tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20769818
Tiểu thuyết
10.06.2015
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy


Út nói:





  •  Mẹ ngồi ngay trên bom, ai mà dám giật. Mẹ không biết chỗ bom chôn à?




  •  Biết chứ răng không biết. Thì phải ngồi đúng chỗ nớ, Tây hắn mới sán đến chứ. Răng bay không giật?




  •  Giật thì chết cả mẹ mất, đời nào bọn con giật. - Út nói, trong giọng đã run lên vì cảm động.




  •  Mẹ già rồi, cũng sắp chết, mẹ tiếc chi nữa. Miễn răng giật chết được ba thằng Tây là mẹ sướng trong bụng rồi. Rứa là mẹ trả thù được cho thằng Đào. Bay nhát gan lắm.




  •  Không, mẹ làm như thế, không đời nào bọn con giật. Thôi thì chiều nay lại cứ để như cũ, may ra giật được thì tốt, không thì đành về báo cáo lại với ban chỉ huy thôi. Chiều nay nữa là hết hạn rồi. - Út vừa nói lại vừa rầu rầu nét mặt. Anh nhìn bà cụ Bái, lại càng nghĩ tới mẹ anh. Anh ngước mắt nhìn Lựu với đôi mắt trìu mến Lựu cũng liếc nhìn anh, má cô bỗng đỏ ửng. Không ai bảo ai, nhưng cả hai người bỗng nhiên hiểu rằng họ đã yêu nhau. Ngượng ngùng, họ lại ngoảnh mặt đi chỗ khác, không dám nhìn nhau nữa.


    Bao bỗng nói:




  •  Mẹ ạ, mẹ không biết sợ thật ư?




  •  Chết là cùng chứ sợ chi.




  •  Mẹ ạ, nhưng mà chết bom thì sợ lắm. Thịt xương tan nát cả, muốn chôn cất tử tế cũng không được. Nếu cả bọn Tây ở đó cũng chết thì không còn biết xương thịt của ai cả mà lượm riêng ra được.




  •  Đồ quỷ, mi làm mẹ sợ.




  •  Mẹ ngồi ngay trên bom mà không sợ, mà chỉ nghe con nói lại sợ.




  •  Ừ , không biết răng, tau nghe mi nói tau lại sợ. Thôi đừng nói nữa...


    Chiều hôm ấy, ba người sốt ruột chờ đến tối, họ đã thất vọng sắp sửa về nhà thì bỗng có bốn tên Pháp tự nhiên lảng vảng tới chỗ chôn bom, chừng như để tìm mua chuối quýt ăn nữa. Dịp may hiếm có. Một tiếng bom nổ vang trời, xác ba tên Pháp bật tung trên đường cái. Cả đồn Pháp náo động. Bọn lính trong đồn không biết chuyện gì xảy ra vội chạy xô vào các lỗ châu mai, bắn vung ra tứ phía. Và, ngay lập tức tên đồn trưởng đã thổi còi tập hợp bọn lính lại và hạ lệnh lập tức cho một trung đội lùng ngay vào trong làng Mỹ Chánh. Nhưng muộn quá rồi, ba chiến sĩ quyết tử quân đã rút khỏi làng từ bao giò và họ đã chạy xa trên bãi cát mênh mông của huyện Phong Điền.





*



Cũng trên bãi cát mênh mông của hai huyện Phong, Quảng này, đêm đêm từng đoàn cán bộ đã kéo nhau ra đây tìm chỗ ngủ. Không biết từ đâu, ba tiếng “ngủ sa trường” đã trở thành tiếng quen thuộc của những người đi tìm giấc ngủ yên ổn ngoài trời, không màn không chiếu, họ chạm trán nhau đôm đốp: cán bộ ba huyện phía nam tỉnh có, cán bộ của thành phố Huế có, cán bộ huyện Hương Trà có, và đông hơn cả là cán bộ của chính hai huyện Phong, Quảng. “Toà soạn” và “nhà in” báo Giết giặc của tỉnh cũng lưu động trên bãi cát này. Đây thật là một nhà in hiếm có: lúc vỡ mặt trận, công nhân đã mang theo được mấy lô chữ in, hai tấm khung sắt để lên khuôn báo, một cái búa con và hai khung gỗ vuông nhỏ có lót dạ để đập bản thử. Và đấy là tất cả “nhà in” của họ. Họ đã chọn một ngôi nhà thật hẻo lánh xa làng, ở một mình ngoài bãi cát, của một ông cụ lão nông không biết vì sao lại dọn ra ở đây một mình. Ông cụ không có con cái gì cả, mặc dù ông có đến hai bà vợ. Với cái “nhà in” lạ lùng ấy, những số Giết giặc đầu tiên của tỉnh đã ra đời. Không có máy in, anh em đã xếp chữ, lên khuôn, lăn mực rồi đặt từng tờ giấy một lên, lấy búa gõ vào hai miếng gỗ, kỳ cạch đập cho đến khi mực in đã ăn đều suốt mặt trang báo. Cứ như vậy, họ thức thâu đêm suốt sáng để in báo. Hai giờ sáng hôm ấy, cả toà soạn và nhà in chừng mười người đang kỳ cạch gõ lên gõ xuống thì thấy ông cụ chủ nhà lễ mễ bưng lên một nồi gì khói bốc lên nghi ngút. Cụ nói:



- Anh em nghỉ tay một chút, ăn tí cháo nóng cho lại sức rồi hãy làm việc.



Họ nhìn ông cụ, ngạc nhiên hết sức, vì lúc chiều chính họ đã thấy ông cụ tuốt từng bông lúa một, những bông lúa bị ngập nước nên tuy còn non đã phải gặt về, không phải nói là cắt từng bông về mới đúng, tuốt để luộc đi cho đông lại thành gạo. Họ cảm động hơn nữa khi nghe ông cụ giải thích về việc làm của mình: “Thấy các anh dập kỳ cạch mãi, khuya quá, sợ mai không đủ sức chạy Tây nên nấu tí cháo. Cháo hoa thôi, không có gì, đến muối cũng không có. Thôi anh em ăn đi”.



Những người cán bộ bị giặc đuổi từ phía nam tỉnh, từ thành phố Huế, chạy dạt vào hai huyện Phong, Quảng ở phía bắc tỉnh, đã sống trong lòng dân như vậy. Cũng trong những đêm ngủ sa trường này, Thân và các đồng chí trong tỉnh ủy cũng như các huyện ủy Phong, Quảng đã nhặt được vô số cán bộ. Đó là những cán bộ lạc mất cơ quan, đơn vị, lạc mất cấp trên, chạy tới đây. Họ không muốn chạy dài trước mũi súng giặc, nhưng họ cũng chưa biết về đâu và họ đã vào các làng rải rác ở hai bên bãi cát mênh mông này, sống nương nhò vào dân chúng. Đồng bào đã cho họ ăn và chỉ đưòng cho họ chạy giặc. Và đêm đến, họ ra “sa trường” ngủ. Ở đây, họ bắt được liên lạc với tỉnh, họ được chỉ đường cho lên chiến khu hay được đi theo giao liên về lại cơ sở. Cứ như vậy, các cơ quan tỉnh, huyện dần dần thu nhặt được tạm đủ số người để làm việc. Và quân Pháp, sau mấy ngày đầu hùng hổ, những ngày mà chỉ với năm tên lính, cũng có thể triệt hạ được cả một làng, bắt đầu thấy vấp phải một sức kháng cự vô hình. Những đội quân đi càn quét dần dần đã phải thận trọng, nếu đi ít chúng có thể bị phục kích. Trận tấn công táo bạo của tiểu đoàn 2 vào đồn Hộ Thành ngay trong trung tâm thành phố Huế và nhất là trận tiêu diệt đồn Đất Đỏ ở xã Phong Nguyên thuộc miền rừng núi phía bắc tỉnh, đã làm cho quan tư  Côt-xtơ vò đầu tức tối và điên ruột. Sao thế nhĩ, trung đoàn Cao Vân của Việt Minh đã bị tan rã hoàn toàn, bóng những người lính áo xanh đầu đội mũ ca lô có ngôi sao vàng năm cánh không còn thấy xuất hiện, họ đang được chỉnh đốn ở một góc rừng núi nào đó của tỉnh Thừa Thiên, nhưng quân đội Pháp đã vấp phải những ngưòi lính áo nâu ở rải rác khắp nơi trong toàn tỉnh. Đây là một lực lượng chống đốì vô hình, khi ẩn khi hiện, những đội quân ma. Ban ngày, khi những chiếc máy bay Pháp rú lên lồng lộn, khi những chiếc máy bay bà già trinh sát nghiêng đi ghé lại trên khắp các cánh đồng, khi những toán lính Pháp, sục vào tận hang cùng ngõ hẻm của các làng mạc, khi những tên mật thám người bản xứ làm việc cho mẫu quốc len lỏi rình mò vào tận các thôn xóm, thì người ta không thấy bóng những người lính ấy ở đâu cả. Đâu đâu cũng chỉ gặp những người nông dân hiền lành và sợ hãi, những người đang vác cuốc vác cày đi theo con trâu từng bước một trên đường làng ra cánh đồng làm việc. Nhưng, kỳ thay, đêm đến, những toán quân ma đã từ trong xó tối nào xuất hiện, quấy rối các đồn bót, chôn bom trên các ngả đường, bắn vào các toán lính Pháp đi càn quét, và giết những ban hội tề vừa thành lập.





  •  Chiến tranh quái quỷ gì thế này! - Quan tư Cốt-xtơ đi đi lại lại trong căn phòng làm việc của hắn, vừa tức tối, vừa suy nghĩ cách đối phó. Bỗng hắn lẩm bẩm nói một mình: - Phải triệt hạ. Triệt hạ hết. Chống cái bọn khủng bố Việt Minh, ta phải thẳng tay. Phải, ta còn có Nguyễn Bá Tòng. Đã đến lúc phải lập chính quyền tỉnh của những ngưòi bản xứ cộng tác. Chỉ có chúng nó mới diệt được chúng nó.


    Hắn mỉm cười một nụ cười nham hiểm rồi bấm một cái vào chuông điện thoại. Reng... reng... Tên lính hầu cận bước vào.




  •  Bảo đánh xe cho tôi đi ngay có việc cần.




  •  Thưa ngài vâng.


    Trong khi chờ đợi xe, Côt-xtơ  đi đi lại lại trong căn phòng, nện giày đinh cồm cộp, vẻ sốt ruột và tức bực.


     





VIII



 



“ Các ông thấy không? Cuộc kháng chiến như thế có thể coi là thất vọng rồi còn gì. Tan vỡ hết. Tình hình thật là nguy hiểm. Tôi thấy chúng ta cần phải có thái độ và làm một cái gì. - Ông giáo Giang, giáo sư trường Khải Định, nói với các bạn đồng nghiệp và hai luật sư ở toà Thượng thẩm Trung Bộ đang ngồi quanh ông như thế. Từ khi xảy ra chiến tranh, Giang đã tản cư về cái làng Phong Thủy ở huyện Phong Điền này. Đến nay, mặt trận vỡ, ông lại đón được một số bạn đồng nghiệp của ông và một số luật sư, kiến trúc sư, bác sĩ và nha sĩ tư chạy loạn ra đây, trong đó có cả giáo sư Hanh nổi tiếng của trường Khải Định. Sáng hôm ấy, họ tụ tập lại với nhau trong ngôi nhà ngói năm gian rộng lớn của một viên chánh tổng cũ ở huyện Phong Điền, là nơi mà Giang đã ở được gần hai tháng nay. Họ ngồi quây quần cả trên một cái sập gụ bóng loáng, giữa sập là một ấm nưốc chè nóng thơm phức và một bao thuốc lá Cô-táp bóc dở. Cuộc thảo luận bỗng trở nên sôi nôi.



Giáo sư Tiến nói:



- Ông bảo làm thì làm cái gì? Bọn chúng ta thì làm cái gì được. Chúng ta chỉ là những nhà giáo, những người dạy trẻ. Chúng ta đâu có phải là những ông tướng quân sự hay là những nhà chính trị.



Luật sư Bảo nói tiếp luôn:





  •  Phải đấy, như chúng tôi thì chỉ làm việc được trong thời bình. Chiến tranh thế này thì xử kiện cho ai, làm trạng sư cho ai.


    Kiến trúc sư Vịnh nói:




  •  Đến nghề của tôi bây giờ mới lại càng vô dụng. Không lẽ đi vẽ kiểu mấy cái nhà tranh cho cái làng này.


    Giang cãi lại:




  •  Thưa các ông, không phải thế ạ. Không phải là chúng ta đứng ra để gõ đầu trẻ, làm thầy cãi và vẽ kiểu nhà trong lúc này. Nhưng chúng ta là những người trí thức, những người có hiểu biết, có nhiệm vụ dẫn dắt cho dân chúng trong mọi việc. Tình thế bây giờ gấp lắm. Dân chúng hoang mang, xao xuyến. Cán bộ Việt Minh thì chạy mất cả, chính mắt tôi hôm qua trông thấy cả một đoàn cán bộ tuyên truyền xung phong theo đưòng số 1 chạy thẳng ra Vinh. Phía Phò Trạch đã nghe có tiếng súng nổ. Làng mạc đã thấy bị đốt cháy rất nhiều...


    Hoàn, cũng là một giáo sư trường Khải Định, bỗng chen vào:




  •  Cái lỗi của chúng ta là không chịu chạy ra Vinh từ trước. Chính chúng ta cũng không quá tin ở cán bộ, cứ tưởng là chỉ ít lâu là đánh tan quân đội Pháp ở Huế. Các ông xem, có phải không, lúc đánh nhau, chúng ta chạy ra các huyện được vài ngày rồi lại mò về Huế cả.


    Ấy thế rồi hôm qua đã phải chạy chí chết. Nhà tôi mới cực chứ. Đã không quen chạy bộ, lại lấn cấn mấy đứa nhỏ lẵng nhẵng sau lưng, thật lắm lúc muốn ứa nước mắt vì quá cực.


    Tiến lại nói:




  •  Theo tôi bây giờ chạy ra Vinh cũng chưa muộn, vả lại chúng ta chỉ là những nhà giáo, nếu chạy không kịp thì không lẽ quân Pháp lại bắn cả vào chúng ta.


    Kiến trúc sư Vinh cãi:




  •  Ai biết đâu ông là nhà giáo, họ cứ bắn bừa đi chứ. Chừng họ tới xem xác ông, biết ông là giáo sư thì đã muộn. Ông không thấy máy bay nó bắn bừa vào dân tản cư đấy à. Chính gia đình tôi hôm qua cũng chạy dưới làn đạn của máy bay đấy.


    Tiến cãi:




  •  Tôi cho rằng những người bị bắn chết chỉ là vì dại. Tại sao quân Pháp đã đuổi đến sau lưng mà còn chạy nữa. Còn xa thì hãy chạy, nếu gần quá rồi thì thôi, thế mới sống được. Các ông xem, tôi đã mang sẵn trong mình cả những bằng cấp, những giấy tờ chứng thực của thời trước. Gặp họ, mình trình giấy ra, ai còn giết mình nữa.




  •  Ông tưởng chỉ mình ông làm thế, còn chúng tôi đã không làm như thế à? Nhưng làm thế cũng chỉ mới chắc được một nửa.


    Một người bỗng nói:




  •  Thế các ông định bỏ kháng chiến à?


    Mọi người quav lại, khó chịu nhìn người vừa phát biểu .


    Hoàn nói:




  •  Này, bác Đệ, bác đừng vội nói thế. Chấp kinh thì phải tòng quyền. Chúng tôi chuẩn bị sẵn giấy tờ như thế đâu có nghĩa là không theo kháng chiến nữa. Chính là vì để bảo vệ cái tính mạng hữu ích của mình để làm việc cho dân tộc, cho quốc gia. Có phải cứ không mang bằng cấp giấy tờ gì cả để hộ thân là theo kháng chiến đâu...


    Giang gạt tay một cái mạnh, và nói lớn:




  •  Các ông nói lạc đề cả. Các ông chỉ mới biết lo cho thân mình và gia đình mình. Hãy nói về kháng chiến cái đã. Ừ, kháng chiến, hay lắm, nhưng tình thế như thế này thì kháng chiến cái gì. Tôi đã nói rồi mà: tình thế đã tuyệt vọng, đã tan vỡ hết. Này nhé, bộ đội tan vỡ, chính quyền tan vỡ, dân chúng thì hoang mang mất tinh thần, quân đội Pháp thì tiến tràn lên như nước vỡ bờ, không có sức gì cản nổi. Tình thế này thì các ông chạy ra Vinh cũng đến thế thôi. Quân Pháp họ lại không biết kéo ra Vinh ư ? Lúc ấy thì các ông chạy đâu. Tôi nói thế không có nghĩa là ta phải đầu hàng đi, chịu làm nô lệ như trước đi. Không, hoàn toàn không phải thế .Vả lại, người Pháp, xét cho cùng, rồi cũng không thể cứ giữ nguyên cái kiểu cai trị của họ như trưóc đây nữa. Các ông nên nhớ rằng bây giờ là thòi kỳ sau đại chiến thế giới thứ hai, thòi kỳ mà người Pháp ở đây từng thua người Nhật và người Việt Nam chúng ta cũng đã nổi dậy rồi. Cuộc nổi dậy ấy do ai là người cầm lái, cái đó chưa tính tới, nhưng dù sao thì cũng đã là nổi dậy rồi.


    Tiến sốt ruột ngắt lời Giang:




  •  Thì ông hãy nói ngay ý kiến của ông ra xem nào. Kháng chiến thì không được, mà hàng cũng không hàng, thế thì ông làm cái gì. ông định đem một toán nhà giáo chúng ta ra mà van xin với người Pháp hay sao?


    Giang trợn tròn hai mắt, dang hai tay ra vẻ bực bội:




  •  Chết, sao ông lại tự hạ người trí thức chúng ta đến như thế. Sao ông lại gọi là van xin. Không, tôi nghĩ rằng trong tình thế này, những người trí thức chúng ta phải đứng ra điều đình với người Pháp. Điều đình, ông rõ chưa. Điều đình hoàn toàn không phải là van xin. Ngay Chính phủ trước đây cũng đã điều đình với Pháp và họ đã đồng ý cho nước ta là một nước tự do trong khối liên hiệp Pháp. Thế  rồi Chính phủ đòi độc lập hoàn toàn, đòi có ngoại giao, quốc phòng, tài chính riêng. Như thế là đòi cao quá, và vì vậy mà xảy ra đánh nhau. Thế rồi đánh nhau kết quả như thế nào thì các ông đã rõ. Chính tôi lúc đầu cũng tưởng là đánh nhau được và nếu thắng thì tôi hết sức hoan nghênh. Cho tới nay, tôi vẫn khâm phục những người Việt Minh, tôi vẫn nhận họ là những người thật tâm yêu nước. Và chính vì thế mà lúc ở huyện này tôi đã nhận tham gia Ủy ban Liên Việt huyện và làm giúp cho Phòng tuyên truyền huyện. Nhưng nay thì kháng chiến không có hy vọng gì nữa. Việt Minh đã chạy cả. Dân chúng thì sống trong cảnh hỗn loạn, nheo nhóc, cực khổ đến tột cùng. Chúng ta đứng ra điều đình với người Pháp sẽ mang lại hai cái lợi: một là... yêu cầu người Pháp ít nhất để nước ta được... chẳng hạn như là tự trị hay bán tự trị trong khối Liên hiệp Pháp, hai là do đó mà trước mắt đỡ những sự thiệt hại cho dân chúng. Phi người trí thức chúng ta ra, không ai làm được công việc ấy bây giờ cả. Việt Minh thì họ chạy hết rồi và chắc họ không chịu điều đình, hơn nữa người Pháp chắc cũng không chịu điều đình với Việt Minh...


    Hoàn nói:




  •  Ông còn trẻ, ông một thân một mình, ông nói thế nào cũng được. Chúng tôi đây ai cũng vướng víu vợ con, gia đình cả. Vả lại, ông bàn những chuyện to tát quá, tôi e rằng chỉ là chuyện viển vông.




  •  Sao ông lại cho là viển vông được.




  •  Thì chúng mình chỉ ngồi trong cái xó làng này, biết sao được tình hình cả nước mà bàn những chuyện to như thế. Còn ở Hà Nội, ở Sài Gòn, còn Chính phủ, còn các bộ... nữa cơ mà. Ở Huế này, ông điều đình với ai. Không lẽ chính phủ Pháp phái đại biểu tới Huế để điều đình với chúng ta à?


    Giang đang hùng hồn bỗng im bặt, lúng túng và thái độ ấy làm mọi người trong cuộc thầm đánh giá ngay rằng anh ta chỉ bẻm mép. Tiến bỗng quay sang Hanh hỏi:




  •  Thế nào, bác Hanh, bác vốn là người cao kiến, bác nghĩ thế nào?


    Hanh từ nãy đến giờ vẫn lặng im hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác, không nói một câu nào. Ông làm ra vẻ lạnh lùng, thản nhiên như không thèm nghe những lời bàn tán vặt vãnh của các bạn đồng nghiệp mà ông vẫn có thói quen coi là kém hẳn ông một bậc. Nghe Tiến hỏi, ông chỉ nhún vai:




  •  Tôi thì có ý kiến gì mà cao với thấp.


    Nhưng câu nói có vẻ khiêm tốn ấy lại càng làm cho mọi người quay hết cả về phía Hanh, chò đợi ý kiến của ông. Đợi cho mọi ngưòi giục thêm đến hai ba lượt, Hanh mới chậm rãi nói:




  •  Theo tôi thì tất cả mọi việc diễn ra đều chỉ là nhất thời, cả kháng chiến, vỡ mặt trận, quân đội Pháp đuổi, dân chúng chạy loạn, Việt Minh tan rã v.v... cũng chỉ là những hiện tượng. Lịch sử của dân tộc, của văn hoá, của nhân bản rồi sẽ cứ theo con đường tiến hoá nói chung của nó. Chung quy là rồi sẽ như vậy tất. Trước mắt thì ông nào muốn chạy ra Vinh cứ chạy, ông nào muốn điều đình cứ điều đình, thậm chí ông nào muốn trở về Huế cũng cứ đi đi, miễn là chúng ta đi đâu, làm gì cũng cứ giữ trọn cái nhân phẩm. Nhân phẩm, đấy mới chính là rường mốì của sự sinh tồn của dân tộc.


    Rồi không để cho mọi người hỏi thêm cho rõ cao kiến của mình, Hanh khoát tay đứng dậy:




  •  Thôi, bàn lâu quá rồi. Tôi xin phép các ông về thôi.


    Vừa về đến nhà nơi gia đình Hanh tản cư, Hanh đã bảo ngay Phương và Long:




  •  Mợ với anh Long lo thu xếp đồ đạc đi để chúng ta về Huế thôi.


    Bà giáo hỏi chồng:




  •  Về ngay hả cậu? Nhưng đi đường nào bây giờ.


    Hanh đáp:




  •  Cứ đưòng nào người ta đi thì mình đi, đường nào cũng được ngại gì.


    Long ngạc nhiên hỏi:




  •  Về lại Huế hả cậu? Còn kháng chiến thì sao?


    Hanh không trả lòi thẳng vào câu hỏi của Long. Mải theo đuổi ý nghĩ riêng, Hanh nói bâng quơ:




  •  Ông Giang ông ấy nói có phần đúng. Có theo họ mà chạy ra Vinh thì rồi quân đội Pháp cũng đến đánh ra đây mà thôi. Căn bản là dân trí ta còn thấp lắm, chưa tự lập tự cường được. Bây giờ việc duy nhất mà chúng ta có thể làm là góp phần nâng cao dân trí lên, bằng bất cứ cách nào.


    Phương chợt hỏi chen vào:




  •  Chết, thế quân Pháp đánh ra Vinh thì chú Thắng với thím ấy không biết rồi chạy đi đâu cậu nhỉ?




  •  Tốt hơn hết là nếu chú ấy không khéo biết đưòng cư xử thì đi ngay về Huế. Nhà cửa của cha mẹ ông bà còn để đấy, làm con người trước hết là phải lo cho tròn gia đạo...


    Long không ngồi nán lại nghe nốt câu chuyện của cậu mợ anh. Anh lẻn ra sau vưòn, suy nghĩ về những sự kiện xảy ra chung quanh anh và về việc cậu anh bảo anh sửa soạn để về Huế. Tròi ơi, về Huế, về cái nơi mà tình yêu của anh bị gián đoạn một cách không ngờ cách đây đã hơn một năm! về cái nơi mà mới cách đây không lâu anh còn đi vơ vẩn tìm người yêu bên đồn Mang Cá mà không gặp, và anh đã tham gia một buổi đào công sự để chống Pháp. Long còn nhớ như in cái buổi đầu tiên mà anh được gặp những con người lao động bình thường nhưng đã giúp anh một cách nhã nhặn ấy. Để nhớ xem mấy anh ấy tên là gì nào. Hình như có một cậu tên là Út thì phải. Họ đã làm việc cho kháng chiến một cách hăng hái biết bao. Vô tình anh nghĩ tới Thuận, Thiện cũng tham gia kháng chiến, cũng đi bộ đội. Thiện cũng có học thức như mình, cũng chẳng kém mình về mặt nào, có lẽ chỉ kém đôi chút về tài làm thơ, đánh đàn và hát. Thế mà Thiện được tự do hành động theo ý muốn, còn mình thì cứ buộc phải chạy theo cậu Hanh và làm theo ý của cậu Hanh. Cứ như cậu Hanh nói thì kháng chiến e không ăn thua gì nữa. Long hơi ngạc nhiên nhớ lại cái buổi vỡ mặt trận và anh phải cùng cậu mợ anh chạy trước mũi súng quân Pháp. Không thể ngờ được rằng đang bao vây quân Pháp như thế, đang hy vọng thắng lợi như thế mà bây giờ lại đến nông nỗi thế này. Long nhớ lại ngày chạy loạn hôm qua. Lần đầu tiên anh mới bị những phen hãi hùng như thế. Trên đầu anh máy bay rú lên, bổ nhào xuống đầu những người dân tản cư vô tội. Sau lưng anh là từng tràng súng nổ liên hồi như muốn bay tới trúng ngay vào giữa ngực anh. Những cột khói đen ngất trời của những ngôi nhà bị đốt. Những tin đồn quân Pháp bắn bất cứ ai. Rõ ràng là chúng quá tàn bạo, đâu có phải là tuyên truyền của Việt Minh như cậu Hanh đã có lần bảo anh. Thế mà bây giờ anh lại phải về Huế để sống với những đám quân tàn ác ấy ư? Long chợt rùng mình nghĩ tới hai chữ Việt gian. Chính anh đã thấy và đã nghe đông đảo mọi người chung quanh kết án những đứa Việt gian như thế nào rồi. Chính mắt anh cũng đã có lần trông thấy người ta giải đi và bắn chết một tên Việt gian và cũng chính anh, trong thâm tâm, cảm thấy khinh ghét thực sự cái tên bị xử tử ấy. Long càng rùng mình hơn khi nghĩ rằng Vân của anh về nhìn anh với con mắt như thế nào nếu anh mang cái tiếng là Việt gian. Không, anh không thể dùng cái lối lập luận của cậu Hanh mà cho rằng không kháng chiến cũng là yêu nước được. Cái lối lập luận ấy trước đây anh đã từng tin theo và cũng đã từng dùng trong những cuộc tranh luận. Phải, cái hồi mình cãi nhau với Thiện và Vân, chính mình đã lập luận như thế, chính mình cũng tin rằng Việt Minh là một đảng phái chỉ lo cho quyền lợi riêng của họ và họ khinh rẻ trí thức. Nhưng còn quân Pháp? Không thể nói rằng về với quân Pháp là theo chủ nghĩa quốc gia chân chính được. Hoặc nói rằng người Pháp tôn trọng trí thức nên có thể về với chúng được. Rõ ràng đó là những bọn đã cai trị nước ta, và bây giờ lại đánh chiếm nước ta. Dân trí thấp kém, phải, Long vẫn nhận là dân trí có thấp kém thật. Nhưng công bằng mà xét, đổ lỗi những việc ấy cho Việt Minh cả thì cũng không đúng, vả lại, dân trí thấp kém sao ta có thể vây hàng bao nhiêu quân Pháp trong thành phố Huế đến gần hai tháng trời được. Sao đông đảo mọi người đều tham gia kháng chiến cả. Thế còn vỡ mặt trận thì có phải là tại dân trí thấp kém không? Long băn khoăn tìm mãi cách trả lời câu hỏi ấy nhưng không được. Đầu óc anh như rốì tung lên.


    Bỗng Long ngưóc mắt nhìn lên trời. Một đàn chim nhạn đông đảo lúc ấy đang bay về phía nam để tránh rét. Phía nam, bây giờ là Huế đấy. Long chợt giật mình nghĩ tới việc Hanh dặn anh phải sửa soạn gấp để về Huế. Làm thế nào bây giờ? Hay là ta xin tham gia kháng chiến. Nhưng mặt trận vỡ rồi, cán bộ chạy hết rồi, còn kháng chiến cái gì nữa hay là xin phép chạy ra Vinh với cậu Thắng. Nhưng ra đấy rồi để làm gì? Cậu Thắng trước đây cũng chẳng để ý gì đến mình lắm. Hơn nữa chạy bộ từ đây ra đến đấy thì lấy tiền đâu mà ăn đường. Xin cậu Hanh ư? Sao lại có thể xin tiền cậu ấy để đi theo đường khác, bỏ cậu mợ ấy về Huế một mình. Vả lại ra Vinh rồi mình làm cái gì? Kháng chiến ư? Không biết có ai tin mình mà giao công tác cho mình không. Làm ở bệnh viện với cậu Thắng thì không được rồi, mình không biết qua tí gì về y học cả. Mà hơn nữa nếu đúng như cậu Hanh nói, rồi Tây nó cũng ra Vinh thì chỗ nào còn kháng chiến.


    Long không thấy có lối thoát. Anh thở dài rồi lắc đầu: Thôi, số mình nó như thế, phải theo cậu Hanh mà về Huế thôi. Và anh ngao ngán đi vào trong nhà, uể oải thu xếp đồ đạc để chuẩn bị lên đưòng. Bên ngoài, trời đã tối hẳn. Nhưng ánh đuốc bập bùng của những người du kích làng Phong Thủy chạy đi chạy lại trước ngõ lại gieo thêm vào tâm hồn rối loạn của Long những nỗi hoang mang lo sợ. Có tiếng chân người chạy rầm rập. Long vội vàng chạy ra hỏi với: “Cái gì thế. Cái mà các bác chạy thế?”.


    - Chúng tôi tới giúp ủy ban xã đốt bớt giấy tờ để chuẩn bị chạy giặc.


    Long thấy cần phải quyết định dứt khoát việc đi về Huế. Không trù trừ nữa, anh bước vội vào trong nhà, hối hả thu dọn những quần áo chăn màn còn để ngỗn ngang trên giường nằm.





*



Chiếc xe hơi bóng loáng có cắm chiếc cờ tam tài nhỏ xíu chở trung tá Cốt-xtơ chạy vun vút qua các phố chính của thành phố Huế ! Thành phố sau ngày quân Pháp chiếm lại đang nhanh chóng trút bỏ những vết tích của một cuộc chiến tranh tàn phá vừa mới xảy ra cách đây vài tuần lễ. Hai đầu cầu Tràng Tiền và cầu Bạch Hổ, những đội công binh Pháp được huy động ra cấp tốc sửa cầu. Một tốp bảo vệ quân được phái đi dựng lại cái cột cờ cao ngất trước cổng Ngọ Môn đã bị phá gãy gục khi quân đội Việt Nam rút lui. Quân Pháp đi nhởn nhơ trên các đưòng phố. Các ụ chướng ngại vật của tự vệ đã bị xe tăng, xe thiết giáp và cả xe hơi của quân Pháp kéo đi hết từ hồi nào. Trên dòng sông Hương, thay cho chiếc cầu Tràng Tiền bị đổ sụp, năm sáu chiếc ca nô của quân đội Pháp chạy suốt đêm ngày chở khách qua sông và chở phà cho xe hơi qua sông. Trong nhà máy đèn đã bị phá, quân Pháp đã chở tới đây một máy nổ lớn cung cấp ánh sáng tạm đủ cho các đường phố chính và các nhà còn nguyên vẹn dây điện trong thành phố. Nhà thông tin đã mở cửa lại, cố nhiên, tấm biển đề mấy chữ Nhà thông tin Trung Bộ đã bị hạ xuống và thay bằng mấy chữ Salle Diapirmation. Trên đưòng phố, người đi lại đông nhất vẫn là quân đội Pháp. Nhưng cũng không hiểu từ xó xỉnh nào, đã thấy chui ra những ả me Tây bự phấn, những con đĩ tóc quăn, môi son đỏ loét, mặc áo dài sặc sỡ và chiếc quần nhông dính đi giày cao gót cắp nách kè kè những tên quan Pháp. Chúng bá cổ hôn nhau ngay giữa đưòng phố, chúng cười đùa và la hét ầm ĩ. Vài chục cửa hàng đã thấy mở cửa lại. Tất cả những tiếng động ấy, từ tiếng cười the thé của bọn me Tây, tiếng giày đinh của bọn lính, tiếng xe hơi nhà binh nghiến rít trên mặt đường, tiếng ca nô chạy trên sông, tiếng búa chan chát của các đội sửa cầu, tiếng máy phát điện chạy ầm ì..., tất cả tạo nên cho thành phố một vẻ gì như là náo nhiệt lắm. Thêm vào đó là tiếng chuông nhà thờ Phú Cam buổi sáng chiều gióng lên rộn rã.



Thế rồi, lẻ tẻ, lần lượt đã có người Việt Nam hồi cư. Trước hết, đó là những ông mặc quân phục của Nam triều cũ, trước ngực không quên đeo lủng lẳng chiếc bài ngà, những bà mệnh phụ sang trọng, những cậu ấm, cô chiêu. Có việc đi ra đường phố , họ lôi ra những bộ âu phục sang trọng với những chiếc cà vạt sặc sỡ từ sau cuộc nổi loạn tháng Tám bất hạnh của bọn dân đen, họ đã phải xếp sâu vào trong đáy hòm. Thế nhưng cùng hồi cư vói họ cũng có những bồi, bếp, những con sen, những anh kéo xe tay nhà, những bà vú bõ. Những ngưòi này không mấy khi dám đi dạo phố, họ chỉ đi gánh nước - không phải là nước máy mà là nước giếng và nước sông Hương, và đi chợ. Họ phải rón rén xếp hàng dài ở chợ Đông Ba sau những chiếc xe hơi bán thực phẩm của quân đội Pháp. Phần đông đều lầm lì ít nói, có lẽ họ thấy không nên dại miệng nói ra bất cứ câu gì trong cái buổi đầu mới hồi cư này.



Nhưng rồi dần dần thấy những anh thợ cắt tóc, ông thợ chữa khóa, ông thợ nhuộm rong, những bà đồng nát, bà đi mua lông gà lông vịt, bà bán bún bò, bà bán xôi thịt bên chợ Đông Ba, rồi đến các ông kéo xe tay, Ông thợ chữa giày v.v... nghĩa là những hạng ngưòi thuộc trăm thứ nghề, cũng lần lần hồi cư về thành phố . Họ là những người không thể không sống ở thành phố vì từ đời ông cha họ, họ đã bị phá sản ở nông thôn không còn ruộng nương gì nữa. Tất cả những lớp người ấy chạm trán nhau ngoài đường phố. Nhưng họ tịnh không ai nói với ai một câu nào về thời cuộc. Cũng không thấy họ hỏi nhau cả về việc hồi cư từ bao giờ và vì sao mà phải hồi cư nữa. Nhưng có lẽ tất cả đều cảm thấy một điều: Thời thế lại đã thay đổi, bây giờ không phải là lúc có thể  ngang nhiên nhìn thẳng vào mặt các cụ lớn, các quan lớn, các bà lớn, các cậu, các cô được nữa. Không ai bảo ai mà cái nếp sống bỗng nhiên lại trở lại như những năm nào trước cách mạng và những ông phu xe lại sẵn sàng đặt càng xe trước mặt một vị thượng lưu mà cung kính thưa: “Bẩm cụ lớn, mòi cụ lên xe ạ”. Những tiếng ấy là những tiếng đã từng biến mất tăm mất tích ở cái thành phố  đầy các vị quan lớn quan bé này. Hồi ấy, ai mà gọi anh như thế, anh có quyền chửi ngay vào mặt, hoặc ngược lại, anh có thể phải lùi lũi mà đi cho mau để khỏi bị người khác nghe tiếng. Nhưng nay thì những người được gọi như thế lại cho là tự nhiên và thế là phải mà thôi.



Tiếp đến là những hiệu buôn lớn, buôn nhỏ lần lượt mở cửa - Trước hết là hai nhà hàng Sáp-phăng-giông rồi đến nhà Mo Ranh của người Pháp mở ra một góc để cho sĩ quan Pháp mang gái tới nhảy nhót. Trong nội thành, cái hiệu Thái Lợi nổi tiếng, nổi tiếng không phải vì buôn to mà vì người ta đồn đại trăm thứ câu chuyện về ông chủ của nó, nhất là những câu tiếng Tây bồi “gái Thái Lợi” của ông ta, cũng đã mở cửa. Hiệu phở Tam Trinh, các cửa hàng bún bò Gia Hội quen thuộc của người dân thành phố Huế, các hiệu Tiến Lợi, Vạn Lợi, Hoà Lợi v.v... lần lượt mở cửa. Cuộc sống bề ngoài không những có vẻ đã trở lại bình thường, mà còn không biết từ đâu, một luồng dư luận bỗng lan truyền là bây giờ có vẻ làm ăn lại dễ chịu hơn cái thời kỳ khốn khổ vừa qua. Quả thật, đối với những mụ, những mệ, những ngài tôn thất trước đây vẫn ngồi không ăn phụ cấp của Tôn Nhơn Phủ, đối với những cụ lớn tham tri, thị lang, lang trung, trong lục bộ, đối với cả các hàng thừa phái, lục sự các ông tham, ông phán tòa khâm và tòa sứ, các ông huyện của sáu huyện trong tỉnh, đối với các bà mệnh phụ triều đình, các bà trước đây vẫn lui tới cung An Định hay các phủ của các ông hoàng bà chúa cuối thời của triều đình nhà Nguyễn, đối với tất cả những cụ lớn, quan lớn, ông lớn, bà lớn ấy, cuộc nổi loạn của đám dân đen vừa qua thật là một cơn ác mộng. Một ông mặc chiếc áo dài bằng'nhiễu đen, chân đi giày Gia Định, đầu đội chiêc khăn xếp bằng nhiễu Tam giang, đang đi ngoài phố vói bạn bỗng xòe tay ra trợn mắt lên nói: “Việt Minh bất nhơn rứa đó. Ngài coi đây. Hắn làm cho mệ bị luôn mấy con ghẻ nước ăn trên tay”. Vừa nói ông ta vừa xòe ra một đôi bàn tay búp măng, trắng muốt, có những chiếc móng dũa kỹ, vừa dài vừa nhọn như móng tay đàn bà. Việt Minh đã tước đi của người ta những thứ quý giá nhất trên đời này: Tự do của con người, cái nhàn hạ của con người. Còn đâu mà cầm kỳ, thi, họa, ngâm thơ vịnh nguyệt, gảy đàn xem trăng nữa. Còn đâu cái cảnh gọi mấy con hát để đi trên con đò sông Hương, thưởng thức tiếng đàn nguyệt, đàn tranh, đàn tỳ bà và lời ca trong trẻo, tình tứ và buồn đến lặng người của những cô đào Huế hát những bài Nam Ai, Nam Bình, hay những câu hò dài tưởng không bao giờ dứt. Hỏng cả. Việt Minh muốn làm đảo lộn cả cương thường, đưa xã hội đi đến chỗ diệt vong, không còn trật tự, không còn kỷ cương gì nữa. “Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông”, người ta nhắc lại với nhau như thế và còn nhắc nhau như thế hàng chục lần để khắc sâu vào tâm khảm cái lời thề của người Huế, người của cố đô: Không thể để cho một cuộc nổi loạn bất hạnh như thế lại diễn ra nữa, phải bảo vệ lấy cái thế giới của chúng ta, những người thật sự là của Huế.



Cái thế giới ấy, bây giờ đây, đang được họ phục hồi. Những tấm bài ngà, bấy lâu nay để mốc, có cái còn bị chôn chặt trong lòng đất, nay được moi lên, chùi sạch và được trọng vọng đeo lên ve áo trước ngực. Và những chiếc bài ngà ấy đã biết rung rinh lúc lắc mỗi khi chủ nó gặp những tên lính Pháp ngoài đường phố. Không phân biệt đó là sĩ quan hay binh nhất, binh nhì, cứ hễ là tóc quăn, mũi lõ, da trắng là mấy ông lớn rất coi trọng nhân phẩm ấy lại mỉm cười rất lịch sự và cũng cúi gập người chào rất lịch sự. Nếu gặp những tên lính Pháp nào vui tính cũng mỉm cưòi chào lại thì có ông sính tiếng Pháp còn hăng hái nói thêm mấy câu: Salut! Victore! Vive la France! Lẽ cố nhiên là đốì với những người lính của châu Phi thì họ không chào cũng không cười, họ thấy không cần thiết vì bọn lính ấy còn thấp kém thua họ một bậc.



Tất cả những cảnh tượng ấy đã làm cho thành phố vừa có vẻ huyên náo, vừa có vẻ nực cười. Nhưng ai mà dám cười... Trong các khu nhà lá, các ngõ hẻm tối om và lầy lội, lóp ngưòi cùng khổ của thành phố không dám cười. Họ sống một cách thầm lặng, hơn nữa hình như còn muốn thu mình lại cho nhỏ hơn, cho khó thấy hơn trong cái ngõ tối om của họ. Nhưng nếu có ai chịu khó lần mò vào trong những con hẻm ấy, vào những lúc đêm khuya, trong khi trong nhà họ thấy lẻ loi vài ánh đèn dầu lạc hay đèn hoa kỳ, sẽ nghe thấy tiếng họ thở dài se sẽ.



Nhưng đến sáng hôm sau, đâu lại vào đấy, thành phố vẫn cứ càng ngày càng huyên náo, càng diễn ra lắm cảnh lố lăng và chướng mắt. Tịnh không thấy một bóng người nào ăn mặc theo lối cán bộ, một lối ăn mặc thịnh hành cách đây mấy tháng, nghĩa là quần áo ka ki, áo sơ mi có hai túi trước ngực và đôi khi có cả chiếc mũ lưỡi trai hay ca lô, bất kể người đó có phải là bộ đội hoặc tự vệ hay không.



Chiếc xe hơi bóng loáng chở trung tá Cốt-xtơ vẫn lao đi vun vút. Ngồi trên xe Cốt-xtơ thấy những cảnh thật huyên náo, những cửa hàng mới mở lại đã cố làm cho đỏm dáng hơn cả ngày xưa, những cặp sĩ quan ôm gái nhảy người bản xứ hôn ngay trên lề đưòng mà mỉm cười, cơn bực tức lúc này đã nguôi đi quá nửa. Côt-xtơ tự hào nghĩ: đó là công lao bình định và khai hóa của người Pháp chúng ta. Chúng ta đã đem tới đây trật tự và sự tươi vui trong tự do, chúng ta sẽ còn mang lại sự phồn thịnh nữa. Ngôi nhà hai tầng xinh xắn. Tên lính Pháp lái xe bấm còi inh ỏi. Cốt-xtơ bước xuống và hơi cau mày khi thấy cổng còn đóng. Nhưng từ trên cầu thang của ngôi nhà đã thấy một người mặc lễ phục màu đen, có đeo bài ngà và đội khăn xếp luống cuống chạy xuống. Hắn chạy vội ra mở cổng, thái độ có vẻ khúm núm, sợ hãi, cuống quýt vì quan trên đến mà cổng vẫn chưa mở. Hắn vừa vặn khoá vừa nói: “Quái thật, những quân ăn hại. Có tiếng còi xe thế mà không đứa nào biết mà ra mở?”. Nhưng Cốt-xtơ đã bước tới và chìa tay ra bắt tay hắn: “Chào ông Tòng”.



Tòng, phải chính hắn là Nguyễn Bá Tòng, nguyên giữ chức tuần phủ ở Thừa phủ Huế vội vàng cúi gập người xuống nói bằng tiếng Pháp, một thứ tiếng Pháp khá sõi và giọng nghe rất Tây: “Xin hân hạnh được đón ngài trung tá tới chơi. Xin rước ngài vào ạ”. Hắn chìa tay mời Côt-xtơ đi trước và đã định rón rén đi sau thì chợt thấy trong xe một tên lính Pháp còn ngồi nơi tay lái. Hắn xun xoe nói: “A, kìa, vâng, lại còn ông sốp-phơ nữa. Để mời ông ta vào luôn thể”. Nhưng Côt-xtơ đã gạt đi và đôi giày đinh của hắn bước lạo sạo trên con đường đi vào nhà lát đầy đá cuội.



Tòng thét gia nhân:





  •  Bay đâu, bảo bà soạn cho ấm trà, đem thuốc lá với đường ra. Lấy cho hai chai rượu mùi nữa, đằng tốt nhất ấy. Bảo bà đưa tiền cho đứa nào chạy đi mua hai chai bia 33.


    Sau khi Tòng đã trổ hết tài khéo léo và lịch sự mòi Côt-xtơ ngồi trong phòng khách lai cổ lai kim, lai Đông lai Tây của hắn, sau khi đã thong thả đánh diêm châm hút diếu thuốc lá Craven A thượng hảo hạng và ngửa mặt phà khói lên trần nhà, Cốt-xtơ ngỏ lời khen: “Ông Tòng, ông bày biện khá lắm. Cái bộ xa-lông này rất hợp thời”. Hắn chỉ bộ xa-lông bằng gỗ gụ đen bóng có chạm trổ công phu những hình long ly quy phượng rồi nói tiếp: “Bây giờ người ta lại có xu hướng quay về cổ”.


    Tòng tiếp lời:




  •  Dạ, quan lớn trung tá ngài quá khen. - Nói vậy nhưng hắn cũng phổng mũi, ra bộ sung sướng lắm.




  •  Bà Tòng và các lệnh nam, lệnh nữ thế nào, khoẻ chứ?




  •  Dạ, đội ơn quan lớn, mạnh khoẻ cả. Chúng tôi đã vượt qua được sự hành hạ về thể xác và tinh thần của Việt Minh.




  •  Ha ha! ông giỏi lắm. Ông thật là người hiếm có. Cái bọn ấy chỉ có một dúm thế mà cũng đã làm khiếp đảm nhiều người.




  •  Dạ, thưa ngài trung tá, chúng đã chạy như bầy chuột trước uy lực của nước Pháp. Chúng tôi xin thay mặt nhân dân An Nam cảm ơn nước Pháp, cảm ơn ngưòi Pháp, cảm ơn quân đội Pháp, cảm ơn nền văn minh của nước Pháp đệ tam cộng hòa, và trước hết là cảm ơn ngài, cảm ơn quan lớn trung tá, đã giải phóng cho chúng tôi khỏi ách của bọn phiến loạn. »




  •  Xin cảm ơn. Thôi ta bàn công việc.




  •  Dạ.


    Thấy Tòng xoắn xít bên người bồi vừa bưng ra hai chai rượu mùi và hai chai bia cùng mấy cái cốc bóng loáng, Cốt-xtơ chờ cho hắn rót xong đầy hai cốc bia rồi mới hỏi:




  •  Người Pháp chúng tôi đã làm xong nhiệm vụ. Bây giờ' đến lượt các ông bắt tay vào việc. Chúng tôi thấy rằng đã đến lúc cần lập chính quyền... tự trị của người An Nam.


    Tòng hồi hộp lắng nghe, chỉ dám vâng một tiếng khẽ.


    Cốt-xtơ thản nhiên nói tiếp:




  •  Như chúng tôi đã bàn với ông từ trước, ngoài ông ra không có ai làm nổi nhiệm vụ tỉnh trưởng. Chúng ta chỉ bàn công việc của tỉnh chúng ta. về xứ Trung Kỳ, đã có người khác lo. Thế nào, ông vẫn sẵn sàng nhận lời đấy chứ?




  •  Vâng, thưa quan lớn, đội ơn quan lớn...




  •  Việc chính là của các ông. Tự các ông phải đứng ra để giải phóng cho người An Nam, và xây dựng cuộc sổng tự do cho người An Nam. Tôi thấy người An Nam đã trở về thành phố gần hết rồi đấy. Họ đang mong đợi. Chính các ông phải đáp ứng nguyện vọng tha thiết và chính đáng của họ. Chúng tôi, công việc đang chờ đợi chúng tôi ở nước Pháp.




  •  Vâng, thưa ngài trung tá, những người An Nam trung thực đều hiểu như thế. Dạ, ngài nói đúng, dân chúng đã về gần hết. Hơn nữa, quang cảnh bây giờ rõ ràng là có sức sống hơn cả thời trước đây nữa kia. Các giới thượng lưu trí thức An Nam đã lấy lại được tinh thần. Đấy cũng là do công ơn của nước Pháp.




  •  Không chúng tôi không kể ơn. Chúng tôi cũng chỉ làm nhiệm vụ. Thôi, bây giờ ta nói cụ thể. Ồng đã tiếp xúc và mời được thêm những... ngưòi cộng tác với chúng ta chưa?




  •  Dạ, toàn là những người trung thành nhất. Các ông ấy phần lớn trước đây ở các bộ, các ông tham tri, thị lang, lang trung. Tôi cũng nói chuyện nhiều vị trong hoàng tộc. Họ đều tỏ ý sẵn sàng.


    Cốt-xtơ có vẻ suy nghĩ, không trả lời vội. Hắn giơ cốc bia uống một hơi cạn quá nửa, rồi với tay lấy một điếu thuốc lá châm lửa hút, cái chân đi giày đinh di di trên tấm thảm. Hắn suy nghĩ một lát khá lâu rồi mới nói:


    - Cũng tốt thôi. Nhưng không đủ ông ạ. Chúng ta phải nghĩ tới một sự thật. Tuyên truyền xảo trá về dân chủ của Việt Minh dù sao cũng đã làm cho một số người An Nam xảy ra cái thị hiếu là... chuộng cái mới. Những người trước đây đã làm quan bây giờ e rằng không thu phục được dư luận. Tôi nhớ rằng chính người Nhật trước đây cũng đã chọn một giáo sư ra làm đốc lý thành phố. Tại sao ông không chú ý tới những ngưòi trí thức, nhất là những người làm nghề tự do có đôi chút danh vọng, các giáo sư, bác sĩ, kỹ sư, luật sư, nhà văn, nhà báo chẳng hạn?


    Tòng thấy lo lo trong bụng. Hắn liên hệ tới ngay bản thân hắn. Thì chính hắn cũng là quan lại cũ mà thôi, hay là người Pháp sẽ không dùng hắn nữa. Trong một thoáng, Tòng chợt nghĩ tới cái địa vị tỉnh trưởng mà hắn vẫn hằng mơ ước, cái gia tài điền sản mà hắn đang hưởng, cái sung sướng giàu sang, vợ đẹp con khôn, kẻ hầu người hạ mà hắn đang hưởng. Tất cả những cái đó sẽ bị giảm hắn đi nếu người Pháp cho hắn về vườn và chỉ còn là một hưu quan. Không, hắn còn trẻ, hắn chưa muốn làm hưu quan. Hắn cũng chưa có ruộng nương gì nhiều, cả thảy mới đâu có tám, chín mẫu. Tòng chợt thấy tiếc sao mình đã không sớm noi theo cách để của bằng tậu rụộng của các bạn đồng nghiệp nhiều tuổi hơn hắn. Từ nay, ta phải lo làm việc ấy nhanh hơn nữa.


    Thấy Tòng có vẻ trầm ngâm tư lự, Cốt-xtơ chợt hiểu ngay. Hắn nói:




  •  Tôi nói những người đã làm quan đây là những người đã cổ quá, đã mất tác dụng. Còn những người hãy còn nhiều tính năng động thì vẫn tốt, rất tốt là khác. Nhưng ông ạ, tôi có lời khuyên thành thật, ông nên mặc âu phục đi. Cái bộ đồ ông đang mặc trông nó cổ quá. Người khác mặc thì được, ông trước đây mặc cũng được. Nhưng ông phải tỏ ra mình là con người mới, cả về nội dung lẫn hình thức. Và tôi cần nói lại một lần nữa rằng, bất cứ ngươi nào nhận công tác cũng đều tốt cả, ông hiểu rồi chứ?


    Tòng như trút được một gánh nặng. Nhưng hắn cũng vẫn còn hơi nghi ngại. Hắn dè dặt nói:




  •  Thưa quan lớn, những ngưòi hồi cư bây giờ phần lớn là thuộc tầng lớp như tôi đã nói với ngài. Những người làm nghề tự do thì... ít lắm.




  •  Không lo, ông ạ. Rồi ông xem, họ sẽ về đây hết. Chúng ta không lo thiếu người. Vấn đề là ông cần tập trung đủ người để lập nên một chút chính đảng. Tên chính đảng gọi là gì, cái đó không quan trọng, sẽ tính sau, ví dự như có thể gọi là Quốc gia liên hiệp hay Tập hợp dân chúng chẳng hạn. Để lập cái chính đảng ấy, ông cũng không cần đến nhiều người lắm, bước đầu chỉ cần độ năm, sáu người là đủ. Cốt nhất đấy phải là những người ưu tú nhất, tiêu biểu nhất cho dân chúng An Nam.


    Ngừng lại một lát như để suy nghĩ điều gì, Cốt-xtơ nói tiếp:




  •  Một vấn đề nữa cần làm ngay là phải tổ chức cho chính quyền của người An Nam ra mắt. Tôi nghĩ việc này cần phải làm cho long trọng, không ngại tốn kém. Ngoài việc in những tờ bố cáo, tổ chức một cuộc lễ ra mắt với dân chúng ở một địa điểm nào đó, ví dụ như ở Tam tòa chẳng hạn, còn cần phải tổ chức một bữa tiệc mời đông đủ các nhân vật tai mắt trong thành phố tới dự. Dĩ nhiên, các ông là chủ, các ông đứng ra mời , người Pháp chúng tôi sẽ tới dự với tư cách là khách thôi. Nhưng cũng dĩ nhiên là để giúp các ông lúc còn... khó khăn về... tài chính, chúng tôi sẽ giúp các ông. cần cái gì ông cứ tới với tôi, chúng tôi sẽ hết sức giúp ông trong phạm vi khả năng của chúng tôi...





(còn tiếp)



Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »