa tâm sự với ai, kể vả với Phương, vợ ông, mà ông quen coi là người chỉ có lo việc nội trợ mà thôi. Nhưng Hanh chợt cảm thấy dạo này ông không còn giữ được bình tâm như trước với chồng sách cũ. Ông cảm thấy mình cô đơn. Hanh cố giở quyển Nho giáo của Trần Trọng Kim ra đọc những đoạn mà trước đây ông thích nhất. Nhưng chữ nghĩa cứ như múa lộn trước mắt, ông đọc mà không hiểu gì cả. Hanh cố đọc lại một lần nữa. Lần này, ông thấy những ý tứ trong cuốn sách sao mà có vẻ nhạt nhẽo, nó không phù hợp chút nào với tâm trạng của ông. Gấp sách lại, Hanh chợt nghĩ ra một việc: Gặp Thắng. Phải, nên gặp Thắng một chút. Từ sau ngày hai anh em tranh cãi nhau, đã mấy tháng qua, họ sống trong một nhà mà như người dưng nước lã. Hanh làm bộ không ngó ngàng gì tới Thắng, Thắng cũng cố tìm cách lánh mặt ông. Đến bữa cơm, khi thì Hanh vờ về muộn, khi thì Thắng viện cớ cần đi họp gấp mời cả nhà ăn trước. Chủ nhật Thắng thường rủ Hồng Ngọc đi ăn tiệm để tránh bữa cơm nhà. Những bữa phải cùng ăn với nhau, họ cố giữ im lặng, nói những câu bâng quơ, có khi cả buổi chẳng nói gì. Khác hẳn trước đây, Thắng thường hay khoe các trận đấu quần vợt thắng lợi của mình, tả lại các trận đấu bóng đá sôi nổi để cho Hanh hỏi lại những câu ngớ ngẩn và Phương nhắc đi nhắc lại câu nói muôn thuở: “Chú phải lo giữ gìn sức, cứ cậy khoẻ mà chơi cho lắm vào, đến khi ốm lại để khổ cho thím ấy!”.



Việc quân Pháp theo Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3 kéo vào Huế thay quân Tưởng lại một lần nữa làm đảo lộn sinh hoạt của thành phố . Nhưng lần này, người ta không quá náo động như hồi mới cách mạng nghe tin máy bay thả dù vũ khí cho quân Pháp nữa. Người ta chỉ chú ý xem tên lính Pháp gác ở cầu Tràng Tiền cùng với một anh tự vệ Việt Nam như thế nào. Người ta bàn tán với nhau về cách ăn mặc với cách mang súng của hai người lính gác, một Việt một Pháp ấy. Kẻ thì bảo rằng lính nó mặc oai quá, nó lại không thèm cầm súng trong tay cứ đeo lủng lẳng sau lưng, thế là chứng tỏ nó chẳng sợ đếch gì. Người khác lại cho rằng ở cái quần tên lính Pháp có hai cái túi rộng thùng thình ấy là để bắt gà, còn anh tự vệ của ta mặc soọc thế là tiện tay anh lăm lăm cầm khẩu tiểu liên sẵn sàng chĩa vào ngực nó như thế là khôn. Đêm đầu tiên, người ta lạ lùng đổ xô ra xem đội tuần tiễu liên kiểm Việt-Pháp. Nhưng rồi tất cả những cái đó, ngưòi ta cũng dần dần quen mắt, không ai bàn tán đến nữa.



Quân Tàu vừa rút đi thì Tư “trán nhẵn” và tên đồng đảng của hắn cũng biến mất. Lãnh tụ Quốc dân thành phố Huế, Trần Công Hanh càng thấy thêm cô đơn và không còn biết nên hoạt động như thế nào. Ở nhà, sau khi Thắng, Hồng Ngọc và ba đứa con nhỏ của Thắng dọn đi, Hanh càng thấy vắng vẻ trong ngôi nhà quá rộng. Nhưng rồi lâu dần Hanh cũng trở lại nếp sống bình thường của ông trước đây. Ở trường chuyên khoa, Hanh bớt nói chuyện chính trị thời cuộc, ông chuyên chú giảng dạy về chủ nghĩa duy thần, về học thuyết  Béc-xôn, về triết học Lão tử, Khổng tử, Mạnh tử và ông tìm cách bài bác khéo chủ nghĩa duy vật. Ông cũng không chú ý gửi thư cho Long nữa. Có một lần Long gửi thư báo cho ông biết về vụ Ôn Như Hầu và tỏ nỗi bi quan của anh về hành động đó của Quốc dân Đảng, nhưng ông cũng không chú ý đọc kỹ và cũng không viết thư trả lời. Ông chỉ còn bực mình một nỗi là trường ông dạy cứ phải chuyển chỗ luôn luôn, lúc đầu thì phải lui vào trong thành, rời trường cũ để nhường chỗ cho quân Pháp đóng ít tháng sau lại rời sang trụ sở trường Việt Anh, trước đây là một trường tư thục. Nhưng ông cũng không hé răng thổ lộ nỗi bực mình ấy cho ai biết.



Nhưng đến đầu tháng Chạp năm ấy thì ngay cả việc dạy học, Hanh cũng không còn được tiếp tục nữa vì tình hình căng thẳng do quân Pháp gây ra, các trường học được lệnh đóng cửa để cho học sinh được cùng với cha mẹ chuẩn bị tản cư khi có biến động. Đây là những ngày buồn nhất của Hanh. Không có việc gì làm, ông đóng cửa buồng lại, ngồi hàng giờ trước chồng sách cũ, nhưng cũng không hề giở sách ra đọc. Nhưng rồi ông cũng gặp được bạn tâm giao, Long từ Hà Nội đã về Huế và tới ở với ông. Long về Huế là vì bố mẹ Long nghe tin ở Hà Nội có biến động nên gọi Long về, và bắt Long sang ở với Hanh để nếu có chuyện gì xảy ra thì có cậu là người nương tựa. Bố mẹ Long đã già quá rồi, e có biến cũng không chạy đi đâu được.



Ngoài đường phố, những ụ chướng ngại vật đã mọc lên nhan nhản. Tên quan Pháp chỉ huy cho rằng như thế là phía Việt Nam khiêu khích. Hắn đòi gặp mặt “người đại diện có trách nhiệm nhất của Việt Minh” để chất vấn về việc ấy. Lúc ấy Thân đã được bầu làm bí thư tỉnh ủy, anh muốn trực tiếp gặp tên quan Pháp để xem thái độ của hắn ra sao. Thiện ở trung đoàn Cao Vân được cử làm sĩ quan phiên dịch. Nhưng tên Pháp không nói gì nhiều, hắn chỉ lên giọng dọa nạt: Các ông làm như thế là các ông khiêu khích. Các ông phải biết rằng chúng tôi coi những ụ chướng ngại ấy chỉ là trò trẻ con. Chúng tôi đã đánh nhau với quân đội Đức là quân đội mạnh nhất thế giới, thế mà chiến lũy Xích-phơ-rít của họ chúng tôi cũng không coi vào đâu, huống chi là những cục đất thó mà các ông dựng lên ấy.



Thân điềm tĩnh trả lời: “Phải chúng tôi biết rằng các ông đã đạp băng qua chiến lũy Xích-phơ-rít mà vào đất Đức. Chả thế mà đã có đến mấy chục vạn người Pháp đã vượt sang trong các trại tập trung ở trên đất Đức”.



Thật là một câu trả lời quá bất ngờ đối với tên Pháp. Y giận tím mặt, quay ngoắt người, đóng cửa đánh sầm một cái và bước ra. Bên trong, những chuỗi cười giòn giã như đuổi theo y đến tận đồn quân Pháp.



Cuộc chuẩn bị chiến đấu trong thành phố được tiến hành ngày càng gấp rút. Đoàn học sinh cứu quốc cũng kêu gọi thành lập các đội cảm tử quân, các đội cứu thương, liên lạc, tuyên truyền. Vân xin vào đội cứu thương và vào đóng trong đồn Mang Cá. Vì vậy cô chỉ nghe tin Long đã về Huế nhưng không ra gặp anh được. Một buổi tối mùa đông, Hanh và Long đang co ro ở nhà thì có tiếng gõ cửa. Ai? Ai mà lại đến nhà Hanh trong lúc này. Hay là nhân viên sở trinh sát Trung Bộ tới bắt Hanh? Hay là Tư “trán nhẵn”? Hanh mở cửa. Ngưòi bước vào là Nguyễn Bá Tòng, một tên quan lại cũ, trước đã làm ở Thừa Phủ Huế.





  •  Xin chào ông giáo!




  •  Xin chào ông. Xin lỗi, chẳng hay ông đến có việc gì?


    Tòng chưa trả lời vội. Hắn quay lại nhìn ra phía cổng, trông chừng xem có ai theo dõi không. Rồi hắn nói nhỏ: “Hãy xin phép ông cho vào một buồng kín để được tiếp chuyện với riêng ông”. Hanh vội bảo Long lui ra và đóng cửa lại. Tòng mở đầu câu chuyện bằng một câu đột ngột: “Lâu nay không thấy ông giáo hoạt động, chẳng hay ông đã có sự thay đổi gì trong ý kiến chăng?”.


    Hanh suy nghĩ: Lạ nhỉ sao ông này lại hỏi ta câu ấy. Hắn là cán bộ do Việt Minh phái đến để dò xét ta chăng? Không, chắc chắn là không, đời nào Việt Minh họ lại dò xét một cách lộ liễu như thế. vả lại trước làm ở Thừa Phủ, sau cách mạng nghe nói đã có bị giam mấy tháng rồi mới được tha, chắc không phải là người được Việt Minh dùng tới. Nghĩ thế nhưng Hanh vẫn trả lời dè dặt:




  •  Thưa ông, ý kiến tôi thì có gì đáng kể mà phiền ông phải hỏi tới


    Tòng cười nịnh, hắn nói:




  •  Ông cứ giấu tôi làm gì, tôi có phải là tay sai của Việt Minh tới dò xét ông đâu. Chẳng qua thấy ông là người trí thức có danh vọng, trước đã nổi tiếng là lãnh tụ một chính đảng quốc gia trong thành phố này nên tôi mới đến yết kiến ông. Thôi, nói gần nói xa chẳng qua nói thật, tôi muốn được ông cộng tác vói tôi trong công việc quốc gia.




  •  Thưa ông, việc gì thế ạ?


    Tòng hạ giọng nói nhỏ:




  •  Ông hẳn biết rằng quân Pháp sắp sửa đánh Việt Minh. Họ sẽ giải phóng cho nhân dân ta khỏi ách của bọn độc tài đỏ. Đây là một cơ hội nghìn năm có một. Tôi đã được viên sĩ quan chỉ huy quân đội Pháp ở đây cho người tới liên lạc. Tôi đã trực tiếp tới gặp ông ta. Ông ta hứa chắc chắn là đánh được Việt Minh rồi thì sẽ cho ta độc lập, hoặc ít ra là tự trị trong khối liên hiệp Pháp. Và tôi đã nhận lời đứng ra làm tỉnh trưởng với họ. Nhưng người Pháp nói họ còn cần nhiều người trí thức Việt Nam có danh vọng nữa cộng tác. Tôi nghĩ ngay đến ông. Mong rằng ông cũng...




  •  Không được ông ạ. Tôi không tán thành Việt Minh thật nhưng tôi cũng không muốn... cộng tác với người ngoại quốc. Làm như vậy, xin lỗi ông, tôi cho là...




  •  Thế trước đây, chúng ta cùng làm việc dưới quyền người Pháp đã bao nhiêu năm thì sao?


    Hanh đỏ mặt đáp:




  •  Trước đây khác nay khác ông ạ. vả lại trước đây tôi chỉ đi dạy học, làm công việc mở mang dân trí, không phải làm quan với họ.


    Hanh cố ý nhấn mạnh hai tiếng làm quan. Nhưng Tòng hình như vẫn không giận, hắn lái câu chuyện ngay sang phía khác:




  •  Thế chắc là ông sẽ tham gia kháng chiến.




  •  Cố nhiên là tôi không tham gia. Đó là công việc của Việt Minh.




  •  Thế ông tin là Việt Minh có kháng chiến nổi hay sao?


    Hanh đáp:




  •  Cũng cố nhiên là tôi không tin. Súng ống thì không có, quân đội thì mới lập, bọn chỉ huy thì dốt, làm sao mà đánh lại quân Pháp là một đội quân thiện chiến của một cưòng quốc được. Dân trí ta còn thấp lắm, biết làm sao được.




  •  Đấy nhé, chính ông cũng phải thấy như thế. Viên sĩ quan Pháp còn nói rõ hơn thế nữa kia, ông ta bảo rằng đánh nhau ở đây chẳng qua chỉ là quét một nhát chổi - Tòng gạt ngay cánh tay làm điệu bộ như quét - Nghĩa là chỉ nội trong vài ngày là Việt Minh sẽ bị quét sạch. Xin hỏi ông, đến lúc ấy thì ông sẽ làm như thế nào? Sao ông không nhận lời cộng tác ngay từ bây giờ đi, có phải thức thời hơn không?


    Hanh dằn giọng:




  •  Không, xin nói với ông tôi là người trung thực chỉ nói có một lần. Đến lúc ấy sẽ làm gì thì hiện tôi chưa biết, có lẽ tôi sẽ lánh mặt để chờ thời, nhưng còn nhận công tác ngay từ bây giờ thì không, nhất định không.


    Tòng về rồi, Hanh kể lại cho Long nghe đầu đuôi câu chuyện. Long nói:




  •  Cậu không nhận lòi là phải, tên Tòng khốn nạn ấy đúng là Việt gian rồi. Cháu nghĩ rằng cần tố cáo nó ngay bây giờ để trừ một...


    Hanh ngắt ngay lời Long, nói gay gắt:




  •  Tố cáo với ai mới được chứ. Chúng ta có công nhận cái chính quyền hiện nay là của người Việt Nam chúng ta đâu.


    Long muốn cãi lại nhưng cổ anh như đã bị nghẹn đi. Anh thấy giọng nói của cậu anh có vẻ nghiêm khắc quá, và anh sợ.


    Bên ngoài, trời tối đen. Một bóng đen bỗng bỏ chạy như bay và có tiếng chân mấy anh tự vệ tuần tiễu chạy đuổi theo. Nhưng bóng đen đã chạy vào trong một cái ngõ tối om và mất hút.





(còn tiếp)



Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »