tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21091343
Tiểu thuyết
15.06.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 3


Tối hôm sau, cả hai kĩ sư lên đường đi Cairô, tại đó, họ sẽ tới thăm thống sứ Anh và vào yết kiến phó









vương. Staś  tính rằng, có thể chuyện đó sẽ khiến họ mất chừng hai ngày, và quả thật, những tính toán của em rất chính xác, vì chiều hôm thứ Ba, em nhận được một bức điện của cha, đánh từ Mêđinét với nội dung như sau: “Lều trại đã sẵn sàng. Các con, hãy đi ngay sau khi con bắt đầu được nghỉ. Báo cho Phátma thông qua Khađigi biết là chúng ta không làm gì được cho chị ta...”. Cô Oliviơ cũng nhận được một bức điện tương tự, và với sự giúp đỡ của bà da đen Dina, cô bắt đầu tiến hành việc chuẩn bị để lên đường.

Chỉ riêng cảnh chuẩn bị thôi cũng đã làm cho trái tim bọn trẻ náo nức vui sướng. Bỗng nhiên một chuyện không lành xảy ra suýt nữa khiến cho mọi dự định đều bị đảo lộn, thậm chí chuyến đi phải đình lại. Vào hôm kì nghỉ của Staś  bắt đầu, ngay trước hôm ra đi, khi đang chợp mắt ban trưa trong vườn, cô Oliviơ bị một con bọ cạp đốt. Thông thường, những con vật có nọc độc này ở Ai Cập không mấy nguy hiểm, nhưng lần này vết đốt lại rất có thể nguy đến tính mạng. Con bọ cạp đã bò lên chỗ tựa đầu của chiếc ghế vải và đốt vào cổ cô Oliviơ khi cô tựa đầu vào đó. Và vì rằng trước đây cô đã có lần bị nổi ban đỏ trên mặt, nên người ta e rằng bệnh ấy lại tái phát. Người ta lập tức cho mời bác sĩ, song mãi hai giờ sau ông ta mới tới, vì ông bận việc ở một nơi nào khác. Khi ấy, cả cổ lẫn mặt cô đã bị sưng vù lên, cô bị sốt và có những triệu chứng thường có của sự nhiễm độc. Trong những điều kiện như thế, bác sĩ cho rằng không thể nói tới chuyện đi đâu được cả, và ra lệnh đặt bệnh nhân vào giường. Vì vậy bọn trẻ bị đe dọa bởi triển vọng sẽ phải nghỉ lễ Thiên Chúa giáng sinh tại nhà. Nói cho công bằng, trong những phút đầu tiên, quả tình Nel lo lắng nhiều tới nỗi đau đớn của cô giáo hơn là nghĩ ngợi về những điều sung sướng bị mất đi tại Mêđinét. Em chỉ khóc thầm ở góc phòng khi nghĩ rằng em sẽ không được gặp mặt cha trong mấy tuần lễ liền. Tuy nhiên, Staś  không dễ dàng chấp nhận điều không may đến thế, em lập tức gửi đi một bức điện, rồi tiếp đó là một bức thư, hỏi xem chúng cần làm gì.


Hai ngày sau có điện trả lời. Trước đó, ông Rawlison đã trao đổi với bác sĩ, sau khi được biết rằng nguy hiểm đã qua, và giờ đây chỉ còn lo là bệnh ban đỏ tái phát nên không thể để cô Oliviơ rời khỏi Port Said được, ông bèn chỉ thị trước hết phải lo lắng theo dõi và chăm sóc cô, rồi sau đó mới gửi cho bọn trẻ, cho phép chúng được lên đường cùng với bà Dina. Bà Dina, mặc dù vô cùng gắn bó với Nel nhưng không thể đảm đương chuyện tàu xe và khách sạn, nên người dẫn đường và thủ quỹ của chuyến đi sẽ là Staś . Dễ dàng có thể hiểu được cậu bé tự hào đến thế nào về cương vị ấy, và với lòng can trường của một hiệp sĩ, cậu bé đã đảm bảo với Nel rằng sẽ không kẻ nào động được đến một sợi tóc của Nel, cứ như là trong thực tế, đường đến Cairô và Mêđinét có biết bao hiểm nguy và gian khó vậy.


Và vì mọi việc đã chuẩn bị xong xuôi, nên ngay hôm ấy, bọn trẻ lên đường đến Idơmaila đi tàu hỏa tới Cairô, tại đó chúng nghỉ đêm, rồi hôm sau tới Mêđinét. Khi rời khỏi Idơmaila, chúng trông thấy hồ Timxa mà Staś  đã từng được biết, vì ông Tarơcốpxki, vốn là một thợ săn hăng hái trong những lúc rảnh rỗi, thỉnh thoảng có đưa em tới đây săn chim nước. Sau đó, con đường chạy dọc theo lũng Vađi Tumilat, gần con kênh nước ngọt chảy từ sông Nin tới Idơmaila và Xuê. Người ta đào con kênh này trước khi khởi công đào kênh Xuê, vì nếu không thì công nhân làm việc cho cái công trình vĩ đại của ông Lecxep hẳn sẽ không có nước ngọt để uống. Tuy nhiên, việc đào con kênh này còn có thêm một tác dụng tốt nữa: Vùng đất trước kia vốn là một sa mạc cằn cỗi, nay lại được hồi sinh bởi có được dòng nước ngọt to lớn và đầy sức sống chảy ngang qua. Từ cửa sổ toa tàu, về phía bên trái, bọn trẻ có thể nhìn thấy một dải xanh mênh mông gồm những đồng cỏ − trên có ngựa, lạc đà và cừu đang gặm cỏ − và những cánh đồng trồng ngô, kê, cỏ linh lăng cùng những thứ cỏ chăn nuôi khác xen lẫn nhau. Trên bờ kênh là đủ mọi loại công cụ lấy nước, từ những bánh xe nước có gầu múc đến những cần vọt thông thường, mà những nông dân đang cần cù lấy nước vào các thửa ruộng hoặc chở đi trong những thùng chứa đặt trên các xe trâu. Trên những ruộng ngũ cốc mới nảy mầm, dày đặc hàng đàn bồ câu, thỉnh thoảng một đàn chim cun cút lại bay vọt lên. Dọc bờ kênh, lũ cò và sếu long trọng dạo bước. Phía xa xa, trên những túp nhà bằng đất sét của nông dân, những tán cây chà là vươn lên cao trông như những chiếc mũ cắm lông chim. Ngược lại, phía bắc đường tàu trải dài một sa mạc mênh mông, nhưng không giống cái sa mạc nằm phía bên kia kênh đào Xuê. Sa mạc kia trông như một đáy biển bằng phẳng mà nước đã chảy đi hết, chỉ còn lại mặt cát gợn sóng; còn ở đây, cát vàng hơn, dường như được đổ thành từng gò đống lớn, trên sườn gò mọc đầy các bụi cây màu xám. Giữa các gò đống ấy − những gò thỉnh thoảng nhô lên thành những quả đồi cao − là những thung lũng rộng, trên đó đôi khi có thể trông thấy những đoàn thương khách kéo dài.


Từ cửa sổ toa tàu, bọn trẻ có thể nhìn thấy những con lạc đà thồ nặng hàng đi thành một dãy dài, con nọ nối con kia đi trên con đường cát. Trước mỗi con lạc đà là một người Ả Rập mặc áo khoác đen và đội một vành khăn trắng trên đầu. Nel chợt nhớ lại những bức tranh trong quyển Kinh thánh mà cô bé được xem ở nhà, vẽ cảnh những người dân Ixraen tiến vào đất Ai Cập từ thời thánh Duxép. Chúng giống hệt nhau. Tiếc một điều là cô bé không thể ngắm được đoàn thương khách kĩ hơn, bởi có hai sĩ quan người Anh ngồi ở phía bên ấy của toa tàu chắn mất tầm nhìn của cô bé.


Song khi cô bé vừa nói với Staś  điều đó, thì cậu bé liền quay sang các sĩ quan, đặt một ngón tay lên vành mũ phớt và nói với vẻ mặt rất long trọng:


− Thưa các quý ông, không rõ các quý ông có vui lòng nhường chỗ cho tiểu thư đây chăng, bởi tiểu thư rất muốn được nhìn kĩ đoàn lạc đà?


Cả hai vị sĩ quan, cũng có vẻ trang trọng như vậy, chấp nhận lời đề nghị, và một người không những chỉ nhường chỗ cho cô tiểu thư đang tò mò mà còn nhấc bổng cô bé lên, đặt vào chỗ ngồi bên cạnh cửa sổ.


Thế là Staś  bắt đầu giảng giải:


− Đây là đất nước Gôsen cổ xưa, mà vua Pharaôn đã nhường cho thánh Duxép để dành cho những người anh em Ixraen của ông ta. Ngày xưa, vào thời cổ đại, đây cũng đã từng có một con kênh nước ngọt, nên con kênh mới này chỉ là làm lại con kênh cũ mà thôi. Song sau đó, con kênh ấy bị cạn đi và đất đai biến thành sa mạc. Giờ đây, một lần nữa, đất đai sẽ trở lại phì nhiêu.


− Vì sao quý anh biết điều đó? − Một trong hai sĩ quan hỏi.


− Ở lứa tuổi tôi, ai cũng biết những điều đó. − Staś  đáp. − Thêm nữa cách đây không lâu, giáo sư Xtơling vừa giảng cho chúng tôi nghe về lũng Vađi Tumilát.


Mặc dù Staś  nói tiếng Anh rất thạo, nhưng cách phát âm của em hơi lơ lớ, nên người sĩ quan thứ hai để ý và hỏi:


− Hình như quý anh trẻ tuổi không phải là người Anh?


− Cô đây là tiểu thư Nel, mà cha cô giao phó cho tôi chăm sóc lúc đi đường, còn tôi không phải là người Anh, tôi là người Ba Lan và là con một kĩ sư làm việc tại kênh đào.


Người sĩ quan mỉm cười khi nghe câu trả lời của cậu bé và nói:


− Tôi rất trọng người Ba Lan. Tôi thuộc trung đoàn kị binh từ thời Napôlêông đã vài lần được chiến đấu cùng với khinh kị binh Ba Lan, và cho tới nay, truyền thống đó trở thành niềm tự hào và vinh dự của trung đoàn[1].


− Rất hân hạnh được làm quen với ông. − Staś  đáp.


Và thế là câu chuyện diễn ra rôm rả, bởi rõ ràng hai viên sĩ quan rất thích thú. Hóa ra cả hai cũng đi từ Port Said đến Cairô để yết kiến đại sứ Anh quốc, nhận các chỉ thị cuối cùng về chuyến đi tiếp theo đang chờ đợi họ. Người trẻ hơn trong số hai người là bác sĩ quân y, còn người kia nói chuyện với Staś  là đại úy Glen. Đại úy được lệnh của chính phủ đi từ Cairô qua Xuê tới Mombaxa để phụ trách toàn bộ khu vực kế cận với hải cảng này và kéo dài mãi tới tận vùng đất chưa được biết là Xamburu. Vốn rất say mê đọc sách về những cuộc thám hiểm châu Phi, Staś  biết rõ rằng, Mombaxa nằm ở vài độ vĩ tuyến phía bên kia Xích đạo và các đất nước kế cận với nó, mặc dù đã được tính vào phạm vi những vùng thuộc quyền lợi của Anh quốc, nhưng thực ra vẫn được biết đến rất ít, hoàn toàn hoang dã, đầy voi, hươu cao cổ, tê giác, trâu và các loài linh dương mà các đoàn quân, các đoàn truyền giáo cũng như các đoàn khách thương thường xuyên đụng độ với chúng. Với cả tấm lòng, em ghen thầm với đại úy Glen và nói rằng em phải đến Mombaxa thăm ông ta và cùng ông ta, săn sư tử hoặc trâu rừng.


− Hay lắm, nhưng khi đến thăm xin hãy đi cùng với cô tiểu thư nhỏ bé này. − Đại úy Glen vừa cười vừa đáp và trỏ sang Nel, cô bé lúc nãy vừa rời cửa sổ đến ngồi bên ông.


− Tiểu thư Rawlison còn có cha. − Staś  đáp. − Còn tôi chỉ là người đỡ đầu tiểu thư trong khi đi đường mà thôi.


Nghe thấy thế, viên sĩ quan kia liền quay lại hỏi:


− Rawlison? Có phải đó là một trong các giám đốc của kênh đào và có anh trai ở Bombay hay không?


− ở Bombay hiện có bác tôi! − Nel vừa đáp vừa đưa


một ngón tay nhỏ bé lên.


− Thế thì bác của em, cô bé thân mến, lấy chị tôi làm vợ. Tôi là Clery. Chúng ta là bà con với nhau đấy, và tôi rất mừng là đã được gặp và quen biết với em, con chim bé bỏng ạ.


Quả thực bác sĩ rất vui mừng. Ông nói rằng, ngay sau khi tới Port Said ông đã hỏi thăm ông Rawlison, nhưng ở văn phòng ban giám đốc, người ta nói với ông rằng ông


Rawlison đã đi nghỉ lễ. Ông cũng tiếc rằng chiếc tàu mà ông đã cùng với ông Glen đi Mombaxa sẽ rời Xuê sau vài ngày nữa, nên ông không thể tạt qua Mêđinét được.


Ông yêu cầu Nel chuyển lời chúc sức khỏe tới cha em và hứa sẽ viết thư về cho cô bé từ Mombaxa. Bây giờ hai sĩ quan chủ yếu chỉ nói chuyện với Nel, khiến Staś  hơi đứng ra ngoài rìa. Để bù lại, cứ đến ga là lại xuất hiện hàng tá quýt, chà là tươi, thậm chí cả quả thanh lương trà rất tuyệt nữa. Ngoài Staś  và Nel, cả bà Dina cũng được thưởng thức những thứ quả ấy. Bên cạnh tất cả các đức tính của mình, bà nổi bật lên với tính phàm ăn ít gặp.


Nhờ thế, con đường đi Cairô đối với bọn trẻ nhanh chóng trôi qua. Lúc chia tay, các sĩ quan hôn tay và mái đầu bé nhỏ của Nel, bắt chặt tay Staś . Đại úy Glen, người rất thích cậu bé tháo vát và bạo dạn này, nói nửa đùa nửa thật:


− Anh bạn trẻ của tôi! Trong cuộc đời nào ai biết được khi nào, tại đâu và trong hoàn cảnh nào chúng ta lại có thể gặp nhau. Tuy nhiên xin anh hãy nhớ rằng, bao giờ anh cũng có thể dựa vào tấm lòng và sự trợ giúp của tôi.


− Và cả ông cũng vậy! − Staś  đáp lại và em cúi chào đầy vẻ tự trọng.


 


Chương 4


Ông Tarơcốpxki cũng như ông Rawlison, vốn yêu thương cô bé Nel hơn cả cuộc sống của mình,


rất vui mừng khi bọn trẻ đến. Đôi trẻ cũng vui sướng được gặp lại cha, nhưng chỉ lát sau đã bắt đầu đi thăm các căn lều bên trong đã được bài trí xong hoàn toàn và sẵn sàng chờ đón các vị khách đáng yêu. Những căn lều ấy thật tuyệt vời, hai lớp vải phalaNel, một mặt màu xanh, một mặt màu đỏ, bên dưới trải nỉ thô và rộng rãi như những căn phòng lớn. Công ty muốn làm đẹp lòng các quan chức cao cấp của Hiệp hội Kênh đào nên đã cố gắng để họ có được tiện nghi và thỏa mãn. Lúc đầu ông Rawlison sợ rằng sống một thời gian dài trong lều sẽ có hại cho sức khỏe của Nel, nhưng ông đồng ý chuyện đó cũng là vì, nếu như thời tiết xấu thì bất kì lúc nào cũng có thể chuyển vào ở trong khách sạn. Song bây giờ đây, sau khi xem xét kĩ lưỡng mọi thứ tại chỗ, ông lại tin rằng, ngày đêm tiếp xúc với không khí trong lành sẽ trăm lần tốt hơn cho sức khỏe cô gái rượu của ông so với chuyện sống trong những khách sạn nhỏ của địa phương. Thêm vào đó, thời tiết rất tuyệt. Môđinét, tức En Môđine, được vây quanh bởi những đồi cát của sa mạc Libi, có khí hậu tốt hơn nhiều so với Cairô, và chẳng phải tự nhiên người ta lại mệnh danh là “xứ sở hoa hồng”. Với vị trí được che chắn tốt, độ ẩm không khí lại cao, nên tại đây ban đêm không quá lạnh như ở những miền khác của Ai Cập, kể cả những miền nằm xa hơn


nữa về phía nam. Mùa đông ở đây thật là dễ chịu, và từ tháng Mười một trở đi lại chính là mùa cây cối phát triển nhanh nhất. Những cây chà là, ô liu − vốn rất ít gặp ở Ai Cập, những cây vả, cây cam, quýt, những cây thầu dầu khổng lồ, những bụi cây lựu và biết bao nhiêu thứ thực vật phương nam khác tạo nên một rừng cây lớn trùm lên các ốc đảo tuyệt diệu này. Những khu vườn như được bao trùm trong một làn sóng khổng lồ của những cây xiêm gai, tử đinh hương và hồng, đến nỗi về đêm, mỗi làn gió đều mang về hương thơm dễ chịu của những loài hoa ấy. ở đây, người ta căng ngực thở, và nói như các cư dân địa phương thì “chẳng ai muốn chết”.


Khí hậu tương tự như vậy chỉ có ở một địa điểm khác là Hêluan, nằm phía bên kia sông Nin, nhưng tại đó cây cối cũng không tươi tốt bằng ở đây.


Tuy nhiên, với ông Rawlison, Hêluan gắn liền với một kỉ niệm đau đớn, vì mẹ của Nel qua đời ở đó. Vì lí do đó, ông chọn Mêđinét, và giờ đây, khi ngắm nhìn nét mặt tưng bừng rạng rỡ của cô bé, ông tự nhủ thầm trong lòng rằng, trong thời gian tới, ông sẽ mua ở đây một mảnh đất có cả vườn tược, sẽ dựng lên trên đó một ngôi nhà đầy tiện nghi theo kiểu Anh, và sẽ về đây, về miền đất lành này để nghỉ ngơi trong tất cả những kì nghỉ phép mà ông có thể có được, và rồi sau khi đã kết thúc công vụ ở kênh đào, thậm chí ông sẽ về ở hẳn tại đây.


Dù sao, đó mới chỉ là kế hoạch cho một tương lai xa và chưa hoàn toàn chắc chắn. Trong khi đó, từ lúc đặt chân tới đây, lũ trẻ lùng sục mọi chỗ như hai chú ruồi, vì chúng muốn ngắm nghía tất cả các căn lều cùng lũ lừa và lạc đà mà công ty Cúc đã thuê tại chỗ, ngay trước bữa cơm. Song hóa ra rằng lũ súc vật hiện đang ở trên bãi chăn cách xa đấy, nên mãi ngày mai mới có thể thấy chúng được. Ngược lại, bên cạnh căn lều của ông Rawlison, Nel và Staś  rất vui sướng được gặp lại Chamis − con trai Khađigi, một người quen tốt bụng của chúng từ Port Said. Anh ta không thuộc đám gia nhân do công ty Cúc thuê, thậm chí ông Rawlison còn ngạc nhiên khi gặp anh ta ở En Mêđine, song vì trước đây ông vẫn sử dụng anh ta làm người mang dụng cụ, nên giờ đây cũng dùng anh ta làm kẻ sai vặt.


Bữa cơm chiều thật thịnh soạn vì ông lão Cốptơ − người đã nhiều năm liền đảm nhiệm chức đầu bếp trong công ty Cúc, muốn biểu diễn tài nghệ của mình. Bọn trẻ kể lại chuyện người mới quen trong khi đi đường là hai viên sĩ quan, điều này khiến ông Rawlison rất quan tâm, vì anh ruột của ông là Risác, có vợ là chị của bác sĩ Clery, quả thực đã sinh sống nhiều năm tại ấn Độ. Đôi vợ chồng ấy không có con, nên ông bác nọ rất yêu quý cô cháu gái bé nhỏ mà ông ta chỉ được biết chủ yếu qua các bức ảnh, và trong tất cả mọi bức thư ông đều thăm hỏi kĩ lưỡng về cô bé. Cả hai ông bố cũng rất buồn cười về lời mời đi Mombaxa mà Staś  nhận được từ đại úy Glen. Cậu bé coi đó là lời mời nghiêm túc và cương quyết tự hứa với mình rằng, khi nào đó, cậu sẽ tới thăm người bạn mới quen ở bên kia đường Xích đạo. Mãi sau, ông Tarơcốpxki phải giải thích cho em biết rằng các quan chức người Anh không bao giờ làm việc lâu tại một chỗ, vì khí hậu châu Phi rất độc, và trước khi Staś  kịp lớn lên thì hẳn là đại úy đã thay đổi nhiệm sở tới mười lần rồi, hoặc đã không còn trên cõi đời này nữa cũng nên.


Sau bữa ăn, cả nhà bước ra trước lều, nơi gia nhân đã bày sẵn các ghế vải gấp, đồng thời chuẩn bị riêng cho người lớn những bình xiphông chứa nước khoáng và rượu branđi.


Đêm đã buông xuống, nhưng là đêm rất ấm áp, và vì đúng tiết rằm nên trời sáng như ban ngày. Những bức tường trắng của các tòa nhà trong thành phố đối diện với khu lều sáng lên màu xanh mờ mờ, những vì sao long lanh trên bầu trời, trong không khí lan tỏa mùi hương hoa hồng, mùi cây xiêm gai và mùi hoa vòi voi. Thành phố đã say ngủ. Trong sự tịch mịch của đêm, thảng hoặc mới có vài tiếng kêu của lũ sếu, diệc và hồng hạc đang bay từ phía sông Nin về phía hồ Carôun. Bỗng chợt có tiếng chó sủa rất sâu, trầm, tiếng sủa khiến Nel và Staś  kinh ngạc, bởi hình như nó vang ra từ căn lều mà chúng chưa vào thăm, căn lều dùng để chứa yên cương, dụng cụ và các thứ đồ dùng đi đường các loại.


− Con chó này hẳn phải to lắm! Ta đi xem nó đi! − Staś  nói. Ông Tarơcốpxki bắt đầu cười thành tiếng, còn ông Rawlison thì cũng vừa cười vừa gẩy tàn thuốc từ điếu xì gà:


− Thôi được! Chẳng có cách gì giữ kín được! Rồi quay sang phía lũ trẻ:


− Ngày mai, các con biết đấy, là ngày lễ Giáng sinh, con chó này sẽ là món quà bất ngờ mà bác Tarơcốpxki dành để tặng Nel, nhưng vì cái điều bất ngờ đã bắt đầu sủa, nên ba buộc phải thông báo ngay từ hôm nay.


Nghe thấy thế, trong chớp mắt, Nel trèo lên đầu gối của ông Tarơcốpxki và ôm chầm lấy cổ ông, rồi tiếp đó cô bé nhảy sang đầu gối cha:


− Cha ơi, con sung sướng quá! Con sung sướng quá đi mất!


Những cái ôm và cái hôn dường như bất tận. Mãi sau, khi đã đứng xuống đất trên đôi chân của mình, Nel mới bắt đầu nhìn vào mắt ông Tarơcốpxki:


− Bác Tarơcốpxki...


− Gì cơ, Nel?


− Nếu như cháu đã biết rằng có nó ở chỗ đó, thì cháu có được phép nhìn nó một chút ngay hôm nay không hở bác?


− Tôi biết mà! − Ông Rawlison giả vờ phẫn nộ kêu lên. − Cái con ruồi này chẳng bao giờ chịu để yên khi nghe tin mới.


Còn ông Tarơcốpxki quay lại phía con trai của Khađigi và bảo:


− Chamis, dẫn chó ra đây.


Cậu thanh niên Sudan biến vào sau căn lều dùng làm bếp và một lát sau lại xuất hiện, dắt theo một con vật to tướng có đeo vòng cổ.


Nel thốt nhiên lùi lại.


− ối! − Cô bé kêu lên, túm lấy tay cha. Còn Staś  thì lại hăng hái:


− Đấy là sư tử chứ đâu phải là chó.


− Tên nó là Saba (sư tử). − Ông Tarơcốpxki đáp. − Nó thuộc giống Maxtiphơ, là giống chó to nhất trên thế giới. Con này mới được hai tuổi, nhưng quả là to. Đừng sợ, Nel, nó lành như một chú cừu non thôi mà. Nào, can đảm lên! Thả nó ra, Chamis!


Chamis buông dây vòng cổ mà anh ta vẫn giữ, con chó thấy được tự do, liền ve vẩy đuôi, sán lại ông Tarơcốpxki, người mà trước đó nó đã quen biết và sủa lên vui sướng.


Bọn trẻ kinh ngạc ngắm cái đầu tròn với đôi môi trễ của con chó, ngắm nghía những cái chân đồ sộ và thân hình với bộ lông màu vàng nhạt thật giống dáng sư tử dưới ánh trăng. Trong đời, quả thực chúng chưa từng gặp một con vật nào tương tự như thế.


− Với một con chó thế này có thể đi xuyên suốt châu Phi một cách an toàn! − Staś  thốt lên.


− Con hãy hỏi thử xem liệu nó có thể mang được tê giác về theo mệnh lệnh hay không. − Ông Tarơcốpxki bảo.


Thực ra Saba không thể trả lời câu hỏi đó, song nó vẫy đuôi mỗi lúc một vui vẻ hơn và sán vào những người ngồi đó một cách chân thành đến nỗi Nel hết sợ hãi mà bắt đầu vuốt ve đầu nó.


− Saba, Saba đáng yêu, Saba quý mến!


Ông Rawlison cúi xuống nâng đầu con chó lên hướng vào mặt cô bé và nói:


− Saba, hãy nhìn cho kĩ cô bé này. Đây là cô chủ của mày. Mày phải vâng lời và phải bảo vệ cô chủ, hiểu chưa?


− Gâu! − Saba liền đáp lại bằng giọng trầm, dường như quả thực nó hiểu được điều người ta nói.


Thậm chí nó còn hiểu rõ hơn là người ta tưởng, vì nhân lúc đầu cao gần ngang với khuôn mặt cô bé, nó dùng cái lưỡi rộng bản của mình liếm cái mũi nho nhỏ và đôi má cô bé để ra điều bày tỏ lòng thành kính của mình.


Mọi người phá lên cười. Nel phải vào lều để rửa mặt. Mười lăm phút sau quay trở ra, cô bé thấy Saba đang đặt chân lên vai Staś , còn cậu bé thì còng người dưới sức nặng của nó. Con chó cao hơn cậu bé một cái đầu.


Đã tới lúc đi nghỉ, nhưng cô bé xin phép được chơi nửa giờ nữa để làm quen thân hơn với người bạn mới. Sự quen biết lẫn nhau diễn ra rất dễ dàng, đến nỗi chẳng mấy chốc, ông Tarơcốpxki đã có thể đặt Nel ngồi bỏ chân một bên trên lưng con chó và đỡ lấy cô bé phòng khi nó ngã, rồi bảo


Staś  cầm cổ dề dắt chó đi. Cô bé cưỡi chó như vậy tới mười mấy bước, sau đó cả Staś  cũng thử cưỡi lên lưng con “ngựa” đặc biệt này, nhưng “ngựa” ngồi xệp hai chân sau xuống, khiến chú bé bất ngờ bị tuột xuống mặt cát gần đuôi chó.


Đến lúc bọn trẻ phải đi nghỉ thì chợt từ phía xa xa, trên bãi chợ sáng ánh trăng hiện ra hai bóng trắng tiền dần lại phía khu lều.


Saba vốn hiền lành từ nãy giờ bỗng bắt đầu gầm gừ một cách dữ tợn, khiến cho Chamis, theo lệnh ông Rawlison, phải tóm cổ dề giữ chặt lấy nó. Trong khi đó hai người đàn ông mặc áo choàng kín đầu, đã dừng lại trước cửa lều.


− Ai đấy? − Ông Tarơcốpxki hỏi.


− Chúng tôi là người quản lạc đà ạ. − Một trong hai người mới đến lên tiếng đáp.


− A, Idris và Gebhr đấy à? Các anh muốn gì?


− Chúng tôi đến để hỏi xem ngày mai chúng tôi có cần thiết cho ngài hay chăng?


− Không. Ngày mai và ngày kia là những ngày lễ lớn, chúng tôi không thể đi tham quan vào những ngày ấy được. Ngày kia các anh hãy đến vào buổi sáng.


− Xin cảm ơn các ngài.


− Lạc đà của các anh có tốt không? − Ông Rawlison hỏi.


− Tuyệt vời[2] ạ!  − Idris đáp − Những con lạc đà có bướu nhiều mỡ và hiền lành như cừu. Nếu không thì Cúc đã không thuê của chúng tôi.


− Chúng có lắc nhiều lắm không?


− Thưa ngài, có thể đặt một nắm đậu lên lưng từng con mà không một hạt nào bị rơi xuống trong khi chúng chạy với tốc độ nhanh nhất.


− Đã nói khoác thì nói khoác kiểu Ả Rập! − Ông


Tarơcốpxki bật cười nói.


− Hoặc theo kiểu Sudan. − Ông Rawlison thêm.


Trong lúc đó, Idris và Gebhr đứng yên như hai cây cột màu trắng, nhìn chòng chọc vào Staś  và Nel. Mặt trăng soi sáng hai khuôn mặt rất sẫm màu của họ, trong ánh trăng nom họ như được đúc bằng đồng. Dưới vành khăn trắng, tròng trắng của mắt họ ánh lên màu lục nhạt.


− Chào các anh! − Ông Rawlison chào.


− Cầu đức Ala canh giữ cho các ngài, đêm cũng như ngày.


Nói xong họ cúi chào rồi đi. Tiễn chân họ là tiếng gầm gừ trầm trầm của Saba tựa như tiếng sấm xa xa, rõ ràng là nó không thích hai người đàn ông Sudan này chút nào hết.


 


Chương 5


Suốt mấy ngày tiếp theo đó không có cuộc đi chơi nào. Chiều tối hôm lễ Giáng sinh, khi trên bầu trời


hiện ra vì sao đầu tiên thì trong lều của ông Rawlison, hàng trăm ngọn nến bừng sáng trên cái cây dành cho Nel. Thực


ra, cây thông được thay bằng một cây trắc bách diệp chặt ở trong một cái vườn tại En Mêđine, tuy nhiên, Nel vẫn tìm thấy giữa những cành cây vô khối kẹo bánh và một con búp


bê tuyệt đẹp mà cha đã mua cho cô bé từ Cairo, còn Staś  thì được nhận khẩu súng săn của Anh mà em hằng khao khát. Em còn được cha trao cho đạn, nhiều thứ dụng cụ dùng cho thợ săn và yên ngựa. Nel không thể ngồi nóng chỗ vì sung sướng, còn Staś , dù vẫn cho rằng, ai đã làm chủ một khẩu súng săn thật sự thì cũng phải có được sự đứng đắn tương ứng, song cũng vẫn không sao kìm giữ nổi − và chọn lúc quanh lều vắng vẻ, em liền trồng cây chuối và đi vòng quanh lều bằng hai tay. Nghệ thuật này em đã từng luyện tập rất kĩ


ở trường học tại Port Said; em làm thành thạo đến mức đáng kinh ngạc và nhiều lần đã khiến Nel thích thú, thậm chí cô bé còn ghen với Staś  một cách chân thành về chuyện đó nữa.


Đêm lễ Giáng sinh và ngày đầu tiên của lễ trôi qua với bọn trẻ một phần trong lễ cầu kinh ở nhà thờ, một phần để ngắm nghía những thứ quà tặng mà chúng nhận được, và phần nữa dành để huấn luyện Saba. Người bạn mới này tỏ


ra sáng dạ không ngờ. Ngay trong ngày đầu tiên, nó đã học được cách đưa chân cho người ta bắt, mang khăn mùi soa


lại cho chủ theo mệnh lệnh − tuy nó không dễ dàng trao trả những chiếc khăn ấy − và hiểu được rằng việc dùng lưỡi liếm mặt Nel là việc làm không xứng đáng với một con chó lịch sự. Với một ngón tay đặt lên cánh mũi, Nel giảng giải cho nó nhiều bài học khác nhau, còn nó vẫy đuôi để chứng tỏ rằng


nó rất chăm chú lắng nghe và thâu nhận vào đáy lòng những bài học ấy. Trong những chuyến đi dạo trên quảng trường đầy cát của thành phố, tiếng tăm của Saba tại Mêđinét mỗi giờ một lớn lên, thậm chí, cũng như mọi thứ vinh quang khác, cái tiếng tăm này bắt đầu có mặt khó chịu của nó, bởi


nó kéo theo hàng đàn hàng lũ trẻ con Ả Rập. Ban đầu chúng còn đứng xa xa, nhưng sau đó, bạo dạn hơn vì sự hiền lành của con “quái vật”, chúng mỗi lúc lại tiến lại gần, và cuối cùng ngồi vây chặt quanh lều đến nỗi không ai còn có thể cử động thoải mái được nữa. Thêm nữa, vì đứa trẻ Ả Rập nào cũng hít mía từ sáng tới đêm, nên bọn trẻ kéo theo hàng binh đoàn ruồi nhặng; bọn này không những chỉ gây khó chịu mà thậm chí còn nguy hiểm nữa, bởi chúng truyền bệnh đau mắt


Ai Cập. Vì vậy, gia nhân buộc phải xua bọn trẻ con đi, nhưng Nel đứng ra bảo vệ chúng, và cô bé còn phân phát helon (tức là kẹo bánh) cho bọn trẻ ít tuổi nhất, vì thế Nel rất được chúng yêu mến, và dĩ nhiên, cũng khiến cho số lượng đám trẻ con tăng lên khá nhiều.


Ba ngày sau bắt đầu những chuyến đi chơi chung, thường là một phần bằng tàu hỏa chạy trên đường ray hẹp − những đường ray mà người Anh đã xây dựng khá nhiều ở Mêđinét En Phaium, một phần bằng lừa, và đôi khi bằng lạc


đà. Hóa ra, mặc dù trong những lời ca ngợi mà Idris dành cho những con vật này dẫu có nhiều phần khoác lác, bởi không những hạt đậu mà thậm chí ngay cả con người cũng chật vật lắm mới ngồi yên được trên lưng chúng, song vẫn còn phần đúng. Số lạc đà này dĩ nhiên là thuộc loại lạc đà


để cưỡi, và vì chúng được nuôi dưỡng khá đầy đủ bằng ngô địa phương hoặc ngô Xiri nên bướu của chúng rất nhiều mỡ và chúng chạy rất hăng, đến mức cần phải ghìm bớt chúng lại. Hai gã người Sudan là Idris và Gebhr đã lấy được lòng tin và tình cảm của mọi người (mặc dù mắt họ đôi khi loáng lên những ánh hoang dã), và điều đó chủ yếu


là do sự tuân thủ hết mực cùng sự chăm lo rất tận tình dành cho Nel. Gebhr lúc nào cũng có vẻ mặt tàn ác và hơi thú vật, song Idris thì nhanh chóng nhận ra rằng cô bé là nhân vật được yêu quý nhất trong cả đoàn, nên mỗi khi có dịp


là y lại tìm cách chứng tỏ rằng y lo lắng cho cô chủ hơn là cho chính “linh hồn” của mình. Dĩ nhiên ông Rawlison hiểu được rằng, thông qua Nel, Idris muốn lần đến túi tiền của ông, nhưng vốn cho rằng, trên đời này không có một ai có thể không yêu mến cô con gái một của ông, nên ông vẫn biết ơn y và không tiếc tiền.


Trong vòng năm ngày, họ đã đi tham quan những di tích của thành phố cổ đại Crôcôđilôpôlix nằm gần thành phố, nơi đó ngày xưa những người Ai Cập thờ một vị thần tên là Xêbắc, thần có mình người nhưng đầu cá sấu. Chuyến du lịch tiếp đó là chuyến đi tới kim tự tháp Hanarơ và thăm các di tích mê cung, song chuyến đi dài nhất và toàn bằng lạc đà là chuyến đi tới hồ Carôun. Bờ phía bắc của hồ là sa mạc mênh mông, trên đó, ngoài di tích của các thành phố thuộc


Ai Cập cổ đại, không còn dấu vết nào khác của sự sống. Ngược lại, về phía nam là một miền đất phì nhiêu và tuyệt vời; ngay bên bờ hồ mọc đầy thạch thảo và lau sậy là hàng đàn bồ nông, hồng hạc, diệc, ngỗng trời và vịt trời. Tại đây, Staś  có dịp để biểu diễn tài thiện xạ của mình. Bằng khẩu súng săn thông thường bắn đạn chì không có rãnh khương tuyến cũng như bằng khẩu súng săn bắn đạn viên với nòng có rãnh xoắn, những phát đạn của em tuyệt vời đến nỗi sau mỗi tiếng nổ dường như đều nghe thấy tiếng tắc lưỡi kinh ngạc của Idris và những người Ả Rập chèo thuyền, và những con chim bị bắn rơi xuống nước bao giờ cũng đi kèm với tiếng kêu không đổi: Tuyệt! Tuyệt vời!


Những người dân Ả Rập đoán chắc rằng ở phía bờ “sa mạc” bên kia có rất nhiều chó sói và linh cẩu, và chỉ cần ném một xác cừu ra cồn cát là có thể chắc chắn săn được thú rồi. Do nghe theo những lời cam đoan ấy, ông Tarơcốpxki và Staś  thức hai đêm liền ngoài sa mạc, gần các di tích của Đine. Nhưng con cừu đầu tiên bị dân Bedouin cuỗm mất, ngay sau khi những người thợ săn vừa quay gót, còn con cừu thứ hai chỉ dụ được mỗi một con lang núi thọt chân và liền


bị Staś  hạ ngay. Những chuyến đi săn tiếp theo phải tạm thời hoãn lại, vì hai kĩ sư đã đến lúc phải lên đường đi kiểm tra các công trình thủy lợi tiến hành ở sông Bahơrơ Duxép, gần En Lahum, về phía đông nam Mêđinét.


Ông Rawlison chỉ chờ cô Oliviơ đến. Chẳng may, thay vì cô gia sư thì lại là một lá thư của bác sĩ, trong đó báo tin rằng, những vết ban đỏ trên mặt người bệnh lại xuất hiện sau khi bị bọ cạp đốt, và trong một thời gian dài nữa, người cho tòa lãnh sự Italia và viên thống đốc của địa phương, mà trước đó ông đã làm quen. Ông cũng hứa với Nel − cô bé tiếc bệnh không thể rời Port Said được. Tình thế trở nên khá


rắc rối. Mang theo cả bọn trẻ, bà Dina, lều trại cùng toàn


bộ đám gia nhân là điều không thể thực hiện được, chí ít cũng vì lí do đơn giản là các kĩ sư phải nay đây mai đó, và thậm chí họ có thể được lệnh phải đi đến tận kênh đào lớn Ibrahim. Vì vậy, sau một cuộc bàn bạc ngắn, ông Rawlison quyết định để Nel ở lại dưới sự chăm sóc của bà Dina và Staś , cùng với viên đại diện vì phải chia tay với cha


− rằng cùng với ông Tarơcốpxki, ông sẽ từ những địa điểm làm việc ở gần đấy ghé về Mêđinét, hoặc nếu tìm thấy gì đáng tham quan, thì họ sẽ gọi bọn trẻ đến nơi ấy.


− Ba và bác sẽ mang theo Chamis. − Ông nói. − Và nếu cần thiết thì sẽ cử anh ta trở lại đón các con. Bà Dina lúc nào cũng phải đi kèm Nel, nhưng vì với bà, Nel có thể làm mọi chuyện theo ý mình, nên cháu − Staś , cháu phải canh chừng cho cả hai nhé.


− Bác có thể tin chắc rằng, − Staś  đáp, − Cháu sẽ trông nom em Nel như em gái của cháu. Em có Saba, cháu có khẩu súng săn, thách kẻ nào dám đụng đến em.


− Không phải bác muốn nói chuyện đó. − Ông Rawlison nói. − Chắc chắn là các con sẽ không cần tới Saba cũng như khẩu súng săn. Chỉ cần cháu làm ơn trông chừng cho em khỏi mệt nhọc quá, và cẩn thận chớ để cho em bị cảm lạnh. Bác đã yêu cầu ông lãnh sự, hễ khi nào em cảm thấy không được khỏe lắm thì ông ta sẽ mời bác sĩ từ Cairô đến. Bác và ba cháu sẽ thường xuyên phái Chamis về đây để lấy tin tức. Ngài thống đốc của địa phương cũng sẽ tới thăm các con. Thêm nữa, bác đồ rằng, ba cháu và bác sẽ chẳng khi nào vắng mặt lâu đâu.


Ông Tarơcốpxki cũng không tiếc lời căn dặn Staś . Ông nói với em rằng Nel không cần tới sự bảo vệ của em, vì rằng ở Mêđinét cũng như ở trong toàn tỉnh En Phaium không có những người dã man, cũng không hề có thú dữ. Thật là một chuyện tức cười và không xứng đáng với một thiếu niên chẳng bao lâu sẽ hết tuổi mười bốn nếu nghĩ như thế. Chỉ cần em ân cần và thận trọng, chớ tự ý một mình, hoặc cùng với Nel tiến hành một chuyến du lịch nào, nhất là bằng lạc đà, vì việc cưỡi lạc đà bao giờ cũng khiến cho người ta mệt mỏi.


Nghe thấy thế, Nel làm ra vẻ buồn bã, khiến ông Tarơcốpxki phải an ủi cô.


− Dĩ nhiên, − Ông vừa nói vừa vuốt mái tóc cô bé, − Các con có thể cưỡi lạc đà, nhưng chỉ khi nào có mặt chúng


ta, hoặc khi đến với chúng ta, nếu Chamis được phái đến đón các con.


− Thế chúng con không được phép du lịch, dù chỉ là những chuyến đi chút chút ngần này hay sao ạ? − Cô bé hỏi.


Và cô bé đưa ngón tay nhỏ bé chỉ mức độ bé nhỏ của những chuyến du lịch ấy. Cuối cùng hai ông bố đồng ý rằng, chúng có thể đi chơi bằng lừa chứ không phải bằng lạc đà, và không được đến các di tích cổ, nơi chúng dễ dàng lọt xuống một cái hang hốc nào đó, mà chỉ được phép đi chơi trên đường cái tại những cánh đồng lân cận, và tới những khu vườn nằm ngoài thành phố mà thôi. Người thông ngôn cùng với một nhân viên phục vụ của công ty Cúc sẽ có nhiệm vụ luôn luôn đi kèm bọn trẻ.


Sau đó, hai ông ra đi, nhưng chỉ đi gần thôi − đến


Hamarét En Macta, nên chỉ sau mười giờ đồng hồ họ lại quay trở về Mêđinét nghỉ đêm. Chuyện đó lặp lại trong vài ngày, cho tới khi họ kiểm tra hết công việc ở những địa điểm gần nhất. Sau đó, khi công việc ở xa hơn, nhưng vẫn chưa phải ở những địa phương quá xa, thì đêm đêm, Chamis quay trở về,


và sáng sớm hôm sau đưa Staś  và Nel tới những thị trấn nhỏ mà cha chúng muốn cho chúng tham quan một chỗ nào đó thú vị. Phần lớn thì giờ ban ngày, bọn trẻ sống cùng với cha, gần tối, chúng quay trở về Mêđinét, về lại khu lều trại. Cũng


có những ngày Chamis không quay lại, và khi đó, mặc dù có Staś  và Saba làm bạn − càng ngày cô bé càng phát hiện ra ở con vật những đức tính mới − song Nel vẫn cứ trông ngóng người liên lạc ấy đến. Cứ như thế, thời gian trôi đi đến lễ Ba Vua, khi cả hai kĩ sư quay về Mêđinét nghỉ lễ.


Hai ngày sau họ lại ra đi, nói rằng lần này đi sẽ lâu hơn, và


có lẽ tới tận Bêni Xuép, từ đó tới En Phakhen, nơi bắt đầu con kênh đào cùng tên rồi đi mãi về phía nam dọc theo sông Nin.


Vì vậy, bọn trẻ con vô cùng ngạc nhiên khi vào hôm thứ Ba, quãng chừng mười một giờ trưa, chúng thấy Chamis xuất hiện tại Mêđinét. Staś  là người đầu tiên gặp anh ta khi em đi tới bãi chăn nuôi ngắm lạc đà, Chamis đang nói chuyện với Idris và chỉ nói vắn tắt với Staś  rằng anh ta về để đón em và Nel, rằng anh ta sẽ tới ngay khu lều để báo rõ địa điểm mà các ông chủ bảo bọn trẻ phải đến. Cậu bé lập tức lao đi, mang tin vui về cho Nel, và em gặp Nel đang đùa nghịch với Saba trước lều.


− Em biết không? Chamis tới rồi! − Ngay từ xa cậu bé đã kêu lên.Thế là Nel bắt đầu nhảy cẫng cả hai chân lên, như kiểu


bọn con gái thường nhảy dây.


− Ta đi đi! Ta đi đi!


− Phải, chúng ta sẽ lên đường, và đi xa đấy.


− Đi đâu hả anh? − Cô bé hỏi, lấy hai tay gạt mớ tóc xõa vào mắt.


− Không biết. Chamis bảo rằng lát nữa sẽ tới báo.


− Sao anh biết là đi xa?


− Anh nghe Idris nói rằng, ông ta và Gebhr sẽ cùng đoàn lạc đà lên đường ngay lập tức. Thế có nghĩa là chúng ta sẽ đi tàu lửa và sẽ gặp lạc đà tại nơi hai ba đón chúng ta, rồi từ đó chắc chúng ta sẽ đi tham quan ở một nơi nào khác.


Cô bé nhảy liên tục, những sợi tóc xòa xuống không những che riêng mắt mà cả mặt cô bé, còn đôi chân thì nảy bật trên mặt đất như bằng cao su vậy.


Mười lăm phút sau, Chamis tới, cúi chào hai trẻ:


− Thưa cậu chủ − y nói với Staś , − Ba giờ nữa chúng ta sẽ đi chuyến tàu đầu tiên.


− Tới đâu?


− Tới En Gharắc Xuntani, rồi từ đó, cùng với các ông chủ đi lạc đà tới Vađi Raian.


Trái tim Staś  rộn lên vì vui sướng, song đồng thời những lời của Chamis cũng khiến em ngạc nhiên. Em biết rằng, Vađi Raian là một vành đai rộng lớn của các quả đồi cát nổi lên trên sa mạc Libi, về phía nam và tây nam Mêđinét, trong khi đó ông Tarơcốpxki và ông Rawlison khi ra đi lại nói rằng họ đi theo hướng hoàn toàn ngược lại, tức là về phía sông Nin.


− Có chuyện gì xảy ra vậy? − Staś  hỏi − Thế cha tôi


và bác Rawlison không phải đang ở Beni Xuép mà lại ở


En Gharắc ư?


− Sự tình lại diễn ra thế đấy ạ! − Chamis đáp.


− Thế sao cha tôi lại bảo viết thư cho Người thì gửi về


En Phakhen?


− Các ông chủ viết cả trong bức thư này lí do tại sao lại đang ở En Gharắc.


y tìm trong người một lúc, rồi lêu lên:


− Ôi, Đấng tiên tri! Tôi để quên bức thư trong cái túi ở chỗ những tay quản lạc đà rồi. Tôi phải đi ngay kẻo Idris và Gebhr đi mất thì hỏng.


Và y chạy ngay tới chỗ những người chủ lạc đà, trong khi đó, bọn trẻ cùng với bà Dina chuẩn bị lên đường. Vì có lẽ sẽ là một chuyến đi chơi dài, nên bà Dina gói ghém vài chiếc áo dài, một ít đồ lót và mang một bộ quần áo ấm hơn cho Nel. Staś  cũng sửa soạn cho mình, em không quên mang theo khẩu súng và đạn dược, vì hi vọng rằng sẽ đụng độ với lũ sói và linh cẩu tại những gò cát Vađi Raian.


Mãi một tiếng đồng hồ sau, Chamis mới quay trở lại, người đẫm mồ hôi, thở hổn hà hổn hển, đến nỗi một lúc lâu không nói được nên lời.


− Tôi không tìm thấy những người chủ lạc đà nữa. − y nói. − Tôi chạy đuổi theo họ, nhưng chẳng được ích gì. Song cũng chẳng sao, đến En Gharắc chúng ta sẽ tìm được cả thư lẫn các ông chủ thôi mà. Liệu bà Dina có cần phải đi với chúng ta không ạ?


− Có lẽ tốt hơn là bà ấy ở lại nhà. Các ông chủ có nói gì tới bà ta đâu?


− Nhưng khi ra đi, ông chủ bảo rằng lúc nào bà Dina cũng


phải đi cùng với cô chủ, vậy thì bây giờ bà ấy cũng sẽ đi cùng.


Chamis khom người xuống, đặt tay lên trái tim và nói:


− Chúng ta phải đi mau lên, thưa ông chủ, nếu không tàu hỏa sẽ chạy mất.


Đồ đạc sẵn sàng nên cả bọn tới ga vừa kịp giờ. Khoảng cách từ Mêđinét tới Gharắc không vượt quá ba mươi cây số, nhưng tàu hỏa trên con đường nhánh nối hai địa điểm đó chạy rất chậm và lại đỗ rất nhiều lần. Giá như có một mình thì hẳn là Staś  đã chọn cách đi lạc đà chứ không đời nào chịu ngồi tàu, vì em tính rằng, Idris và Gebhr xuất phát trước tàu hỏa hai tiếng đồng hồ, hẳn sẽ đến En Gharắc trước chúng. Song đối với Nel, con đường đó quá dài, nên anh chàng đỡ đầu trẻ tuổi − người đã ghi tâm khắc cốt những lời căn dặn của hai ông bố, không muốn làm cô bé bị mệt. Và nói cho cùng, thời gian trôi qua đối với hai đứa cũng nhanh


đến nỗi, ngoảnh đi ngoảnh lại, chúng đã tới Gharắc rồi.


Cái ga xép mà những người Anh thường dùng làm nơi xuất phát đi thăm Vađi Raian, vắng tanh vắng ngắt. Bọn trẻ chỉ gặp có vài người đàn bà mang những giỏ quýt, hai người đàn ông Bedouin, những chủ lạc đà không quen biết, cùng Idris và Gebhr với bảy con lạc đà, trong đó một con thồ nặng hàng. Còn chẳng thấy bóng dáng ông Tarơcốpxki và ông Rawlison đâu cả.


Nhưng Idris giải thích sự vắng mặt của họ như sau:


− Hai ông chủ đi vào sa mạc để dựng lều mà người ta đã chở từ Etxa tới, các ông chủ ra lệnh bảo chúng ta đi sau.


− Làm sao ta có thể tìm được họ trong vùng đồi núi này? − Staś  hỏi.


− Các ông chủ đã phái tới đây những người dẫn đường để đưa chúng ta đi.


Vừa nói thế hắn vừa trỏ hai người Bedouin. Người già hơn trong hai người đó cúi chào, đưa tay lau con mắt độc nhỡn, và nói:


− Lạc đà của chúng tôi không béo bằng lạc đà của các ông, nhưng chạy chẳng kém đâu. Chỉ một giờ đồng hồ là chúng ta tới nơi thôi.


Staś  rất vui thích vì sẽ được ngủ đêm giữa sa mạc, nhưng Nel cảm thấy hơi thất vọng, vì trước đó cô bé cứ đinh ninh rằng sẽ được gặp cha ở Gharắc.


Lúc đó, viên trưởng ga − một người Ai Cập ngái ngủ, đội mũ phêdơ màu đỏ và mang kính đen tiến lại gần, và vì chẳng có việc gì làm, ông ta bắt đầu ngắm nghía bọn trẻ người Âu.


− Đây là con của các người Anh mà sáng hôm nay đã mang súng săn đi trước vào sa mạc. − Idris vừa nói vừa đặt Nel lên yên.


Đưa khẩu súng cho Chamis cầm, Staś  leo lên ngồi bên Nel vì cái yên rộng rãi, có dáng một cái bành, có điều là không có mái che. Bà Dina ngồi sau lưng Chamis, những người khác cũng leo lên lạc đà và tất cả lên đường.


Giá như viên trưởng ga dõi theo họ lâu hơn một chút, hẳn là ông ta sẽ ngạc nhiên, vì những người Anh mà Idris vừa nói tới đã đi thẳng về phía di tích cổ, tức là về phía nam, còn họ lại hướng về phía Talea, nghĩa là về phía ngược lại. Song trước đó, viên trưởng ga đã quay về nhà rồi, vì hôm đó không còn đoàn tàu nào tới Gharắc nữa.


Đã năm giờ chiều. Thời tiết thật là tuyệt diệu. Mặt trời đã ngả sang bên kia sông Nin và xuống thấp trên sa mạc, chìm vào trong những ráng chiều màu vàng và đỏ rực đang cháy lên ở phía trời tây. Không khí dường như chứa chan những ánh hồng, khiến mắt người phải nheo lại vì ánh sáng quá thừa thãi. Đồng ruộng nhuốm màu tim tím, còn những rặng núi xa xa, nổi bật trên nền ráng chiều lại có màu thạch anh tím ngắt. Thế giới mất đi những đường nét thực và dường như chỉ còn là một trò đùa của những ánh sáng từ thiên giới mà thôi.


Khi họ còn đi qua những vùng đồng ruộng xanh tươi có trồng cây thì những người Bedouin dẫn đường cho đoàn lạc đà đi những bước khoan thai, nhưng ngay khi dưới gót chân lạc đà bắt đầu rin rít tiếng cát cứng thì mọi thứ đều thay đổi ngay lập tức.


− Yalla! Yalla![3] − Những tiếng kêu man rợ bỗng rú lên. Đồng thời nghe thấy tiếng rít của những chiếc roi vụt xuống, và đàn lạc đà chuyển từ nước kiệu sang nước đại, bắt đầu lao đi như một cơn lốc, vó chúng làm bắn tung cát và sỏi sa mạc.


− Yalla! Yalla!


Nước kiệu của lạc đà xóc hơn, còn nước đại − bước chạy mà chúng ít khi dùng − lại lắc lư nhiều hơn, nên ban đầu lũ trẻ thích chí với cuộc chạy điên cuồng này. Nhưng sự tròng trành quá nhanh, ngay cả khi chơi đu, cũng dễ khiến cho người ta chóng mặt. Vì vậy, một lát sau, khi nhịp chạy không hề giảm bớt đi, cô bé Nel bắt đầu thấy quay cuồng trong đầu và hoa mắt.


− Anh Staś  này, tại sao ta lại phóng ác thế anh? − Cô bé vừa kêu lên vừa quay lại phía người bạn của mình.


− Anh nghĩ rằng bọn họ đã thúc lũ lạc đà chạy quá nhanh, bây giờ không thể hãm bớt chúng lại được. − Staś  đáp.


Song nhận thấy rằng, giờ đây nét mặt của cô bé hơi tái đi, Staś  bắt đầu gọi những người Bedouin đang phóng như bay phía trước để bảo bọn họ chậm bớt lại. Song tiếng gọi của em chỉ mang lại mỗi một kết quả duy nhất là khiến cho tiếng kêu “Yalla!” lại vang lên, và đàn súc vật càng tăng thêm tốc độ.


Lúc đầu, cậu bé ngỡ rằng những người Bedouin không nghe thấy tiếng gọi của em, song khi tiếng gọi lần sau cũng không được một lời đáp lại, còn gã Gebhr phi sau em vẫn không ngừng quất roi vào con lạc đà mà em và Nel đang cưỡi thì em lại nghĩ rằng, có lẽ không phải do lạc đà hăng máu, mà rõ ràng là bọn người này đang rất vội vã, vì một nguyên do nào đó không rõ.


Em thoáng nghĩ rằng, có thể họ đi lạc đường, bây giờ họ muốn rút bớt thời gian đã mất nên họ mới phóng nhanh như thế, vì sợ rằng các ông chủ sẽ quở phạt họ về quá muộn. Song chỉ lát sau em hiểu rằng, điều đó không đúng, bởi lẽ, hẳn là ông Rawlison sẽ giận hơn nhiều nếu bọn họ làm Nel bị mệt. Vậy thì chuyện này là nghĩa lí gì? Tại sao họ không tuân theo lệnh của em? Trái tim cậu bé bắt đầu nổi lên cơn giận và nỗi lo lắng cho Nel.


− Dừng lại! − Em lấy hết sức thét lên, quay người lại phía Gebhr.


− Ouxkout (câm mồm)! − Tên Sudan quát lên đáp lại. Và chúng tiếp tục phóng đi.


Ở Ai Cập, đêm buông xuống vào khoảng sáu giờ, ráng chiều tắt dần, rồi lát sau trên bầu trời hiện lên vầng trăng to tướng, đỏ bầm vì nhuốm sắc ráng chiều, trải xuống sa mạc làn ánh sáng dìu dịu.


Trong tĩnh mịch, chỉ nghe thấy tiếng thở hồng hộc của lũ lạc đà, tiếng móng chân chúng nện gấp gáp và câm lặng xuống mặt cát, thỉnh thoảng tiếng roi vun vút. Nel mệt đến nỗi Staś  phải giữ em trên yên. Cứ chốc chốc cô bé lại hỏi đã sắp tới chưa, rõ ràng, em chỉ ước mong làm sao chóng được gặp cha. Nhưng chúng chỉ hoài công dõi nhìn bốn chung quanh. Một giờ trôi qua, rồi giờ nữa, không hề thấy bóng lều trại và đống lửa nào cả.


Lúc ấy, Staś  bất chợt “dựng đứng” tóc trên đầu. Em hiểu ra rằng chúng đã bị bắt cóc.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info







[1]  Những trung đoàn kỵ binh Anh từng gặp gỡ kỵ binh Ba Lan trong thời Napôlêôn, cho tới nay vẫn còn tự hào về điều đó, và mỗi sĩ quan, khi nói về trung đoàn mình thường bảo: “Chúng tôi đã được cùng chiến đấu với người Ba Lan.” (Chú thích của tác giả).




[2] nguyên văn: Bismillach! − Thán từ mà người ả Rập hay dùng để biểu lộ sự thán phục.




[3] yalla: tiếng kêu thúc giục lạc đà của người ả Rập.yalla: tiếng kêu thúc giục lạc đà của người ả Rập.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »