tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21324193
Tiểu thuyết
23.05.2015
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy


 



V. Đêm 19 tháng 12 năm 1946. Cũng như mọi đêm, Huế như có vẻ ngủ yên lành. Nhưng nhìn kỹ vào các doanh trại bộ đội, vào đồn Mang Cá nơi trung đoàn Cao Vân đóng, vào các trụ sở tự vệ chiến đấu khu phố, vào các cơ quan của chính quyền và đoàn thể nhân dân, vào cơ quan của tỉnh bộ Việt Minh đồng thời là của tỉnh Đảng bộ Đảng cộng sản, nhìn trong các lùm cây, các bóng tối, các ngõ ngách, các ụ chướng ngại vật trên các nẻo đường, nhìn vào các nhà máy, công xưởng... ngưòi ta sẽ nhận thấy có đến gần nửa thành phố đêm nay không ngủ. Đã bao đêm nay họ không ngủ như thế vì phải tỉnh táo đề phòng. Họ đã nghe tin về những hành động “bất nhã” của quân đội Pháp ở Hải Phòng, ở Hàng Bún, Hà Nội. Ngay tại thành phố Huế này, mới hôm qua phía Pháp trong cơ quan liên kiểm còn mời phía Việt Nam ăn tiệc và trong buổi ấy họ đã thi nhau hát, thế mà đến hôm nay, nhìn con mắt quân lính Pháp gườm gườm bất cứ người dân Việt Nam qua đường nào cũng thấy chúng đang sẵn sàng khiêu khích. Lính Pháp đóng ở đồn Đồng Khánh tự tiện đứng gác ở ngay giữa các đường phố lớn chạy quanh, tự tiện khám xét bất cứ người nào qua lại.



Chiều hôm trước người ta thấy một tốp lính Tây mũ đỏ, uống rượu say ngật ngưỡng, do một gã Tây lai béo phệ dẫn đầu, đi la cà dọc con đưòng trước cửa trường Đồng Khánh tìm cách gây sự đánh nhau. Có tin đồn một cô con gái lớ ngớ thế nào đi gần đấy bị chúng tóm được, lôi tuột ngay vào doanh trại của chúng trong trường Khải Định cũ. Lại có tin đồn chúng gây sự ngay với một đội tự vệ, chúng đã cho xe bọc sắt đến kéo đổ ba bốn cái ụ chướng ngại vật, hai bên sắp sửa đánh nhau bằng súng đạn thì may thay liên kiểm đã tới và thu xếp ổn thỏa.



Tối hôm ấy, như thường lệ, toán quân tuần tiễu liên kiểm Việt - Pháp vẫn cùng đi tuần với nhau. Hai hàng lính, một Việt, một Pháp, súng đeo sau lưng, vẫn đi sóng đôi bên nhau như không có việc gì xảy ra. Bấy giờ đã vào khoảng quá nửa đêm. Mắt cả hai đội lính căng mãi vào trong bóng tối đã có hơi mỏi, trong cả hai bên đã có người cảm thấy hơi buồn ngủ những khi có những cơn gió nhẹ thổi qua, bỗng từ phía khách sạn Mo Ranh và cầu Tràng Tiền có tiếng súng liên thanh nổ. Tiếp ngay đó là tiếng nổ vang ầm của một phát đạn đại bác không biết từ phía nào bắn ra. Hai đội lính đang đi bên nhau bỗng dừng lại. Làm thế nào đây? Tên sĩ quan Pháp nhanh mồm nói trước:





  •  À. Chúng mày gây chiến tranh.




  •  Chính chúng mày ấy!


    Họ thấy đứng gần nhau quá không tiện, cả hai bên đều chưa nhận được lệnh chiến đấu. Mà súng thì nổ to lắm rồi. Họ từ từ từng bước tách rời nhau ra, tốp lính Pháp thì lui dần, lui dần về phía khách sạn Mo Ranh, tốp lính Việt cũng lui dần, lui dần về một khu phố người Việt. Cả hai bên đều lấy súng ra cầm ở tay, nhưng cả hai bên đều không bắn phát nào chỉ để ý nhìn vào từng cử chỉ của nhau, đến rách mắt cả hai bên đều không bắn phát nào. cả hai tốp lính đó, khi đã lui vừa đúng mức đến chỗ lợi thế của mình, đã chạy vụt vào trong bóng tối và cùng nằm rạp xuống. Tiếng lên cò súng lách cách, tiếp theo là những tiếng “chít, viu, viu, tắc, bụp” của những viên đạn súng trường của hai bên bắn vào nhau. Họ đã chia tay từ biệt nhau như thế.


    Tiếng còi báo động của thành phố rú lên từng hồi, từng hồi, rùng rợn, thê thảm như ở thôn quê nghe trống ngũ liên báo lụt hay báo cướp. Cùng lúc ấy mấy anh tự vệ đứng gác ở đầu cầu Tràng Tiền bỗng nghe một tiếng nổ vang ầm, to hơn tất cả các tiếng nổ khác. Một ánh lửa sáng loè đỏ ối và một cột khói to bốc lên, một nhịp cầu Tràng Tiền khuỵu xuống, khuỵu dần xuống, cho đến khi nhìn xa chỉ còn thấy là một thanh sắt cong veo bắc ngang trên mặt nước.


    Trong các nhà dân đang ngủ say, người ta đã vùng dậy. Mấy hôm nay ai cũng biết trước rằng sắp có đánh nhau, nhưng cũng không ai ngờ lại đánh nhau ngay vào đêm nay. Bởi vậy trong mọi nhà đều đã chuẩn bị, nhưng không hiểu sao, lúc nghe tiếng súng nổ, nghe tiếng còi báo động người ta vẫn giữ yên lặng, họ sợ tiếng động làm địch biết có thể bị bắn, thỉnh thoảng một viên đạn súng lóe lên trên dòng sông Hương, sáng lòe lên tận con đường chạy sát chân núi Ngự. Người ta thì thầm: Nó bắn đèn sáng thế, đạn sáng của chúng nó đấy. Một tiếng đại bác nổ vang, người ta lại mách nhau: đại bác 75 của ta đấy. Không biết từ miệng người nào, mà về sau tất cả đều gọi khẩu súng duy nhất ấy của trung đoàn Cao Vân là “ông già” của chúng ta đang ho và đang khạc vào đầu Tây.


    Ở hầu khắp các ụ chướng ngại vật, người ta đều thấy có tự vệ.


    Và cho đến ngay lúc ấy, vẫn có những đội tự vệ tiếp tục chặt cây đổ ầm ầm xuống mặt đường để tăng cường cho ụ của đội mình. Nhưng cũng có nhiều đội tự vệ khi điểm danh thấy vắng mặt một số đội viên, mà phần lớn là những đội viên trước đây tỏ ra hăng hái nhất... trong lời nói. Dòng người đi tản cư cứ đi, đi mãi. Họ băng qua những ụ chướng ngại. Mỗi người khi đi ngang qua các tốp tự vệ còn không quên liếc nhìn theo, người thì có vẻ tò mò, người thì có vẻ như để động viên khuyến khích. Bỗng trong đêm tối có tiếng quát rùng rợn: “Bắt lấy nó. Bắt lấy nó. Thằng Việt gian”. Không ai hiểu tiếng thét từ đâu ra. Cũng không ai biết tên Việt gian chạy ở đường nào. Đoàn người tản cư dừng lại một lúc, lộn xộn, nhốn nháo. Một hai đứa trẻ con nằm trong thúng gánh cùng với mèo hay với chó con, giật mình khóc thét lên. Những người đàn bà rùng mình sợ hãi, đứng xúm lại với nhau, chờ đợi. Một số đàn ông vớ vội đòn gánh, que, gậy, có người vơ đâu được một cái ghế gỗ nhỏ, họ vung lên, chạy nháo nhác: “Đâu, đâu nó đâu, nó đâu rồi?”.


    - Ái, cái nhà bác này, giẫm bẹp cả thúng của tôi.




  •  Có im đi không, người ta đang bắt Việt gian.


    Lộn xộn, nhốn nháo một lúc vẫn không thấv gì. Bỗng thấy một thanh niên tự vệ, thở hổn hà hổn hển dưới ánh sáng đột nhiên lóe lên của một chiếc pháo sáng, nét mặt anh tái nhợt đi vì hét quá to, chạy tới: “Rõ ràng tôi trông thấy thằng Việt gian nhảy qua ụ chướng ngại của bọn tôi chạy ngược đường về phía đồn Tây. Các ông các bà có thấy nó chạy về phía nào không?”.


    -  Không, không thấy nó đâu. - Từng loạt tiếng nói nổi lên tứ phía.


         - Khổ quá, thế là nó chạy mất rồi.


    Đoàn người lại tiếp tục lần đi trong đêm tối mù mịt.





*



Ở nhà máy đèn thành phố, ba thanh niên tự vệ Út, Hiền, Bao đang co ro hút thuốc lá trong vọng gác trước cổng nhà máy thì nghe những tiếng súng nổ đầu tiên. Họ giật mình, đứng thẳng người lên, lắng tai nghe chừng vài giây, Út vụt nói: “Tây đánh. Bao, mau lên, chạy vào thức bác Hải. Hiền, cậu theo tôi vào nhà máy chính chuẩn bị làm theo kế hoạch đã định. Chạy mau lên nào”.



Nhưng Bao chưa kịp chạy thì đã thấy bác Hải ở đâu từ trong nhà kho lò dò bước tới. Bác bước đi không vội vã nhưng vẫn theo kịp ba thanh niên đang vừa chạy vừa ngoái lại trông chừng để chờ bác. Vừa lúc ấy, tiếng còi báo động đã rú lên. Bác Hải cũng vội chạy theo ba cậu, vừa chạy vừa nói: “Này, bây giờ cứ theo kế hoạch mà làm”. Một bóng đen bỗng từ cổng nhà máy vào, chạy nhanh hơn bác, lướt qua mặt bác rồi thét to, cô làm cho ba thanh niên tự vệ phải dừng lại: “Này, định làm cái gì thế. Phá hả? Phá thì sau này lấy việc đâu mà làm”. Nói xong, nhanh như cắt, hắn đã quay chạy ra, gạt bắn cả bác Hải sang một bên, chạy biến. “Việt gian. Bắt lấy thằng Việt gian”. Một phát súng lục từ tay bác Hải bắn ra pằng pằng. Nhưng chậm quá rồi, bóng đen đã thoát ra ngoài cổng, chạy vượt ngang đường và nhảy ào xuống con sông An Cựu, biến vào trong đêm tối. Bác Hải dậm chân bực tức. Nhưng tiếp theo đó, một tiếng nổ vang lên từ trong nhà máy chính phát điện. Toàn thành phố Huế chìm hẳn trong bóng đêm, đen như mực.



Lúc này là lúc các đơn vị xung phong của trung đoàn Cao Vân đang bò chung quanh các vị trí của quân Pháp. Đại bác 75 ly vừa nã xong một loạt đạn thì nghe tiếng thét "xung phong” vang lên trong đêm tối.



Thiện chỉ huy một đại đội đánh vào nhà Lơ-bơ-rít, một vị trí của quân Pháp. Gọi là vị trí nhưng thực tế đây chỉ là một ngôi nhà hai tầng nguyên trước là nhà ở của tên Tây lai Lơ-bơ-rít, bên trong chỉ có hai tiểu đội Pháp đóng. Chúng đã bố trí ở đây đến bốn khẩu súng liên thanh, trong đó có một khẩu đặt ngay trên gác hai bắn xuống. Đem đơn vị của mình tiến tới vị trí địch, Thiện thấy nao nao, bàng hoàng, cổ đắng lại, anh cảm thấy như mình đang mót đi tiểu quá, đây là lần đầu tiên anh đánh trận thật. Còn cách nhà Lơ-bơ-rít đến hơn trăm thước, anh đã ra lệnh cho cả đơn vị bò trườn tới. Họ bò men theo dọc tường một ngôi nhà khuất trước mặt vị trí địch. Được độ nửa đưòng thì cả đơn vị mệt lả. Thiện cảm thấy cần động viên anh em: “Các đồng chí! Bò nhanh lên! Hết loạt đại bác này chúng ta sẽ xung phong”. Nhưng tốc độ bò cũng chẳng nhanh hơn lên được bao nhiêu và mấy phút ấy đốì với Thiện sao mà lâu, chừng như đơn vị anh đã đánh nhau đến mấy tiếng đồng hồ. Rồi cuối cùng họ cũng bò tới được sát chân hàng rào nhà Lơ-bơ-rít. “Xung phong”, tiếng Thiện thét lên trong bóng tối, tiếp theo là tiếng hô “xung phong” của cả đơn vị. Nhưng chỉ có bảy chiến sĩ nhảy lên định trèo qua hàng rào, số còn lại vẫn nằm lên đạn súng trường bắn bừa vào bức tường nhà Lơ-bơ-rít. Bên trong, không thấy bóng một tên Pháp nào ló ra nhưng ba khẩu liên thanh của chúng bắt đầu nhả đạn. “Xung phong”, “xung phong”... cả đơn vị vẫn hô lên liên tiếp. Từng loạt đạn súng trường lại bắn vung vào tường nhà Lơ-bơ-rít. Đáp lại, từng loạt đạn súng liên thanh lại từ nhà Lơ-bơ- rít bắn ra, quét một màng lưới lửa lên đầu các chiên sĩ chưa hề xung trận của Việt Nam. Thiện hô lên: Ném lựu đạn. “Ném vào lỗ châu mai súng máy”. Nhưng không ai biết lỗ châu mai súng máy của địch ở đâu. Họ ném lựu đạn ào vào chân tường.



       - Báo cáo anh, em ném lựu đạn sao không thấy nó nổ.



      - Cậu coi chừng quên rút chốt an toàn đấy.



- Báo cáo anh em có rút hẳn hoi.



- Đâu, cậu đưa đây tôi ném thử. - Thiện cầm quả lựu đạn anh chiến sĩ vừa trao cho, nghiến răng rút chốt an toàn rồi chồm mình lên ném vào trong đêm tối. Bịch, có tiếng quả lựu đạn rơi xuông đất. Mọi người chờ đợi xem kết quả ra sao. Nhưng một giây, hai giây rồi vẫn im bặt, lựu đạn quả nhiên không nổ. Thiện bực mình nói: “Cậu đưa cho tôi quả nữa”. Lần này, lựu đạn bỗng nổ oàng lên một tiếng rồi không hiểu trúng vào đâu, một khẩu liên thanh bỗng im bặt và bên trong bỗng vọng ra mấy tiếng hô của một tên lính Pháp.



Một liên lạc viên trung đoàn bỗng thấy bò tới bên cạnh Thiện: “Báo cáo anh, ban chỉ huy trung đoàn nói không nên để anh em hô xung phong nhiều quá, mệt sức, chỉ khi nào sắp nhảy vào cận địch mới hô xung phong”.



Một loạt liên thanh từ trên gác bỗng bắn lia xuống đường, dọc theo chỗ đơn vị Thiện đang nằm. Thêm bốn nãm chiến sĩ nữa hy sinh và bị thương. Cuộc chiến đấu kéo dài tới sáng thì đơn vị của Thiện nhận được lệnh rút khỏi nơi bố trí.



Đến sáng thì kết quả của đêm chiến đấu đầu tiên đã thấy rõ: quân Pháp không đánh ra được ngoài vị trí của chúng, chúng đã bị vây trong khu vực bên tả ngạn sông Hương, từ khách sạn Mo Ranh cho đến trường Khải Định. Nhưng bên phía ta cũng không chiếm được vị trí nào của chúng. Ban chỉ huy mặt trận khu C đã báo cáo lên ban chỉ huy toàn mặt trận là quân ta đã giết non trăm lính Pháp trong đêm xung trận đầu tiên. Thật là một con số phấn khởi. Trong các đơn vị quân đội cũng như các tổ chức tuyên truyền, liên lạc, tiếp tế mà số đông là nhân dân từ các huyện điều lên, ngưòi ta reo, ngưòi ta nhảy, thế cho bõ những ngày chúng nó khiêu khích, chúng nó bắn giết bừa bãi những người dân vô tội. Sâu hơn nữa, còn có thể nói là để cho cả tám mươi năm làm nô lệ. Ai có thể ngờ rằng, mới đây, ngưòi Việt khi đi ngoài đường thấy bóng một người Pháp còn sợ xanh mắt, bị người Pháp gọi là giống An-na-mít bẩn thỉu cũng đành phải câm miệng làm thinh, thế mà nay vây được chúng nó với những súng ống hiện đại, những xe tăng, đại bác mà chúng không cựa quậy được, không bò ra được, cứ phải nằm chết gí trong các vị trí của chúng.



Ở đằng sau đền Nam Giao, trước đây là chỗ để vua chúa nhà Nguyễn tế trời mỗi năm một lần, người ta xôn xao bàn tán. Đây là chỗ nấu cơm của mặt trận C. Số đông đây là phụ nữ hai huyện Phong, Quảng. Phụ nữ Quảng Điền do chính chị Ngạc dẫn đầu. Huyện uỷ đã nói với chị, bây giờ khẩu hiệu là tất cả cho tiền tuyến. Cấp trên bảo phải cử những người có nghị lực nhất phục vụ mặt trận. Đồng chí là bí thư phụ nữ huyện xin phụ trách cho đoàn phụ nữ xung phong tiếp tế cho mặt trận. Ở nhà, chúng tôi sẽ cử người khác thay.



Chị Ngạc nhìn xuống bụng, hơi lo lo. Chị đã có mang chừng năm tháng, bước đi đã có vẻ hơi nặng nề. Nhưng chị nghĩ: Mình không đi thì ai đi. Đúng, bây giờ phục vụ tiền tuyến là hơn hết. Đoàn phụ nữ của chị đã phải nằm chờ gần một ngày ở ban chỉ huy trung đoàn. Họ giở cơm nắm ra ăn. Ăn hết chỗ cơm nắm vẫn chưa thấy được điều động đi đâu cả. Hỏi thì chỉ được trả lời: ban chỉ huy còn bàn. Nhưng rồi cuối cùng họ được điều về đây. Ở đây, người ta coi chị Ngạc chỉ như một ngưòi đội trưởng dân công, không ai biết chị là bí thư phụ nữ huyện, ngưòi ta phân công cho chị cả việc nấu nướng, chia cơm. Chị Ngạc đâu có để ý đến chuyện ấy, chị vui vẻ làm nhiệm vụ, coi đó là việc hết sức bình thường. Đối với con người đã từng đi ở và làm thợ vôi ấy, làm bí thư phụ nữ của cả một huyện và làm cấp dưỡng cho mọi ngưòi ở đây, cũng đều là công việc chung cả.



Chị Ngạc đang lúi húi chia cơm thành từng suất, chị phải chia như vậy đến gần hai nghìn suất - thì Thân đến. Anh là Chủ tịch úy ban kháng chiến, lại có chân trong ban chỉ huy mặt trận. Anh đi đôi ghệt cứng - không biết đôi ghệt lấy được ở đâu - đầu đội mũ lưỡi trai, trông có vẻ rắn rỏi, ra dáng một cán bộ quân sự. Anh vui vẻ giơ tay chào mọi người theo lối nhà binh:





  •  Chào chị em. À, đây là cái dạ dày của mặt trận. Đông lắm, các chị hè. Cứ mỗi người, ta quăng vào đồn Tây một nắm cơm, e bọn chúng cũng chết bẹp trong núi cơm. Ha ha.




  • Tin tức đánh nhau ra sao rồi anh?




  •  Phấn khởi lắm. Ta vẫn vây nó. Chắc là nó chết nhiều. Nó sợ đại bác ta ghê lắm. Có ai ngờ ta bây giờ lại có đại bác.




  •  Vậy hả anh. Chúng em ở đây cứ cơm ngon canh ngọt cho bộ đội ăn, thế là thằng Tây phải chết, phải không anh?.




  •  Đúng thế. Mỗi người gắng một tý là thắng. - Anh cúi xuống chỉ vào đôi ghệt nói, giọng hơi có vẻ tự phụ - Đừng ai ngại vất vả. Đây, ba ngày ba đêm nay, chân tôi không được rút ra khỏi đôi ghệt này. Có lúc ăn cũng phải ăn đứng, không nói chuyện nằm làm gì.


    Quay lại ông thủ từ đền Nam Giao từ nãy vẫn đứng lặng yên nghe có vẻ thán phục, anh nói: “Chẳng giấu gì cụ, thằng Tây ở đây chắc phải chết bẹp. Chúng tôi đã bố trí ở đây, riêng ở khu C này đến hai tiểu đoàn. Đấy cụ xem, ta vây nó chặt cứng, nó có thò ra được đâu”.




  •  Anh Thân! - Chị Ngạc vừa bước ra, nhác thấy chồng vội chạy lại. Chị định nói với anh về chuyện chị có mang, nhưng chợt nhớ là chung quanh có nhiều chị em nên ngượng lại thôi.


    Thân chợt chau mày hỏi:




  •  Sao Ngạc lại ở đây? Ngạc ở đây làm gì thế?




  •  Huyện uỷ điều em phụ trách đoàn phụ nữ tiếp tế. Em lên ban chỉ huy mặt trận, họ lại điều đoàn em về đây.


    Một phụ nữ trong bọn nói:




  •  Chị ấy cũng nấu cơm và chia cơm cho bộ đội như chúng em đấy anh ạ. Chị ấy làm giỏi lắm.


    Thân suy nghĩ một lát rồi quả quyết nói:




  •  Không được, cán bộ phụ trách phong trào bây giờ hiếm lắm. Ở đây có thể bố trí người khác lo việc đoàn tiếp tế. Ngạc nên về Quảng Điền đi.




  •  Anh, sao anh lại... - Đôi mắt Ngạc nửa có vẻ như dò hỏi, nửa có vẻ như nghi ngại Thân đã vì tình riêng mà không cho chị được phục vụ mặt trận, ở gần nơi nguy hiểm này.


    Nhưng Thân đã hiểu ý chị. Anh ôn tồn nói:




  •  Ta phải thấy rằng kháng chiến là toàn tỉnh kháng chiến, toàn quốc kháng chiến. Không phải cứ ở mặt trận mới là kháng chiến. Ở các huyện bây giờ cần người vận động phong trào tăng gia sản xuất, tiếp tế cho tiền tuyến, cần người tổ chức chị em may áo cho mùa đông binh sĩ, cần tổ chức dân quân du kích để đề phòng Việt gian hoạt động, nghĩa là cần có cán bộ tổ chức. Tiếp tế ở đây là rất quan trọng, nhưng ở đây không thiếu gì người làm được việc nấu cơm, chia cơm.





Chị Ngạc vẫn còn ngần ngại. Chị khẽ nói:





  •  Nhưng huyện ủy đã điều em đi và ban chỉ huy mặt trận đã bố trí em công tác ở đây.




  •  Được, em cứ đi, anh sẽ viết thư cho huyện ủy. Còn ban chỉ huy mặt trận, thì anh ở ngay trong ban chỉ huy mặt trận mà.


    Chị Ngạc nói khẽ hơn nữa:




  •  Em muốn gặp riêng anh một lát. - Dắt Thân ra một góc vắng, chị thầm thì nói - Anh ạ, em đã có mang.




  •  Thế à! Mấy tháng rồi. Sao chẳng viết thư cho anh biết gì cả.




  • Thì chính em cũng mới biết. Mấy tháng đầu tắt kinh em cũng chưa biết là vì sao, lúc ốm nghén lại cứ tưởng là sốt rét. Uống mãi ký ninh vào. Mãi sau mới có người bảo cho biết. Anh mừng không?.


    Nghe vợ hỏi, Thân đứng ngẩn người ra, suy nghĩ. Đến lúc ấy, anh mới cảm thấv hết cái sung sướng của ngưòi sắp sửa làm bố. Anh chợt nhận thấy là mình còn chưa hề nghĩ tới việc ấy. Có ai ngờ đi làm cách mạng như mình, bao nhiêu lần vào tù ra tội, bao nhiêu lần tưởng đã bỏ thây chốn rừng sâu nước độc. có thể nào tin được có ngày mình lại lấy vợ và hơn thế nữa, có thể nào ngờ mình bây giờ lại sắp có con. Đứa con sinh ra nhờ có cách mạng thắng lợi, đứa con sinh ra nhờ có mối tình chung thủy của anh và của Ngạc. Đứa con ấy sinh ra sẽ được sống trong một nước độc lập, nó sẽ sung sướng, sẽ được bố mẹ thương yêu đùm bọc, sẽ không phải vào tù ra tội như bố nó, nhất định không phải chịu cảnh đi ở thuê như mẹ nó.




  •  Anh nghĩ gì mà thần ngưòi ra thế?




  •  À, anh nghĩ tới con. Nói sao cho hết được hả em. Anh sung sướng lắm. Anh không ngờ mà... Còn em, em thấy thế nào?




  •  Em ấy à? Em mừng nhưng mà em lo lắm. Có mang rồi phải sinh đẻ, đẻ rồi phải nuôi, không biết công tác thì làm thế nào. Anh thì bận, một mình em phải lo cả...


    Câu trả lòi hơi bất ngờ đối với Thân. Anh không biêt nói như thế nào để an ủi vợ. Di di đôi ghệt trên mặt đất, anh nói một câu bâng quơ:




  •  Chắc cũng không ảnh hưởng gì lắm đâu. Mà có chừng em đẻ thì có lẽ ta đã diệt được Tây ở đây rồi. Mang như thế, không nên ở đây là phải...


    Chị Ngạc bỗng nhiên nghiêm nét mặt lại, khẽ trách chồng:




  • Anh thật vô ý quá. Nói về công tác của em như thế trước mặt các chị ấy, họ sẽ cho rằng ban chỉ huy coi thường công tác của họ. Mà sao anh lại xưng anh ở trong ban chỉ huy mặt trận làm gì?


    Thân hơi ngạc nhiên. Anh cảm thấy trong nhận xét của vợ có phần đúng. Nhưng anh thấy cần chống chế:




  •  Anh tưởng nói thế là đúng chứ. Anh có phải vì tình riêng mà nói đâu. Anh có ý định khoe mình về cái gì đâu. Anh chỉ cân nhắc để thấy chủ trương điều cán bộ của huyện là sai. Anh thấy là sai thì anh nói chứ.




  •  Em chưa đồng ý với anh đâu. Huyện ủy đã điều em, anh có là cấp trên của huyện đi nữa thì cũng không nên nói thẳng ngay bảo em được. Nhưng mà thôi, em nhắc anh thế thôi, về công việc ở huyện, em thấy anh nói như thế thì cũng đúng là quan trọng thật. Được, em sẽ về huyện. Nhưng anh làm đúng các thủ tục giấy tờ cho em đi. Cả đối với ban chỉ huy mặt trận C, cả đốì với huyện ủy anh nhé. Thôi anh đi đi, anh nhé. Đến giờ phải làm việc rồi, có lẽ chị em họ đang sốt ruột đợi em xuất gạo nấu bữa chiều đấy.


    Ngạc đi rồi, Thân vẫn còn hơi lưỡng lự, chân bước đi không nện giày như lúc mới vào nữa. Anh vừa mừng vì tin vợ báo cho biết có mang, vừa hơi ngượng ngùng và có vẻ như hơi phật ý vợ hay phật ý vì mấy lời nhận xét của vợ. Anh cũng không rõ mình nên phật ý vợ hay phật ý ngay chính mình. Nhưng anh bỗng tự xác định: Ngạc nói phải. Rồi anh tự cười xoà: Cách mạng có khác, vợ phê bình chồng mà phê bình đúng nữa là khác, từ câu phê bình của Ngạc, Thân chợt nhận ra những thái độ không được đúng lắm của anh. Anh thấy rằng đáng lẽ anh không nên khoe cái việc phải đi ghệt liền ba ngày đêm, ngav cả việc đi ghệt cũng là hình thức không cần lắm, anh cũng không nên khoe với ông thủ từ đền Nam Giao vể việc bố trí lực lượng mặt trận. Kể  ra thì là lộ bí mật rồi đấy. Thân mỉm cười: giá mà là một cán bộ nào cấp dưới thì có lẽ chính mình đã phê bình cho một trận. Từ chỗ nhận ra được điểm ấy, Thân liên hệ xa xôi hơn, cách nghĩ về con người anh từ ngày cách mạng thành công: Khéo không mình lại chịu ảnh hưởng của những người kiểu cách ở thành phố, quên mất cái giản dị chất phác của dân cày ngày xưa rồi cũng nên. Nhưng anh tự nhủ: không phải, ở thành phố, làm công tác như mình cũng phải cho nhanh nhẹn, nhanh nhẹn không phải là kiểu cách hỏng. Anh lại nghĩ tới Ngạc, người vợ nông thôn của anh. Đẻ con ra, là con trai phải đặt tên là gì nhỉ? Dũng chăng? Nhiều người đặt quá rồi. Kháng Chiến chăng? Không được, nghe dài mà chính trị quá. Nhưng nếu lại đẻ con gái? Thì phải đặt cái tên thật đẹp. Ngạc, tên mẹ nó, nghe quê quá. Thân chợt mỉm cười: Quê thế mà mình yêu thắm thiết là được, quê mà bây giờ là cán bộ xứng ra trò...


    Với những ý nghĩ miên man như vậy, Thân bước nhanh hơn về chỉ huy sở, chân dập đôi ghệt mạnh như trước, ở đây, một cuộc họp của ban lãnh đạo kháng chiến toàn tỉnh đang đợi anh.





*



Trụ sở của ban lãnh đạo kháng chiến tỉnh là một ngôi nhà nhỏ trong thành Nội. Nhìn bên ngoài không ai tin rằng đó lại là đầu não chỉ huy toàn bộ cuộc kháng chiến ở Thừa Thiên. Đó chính là do ý kiến của Thân, Lân, phó bí thư tỉnh ủy đã đề nghị lấy ngay nhà Tam Tòa cũ, một cái nhà to và sang nhất trong thành, làm trụ sở. Nhưng Thân không đồng ý, anh nói rằng chính đóng những chỗ nhỏ mới làm cho địch không ngờ, tránh được những phát đạn đại bác của địch.



Thân tới nơi thì các đồng chí .trong tỉnh ủy, và đồng chí trung đoàn trưởng trung đoàn Cao Vân - Hà Văn Lương và đồng chí chính trị viên trung đoàn Trần Thế Hải cũng đã có mặt. Thân chủ tọa cuộc họp. Anh đề nghị trung đoàn trưởng Cao Vân báo cáo trước tiên tình hình chính sách. Lương nói:



- Ta vẫn vây chặt nó. Đại bác ta bắn làm địch rất hoảng. Địch chỉ cố thủ không dám đánh ra. Nhưng ta xung phong cũng chưa có kết quả lắm. ở khu B, tiểu đoàn 1 có sáng kiến đào giao thông hào đến gần vị trí địch, xung phong lên. Họ đã xông được vào trong sân trường Thiên Hựu, nhưng rồi lại bị địch đánh bật ra.



Chính trị viên Hải bổ sung:





  •  Tinh thần bộ đội vẫn vững. Anh em phấn khởi lắm. Nhưng phải tính đến chuyện ta gần hết đạn đại bác. Lựu đạn thì quả nổ quả không, đạn súng trường cũng vậy. Súng bị hóc nhiều, cả súng máy nữa. Cái thông nòng súng không có đủ, đem về công binh xưởng chữa không kịp. Tội nghĩ rằng ta cần có cách gì đánh chiếm lấy một vị trí quan trọng của địch ở ngoại vi, có như thế mới đánh vào khu trung tâm, chỗ chúng nó đóng bộ chỉ huy. Hiện nay cũng chưa biết vị trí chỉ huy của địch ở đâu.


    Thân quay sang Lân:




  •  Anh cho biết tình hình các mặt công tác tuyên truyền báo chí và việc vận động ủng hộ bộ đội.


    Lân say sưa nói:




  •  Tuyên truyền ở ba khu A, B, C đều lập xong, phần lớn gồm cán bộ khá và những học sinh cứu quốc. Họ hăng lắm. Ở khu C, họ làm báo tường, họ ra cả những chỗ đơn vị đóng và tác chiến tuyên truyền xung phong. Tờ Quyết thắng vẫn ra đều. Việc ủng hộ bộ đội nói chung tiến hành khá tốt.


    Thân không được vừa ý với báo cáo của Lân. Anh muốn biết cụ thể hơn. Nhưng anh thấy nể Lân, không hỏi nữa. Anh báo cáo về tình hình các huyện. Anh nhận xét:




  •  Trong các khu A, B, C cần tổ chức các buổi sinh hoạt Đảng cho đều đặn. Ở các huyện có hiện tượng điều cả cán bộ chủ chốt đi làm những việc mà người khác có thể làm được ở mặt trận. Tôi đồng ý với đồng chí Hải là ta cần cố gắng đánh chiếm lấy một vị trí ở ngoại vi, như nhà Mo Ranh chẳng hạn. Nhưng khó khăn là ở chỗ nào? Đại bác của ta liệu có đủ uy hiếp để bộ đội xung phong vào không. Theo tôi, nếu đạn còn ít thì chỉ nên tập trung bắn vào một chỗ ấy.


    Trung đoàn trưởng Lương báo cáo:




  •  Cái khó là địch ở trên gác bắn súng máy xuống, bộ đội ta xung phong vào chiếm được tầng dưới rồi lại bị đánh bật ra. Đạn đại bác nếu tập trung bắn vào một chỗ ấy ngay từ hôm đầu thì có lẽ được rồi. Nay thì không rõ cụ thể còn bao nhiêu.




  •  Đồng chí gọi ngay dây nói bảo quân giới báo cáo ngay số đạn còn lại.


    Trung đoàn trưởng Lương miễn cưỡng rời chỗ họp đi gọi dây nói, anh nghĩ: Biết số đạn để làm gì không biết.


    Quỳ, tỉnh ủy viên là một nông dân, anh là huyện ủy viên mới được đề bạt, từ nãy đến giờ vẫn lặng yên, bỗng đề ra một ý kiến.




  •  Nó cứ ở trên gác, ta có cách gì hun khói lên cho nó chết ngạt đi có được không? Tôi nghe người ta nói rơm tuy mềm nhưng đạn bắn vào không thủng. Sao ta không chỉ thử cho những đội du kích các huyện gánh rơm lên chất dưới tầng dưới nhà Mo Ranh rồi đốt có được không. Du kích mỗi người gánh một gánh rơm, làm cho thật cao để che kín ngưòi, gánh vào đến tầng dưới nhà Mo Ranh rồi thì đặt rơm đó chạy ra. Ta ném bùi nhùi tẩm dầu xăng vào đốt.


    Kế hoạch đề ra có vẻ hay hay, được mọi người hưởng ứng. Một người nói thêm:


    - Rơm không mà cháy nó cũng chưa sợ. Tôi nghĩ trong rơm phải rắc ớt vào. Cả rơm cả ớt mà cháy thì mở mắt ra không được. Bộ đội ta sẽ xung phong vào chiếm nhà Mo Ranh.


    Cuộc họp của ban lãnh đạo kháng chiến tỉnh kết thúc với một nghị quyết quan trọng: Vận động toàn tỉnh góp rơm ớt để đánh trận rơm ớt. Lệnh ban ra: Mỗi huyện phải góp một trung đội du kích, mỗi một du kích phải có một gánh rơm bện thật cao, sao cho khi gánh che được cả ngưòi, trong rơm phải rắc cho thật nhiều ớt. Các ủy viên lãnh đạo kháng chiến ra về, trong lòng vui vẻ, họ đang tưởng tượng đến lúc lũ Tây khôn nạn bị hun sặc khói rơm ớt, sặc sụa lên mà phải bò ra hàng.





*



Kết quả trận rơm ớt đã làm cho những người nông dân Việt Nam mở mắt trong lần đầu tiên tổ chức cuộc kháng chiến chống quân đội của một cường quốc. Đán, chỉ huy tiểu đội du kích làng Nam Phổ của huyện Quảng Điền, là người gánh gánh rơm to tướng xông vào chân tưòng nhà Mo Ranh trước tiên. Trước đó, anh đã đứng tập hợp trong hàng ngũ du kích sáu huyện nghe Thân nói chuyện về trận rơm ớt. Thân động viên mọi người: “Các đồng chí là những người mở đường cho thắng lợi”. Đán tin vào Thân lắm, anh lại tin vào gánh rơm của anh bện rất đúng quy cách, lại rắc rất nhiều ót.



Nhưng tiểu đội làng Nam Phổ vừa gánh rơm tới gần nhà Mo Ranh, đang hăm hở bước vào với những gánh rơm cồng kềnh trên vai thì từ trên gác hai, một tràng liên thanh giội xuống. Trước con mắt kinh hoàng của cả du kích và bộ đội, Đán và ba du kích nữa ngã lăn dưới làn đạn, máu trong ngưòi chảy ra ướt đen cả những tấm áo nâu của họ. Cả một đoàn người gánh rơm ớt phải dừng lại. Nhưng cũng đã có hơn chục gánh rơm chạy vào tận dưới chân tường nhà Mo Ranh. Những người ấy đặt gánh rơm xuống, đang ngơ ngác chưa biết đi đâu và làm gì thì nghe có tiếng anh bộ đội nào thét lại: “Chạy ra thôi, không vào nữa đâu”. Họ nhìn lại, ngơ ngác rồi chợt nhận thấy chỉ có mấy ngưòi vào đến nơi một cách đơn độc, họ hoảng hốt rùng rùng bỏ chạy. Một tràng súng máy lại giội xuống, lại thêm vài ngưòi nữa hy sinh. Một anh bộ đội chừng tiếc rẻ, lấy bùi nhùi tẩm xăng đốt cháy rồi từ xa quăng mạnh vào đống rơm. Lửa cháy lan dần đến máy gánh rơm rồi đến lượt rơm cũng bốc cháy. Nhưng ngọn lửa quá nhỏ so với tòa nhà Mo Ranh rộng lớn, chỉ đủ quét lên nền tường một vệt khói đen đặc. Từ trên gác hai, từng tràng súng máy, súng trường của địch lại giội xuống như mưa, tiếng súng nghe như những tiếng tằng tặc, tằng tặc từng hồi như những tiếng cười chế nhạo. Đến tối, bộ đội Việt Nam mói bò vào khiêng xác mấy anh du kích xấu số. Nghe tin Đán chết, Thân tới thăm tiểu đội du kích làng Nam Phổ. Anh bùi ngùi, đứng lặng trước thi hài Đán, người đã cùng anh hoạt động từ trước cách mạng. Anh nói: “Tôi đã phạm sai lầm, các đồng chí ạ. Nhưng mong các đồng chí hiểu cho, tôi cứ nghĩ rằng rơm bắn không thủng, có ai ngờ đâu”. Anh chờ đợi những lời trách móc của tiểu đội làng Nam Phổ, những người rất quen biết anh, cũng như của những đại đội du kích của sáu huyện. Nhưng không, họ chỉ giương đôi mắt buồn thảm nhìn anh, họ thông cảm nỗi đau đớn của anh, họ chỉ thất vọng vì họ đã đặt quá nhiều tin tưởng vào gánh rơm có trộn ớt công phu của họ.



*



Trận rơm ớt đã được bộ chỉ huy quân Pháp lợi dụng làm một đề tài tuyên truyền để nâng cao tinh thần binh sĩ của chúng. Trong căn phòng ở trường Thiên Hựu, bộ chỉ huy quân đội Pháp đã họp nhận định tình hình. Quan tư Côt-xtơ chỉ huy tự nhận xét rằng thực lực của Việt Minh chỉ có như thế mà thôi, đại bác thấy bắn đã thưa lắm. Trận rơm ớt chứng tỏ họ chỉ là những dân nhà quê không biết kỹ thuật chiến tranh là gì. Hắn nói:



- Theo tôi thì bây giờ đã đến lúc chúng ta phản công. Chúng ta sẽ đánh ra một vị trí ở ngay trước cửa nhà Mo Ranh để cho Việt Minh biết rằng quân đội Pháp không hề sợ họ. Chiếm được vị trí ấy, chúng ta sẽ làm chủ được một quãng dài trên bờ sông Hương. Tuy cầu Tràng Tiền đã bị phá, nhưng chúng ta sẽ có cách đánh sang bên kia sông và như thế là ta phá được vòng vây hiện nay trước khi viện binh đến. Tôi xin báo để các ông biết rằng ở Sài gòn, tướng Lơ-cờ-léc đã biết tình cảnh của chúng ta. Ông ta bảo chúng ta cứ giữ vững chờ viện binh, tùy thời có thể phản kích nhỏ. Thưa các ngài Sĩ quan, các ngài thấy thế nào?



Bọn sĩ quan Pháp có thói quen tuân theo cấp trên của chúng. Chúng đồng ý cả. Và ngày hôm sau, một đại đội Pháp đã phản công đánh ra nhà thông tin Trung Bộ trước cửa nhà Mo Ranh ngay sát bờ sông Hương, nơi có một trung đội Vệ quốc quân Việt Nam đang đóng. Sung là trung đội trưởng trung đội ấy. Anh là học sinh trường Khải Định, anh đã bỏ học tòng quân ngay từ những ngày đầu cách mạng mới thành công. Anh họ Tôn Thất, cha mẹ anh giàu có và lúc còn đi học anh hay bị bạn bè chế giễu là tính tình nhút nhát như con gái. Cách mạng bùng nổ, Sung trốn cha mẹ xin vào bộ đội, mặc dù mẹ anh khóc sướt mướt. Anh cũng không phải là người vững vàng gì về chính trị. Khi nghe tin ở Hà Nội có những cuộc tranh chấp giữa Việt Minh và Quốc dân Đảng, chính anh đã nói: “Mình đi bộ đội đánh Tây thì được, nhưng nếu họ bắt người Việt đánh người Việt thì mình không chơi”. Hôm ấy Sung đang cùng trung đội chia nhau bố trí ở nhà thông tin Trung Bộ thì quân Pháp đánh tới. Chúng cho súng máy bắn đạn đại bác 20 ly vào rất dữ rồi mới xung phong phản kích, cả một đại đội Pháp tấn công bất ngờ vào một trung đội Vệ quổc quân. Họ đã chiến đấu anh dũng mặc dù chưa thấy viện binh tới. Quân Pháp đã phải trả giá khá đắt, hơn hai mươi tên chết và bị thương. Nhưng trung đội của Sung không chống cự nổi hỏa lực địch. Trung đội đã hy sinh gần hết. Họ lui dần, lui dần vào những phòng phía trong của vị trí, cho đến phòng cuốì cùng thì chỉ còn mình Sung. Anh bắn nốt mấy viên đạn súng lục còn lại, giết chết thêm được hai tên Pháp. Anh bóp cò nữa. Súng hết đạn. Mắt anh đỏ ngầu, anh soát lại túi đạn, sờ vào túi quần nắn nắn xem may ra còn sót lại viên nào chăng. Tên chỉ huy đại đội Pháp đã tiến đến trước cửa buồng Sung, theo sau hắn, lố nhố đến sáu, bảy tên lính Pháp. Tên chỉ huy là một tên Tây lai, thét: “Giơ tay lên. Hàng thì khỏi chết”. Nhưng Sung đã rút được một quả lựu đạn, rút chốt an toàn. Mắt anh nảy lửa, gườm gườm nhìn mấy tên lính Pháp, và tiến lên làm cả toán phải lùi lại. Anh chợt nhận ra tên Tây lai: bạn học cùng lớp với anh trước cách mạng. Anh để lộ một cử chỉ hơi ngạc nhiên vì cuộc gặp gỡ bất ngờ. Tên Tây lai cười gằn: A thì ra thằng con gái. Hắn bỗng nằm xuống, chĩa súng lục vào ngực Sung, bóp cò. Sung lảo đảo, nhưng cũng còn đủ sức ném trả lựu đạn vào đám quân Pháp đang lố nhố . Một tiếng nổ tung lên, ầm vang trong ngôi nhà thông tin Trung Bộ mới một tiếng trước đây còn là vị trí của bên phía Việt Nam. Bốn năm tên Pháp, trong đó có cả tên sĩ quan chỉ huy đại đội đã chết vì quả lựu đạn cuối cùng của người Vệ quốc quân trẻ tuổi. Bọn lính còn lại, sau một phút ngơ ngác bàng hoàng, chồm dậy chạy lại bên tử thi người Vệ quốc quân, chợt thấy đó là một anh có dáng học sinh trẻ măng, chúng dừng lại, hình như ngạc nhiên, mà lại có vẻ suy nghĩ. Một tên trong bọn là lính Đức. Tên lính Pháp vỗ vai hắn: “Ê Kốt-sơ đi ra ngoài bố trí đi thôi”. Nhưng chúng chưa kịp quay ra bố trí thì một đại đội Vệ quốc quân đã từ phía tòa nhà khâm sứ Trung Bộ đánh tới, chiếm lại vị trí, đuổi số quân Pháp còn lại chạy như vịt về phía nhà Mo Ranh. Trận phản công thử sức của quan tư Cốt-xtơ coi như thất bại. Hắn đành yên phận với cái thế cầm cự, cái thế bị bao vây để chờ viện binh tới. Nhưng hắn cũng biết rằng quân Việt Minh cũng không đủ sức tiêu diệt hắn, ít nhất là trong lúc này.



(còn tiếp)



Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 16.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »