tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21091293
Tiểu thuyết
18.11.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 14


Quả thực, tia hi vọng cuối cùng về việc trốn thoát trong khi đi đường thế là đã bị tắt ngấm. Giờ đây,


Xtas hiểu rằng, các mưu của em chẳng thể mang lại điều gì nữa, rằng cuộc đuổi theo sẽ không bao giờ đuổi kịp, và dù các em có chịu đựng nổi những khó nhọc trên đường thì cũng sẽ phải đi tới tận chỗ Mahơđi và sẽ bị nộp vào tay Xmainơ. Em chỉ còn một điều an ủi, đó là ý nghĩa rằng các em bị bắt cóc chẳng qua là để đánh đổi lấy những đứa con của gã Xmainơ. Nhưng liệu bao giờ chuyện đó sẽ xảy ra và trước đó các em sẽ phải gặp những chuyện gì? Tai ương khủng khiếp nào đang chờ các em giữa các bộ tộc hoang dã đang say máu người? Liệu Nen có chịu đựng nổi tất cả khó nhọc và thiếu thốn ấy? − Điều này không một ai có thể trả lời. Ngược lại, chỉ biết rằng, Mahơđi và những tín đồ của hắn rất căm thù những người Thiên Chúa giáo nói riêng và người châu Âu nói chung. Vì vậy, trong lòng cậu bé dậy lên nỗi lo sợ, không hiểu thế lực của gã Xmainơ có đủ để bảo vệ cho cả hai tránh khỏi những điều nhục mạ, sự tàn ác và điên dại của các tín đồ của Mahơđi − những kẻ giết hại ngay cả các tín đồ Hồi giáo trung thành với chính phủ? Lần đầu tiên từ khi bị bắt cóc, Xtas chìm trong một nỗi tuyệt vọng sâu thẳm, đồng thời em ngả theo một sự suy nghĩ mê tín, cho rằng em bị một thứ hung mệnh nào đó dõi theo ám ảnh. Vì nói cho cùng, ngay cả cái ý đồ bắt cóc các em từ Phaium rồi mang đến tận Kháctum cũng đã là một sự điên rồ hoàn toàn, sự điên rồ mà chỉ những kẻ hoang dại và ngu xuẩn như Iđrix và Ghebơrơ mới dám làm, bởi bọn chúng không hiểu rằng chúng sẽ phải vượt qua hàng nghìn cây số trên chính vùng đất thuộc về chính phủ Ai Cập, hay nói cho đúng hơn là thuộc về người Anh. Nhẽ ra chúng đã bị bắt ngay ngày hôm sau, ấy thế mà mọi sự lại sắp xếp thế nào để đến nỗi giờ đây chúng đã đến rất gần cái thác thứ hai mà chẳng có cuộc săn đuổi nào tóm được, còn những kẻ săn đuổi này thì lại nhập bọn với chúng và sẽ là lực lượng hỗ trợ chúng. Cộng thêm vào sự tuyệt vọng và nỗi lo sợ cho số phận của cô bé Nen là cảm giác nhục nhã, bởi Xtas nghĩ rằng em không thể làm một việc gì để cứu vãn tình thế, và hơn nữa, em không còn có thể nghĩ ra cách gì khác, bởi giá như bây giờ bọn kia có đưa cho em khẩu súng săn và đạn thì em đâu có thể khống chế nổi toàn bộ bọn Ả Rập đang hợp thành đoàn này.


Những ý nghĩa ấy giày vò em nhiều hơn nữa còn bởi lẽ sự giải thoát tưởng đã gần đến thế kia mà! Giá như Kháctum không bị chiếm, hoặc bị chiếm chậm đi vài ngày, thì chính những người giờ đây chạy sang phía Mahơđi chắc chắn sẽ tóm bọn kia và nộp chúng vào tay chính phủ rồi. Ngồi trên lưng lạc đà sau lưng Iđrix và lắng nghe những lời trò chuyện của bọn chúng, Xtas tin rằng mọi chuyện có thể đã diễn ra đúng như thế. Bởi vì, ngay sau khi tiếp tục lên đường, viên chỉ huy toán săn đuổi bắt đầu kể cho Iđrix nghe nguyên nhân nào đã khiến bọn chúng phản bội lại phó vương. Trước đó, chúng được biết rằng, đại quân không phải là quân Ai Cập nữa mà là quân Anh − đã lên đường xuống miền nam chống lại bọn phiến loạn, dưới sự thống lĩnh của tướng Vôxơlây. Bọn chúng trông thấy nhiều tàu thủy chở lính Anh hùng hổ từ átxuan tới Vađi Hanpha. Tại đó, người ta đã xây dựng riêng cho họ một con đường sắt đi tới Abu Hammét. Suốt một thời gian dài, các tù trưởng ven bờ sông − cả những người hãy còn trung thành với chính phủ lẫn những kẻ trong thâm tâm đã ủng hộ Mahơđi − vẫn tin rằng thất bại của những kẻ theo đạo Hồi và Đấng tiên tri của chúng là không thể tránh khỏi, bởi chưa hề có kẻ nào chiến thắng nổi người Anh.


− Lạy đức Ala! − Iđrix ngắt lời, đưa hai tay lên trời. − ấy thế mà bọn chúng đã bị đánh bại.


− Không. − Viên toán trưởng đáp lại. − Mahơđi phái các bộ lạc Dannô, Bacbara và Đadim đi chống lại người Anh, tổng cộng chừng ba mươi nghìn người lính thiện chiến nhất, do Muxa, con trai của Helu thống lĩnh. ở gần Abu Klêa đã diễn ra một trận đánh khủng khiếp, trong đó Thượng đế cho bọn vô thần chiến thắng.


− Chính vậy, Muxa − con trai của Helu tử trận, chỉ có một nhúm binh lính của ông ta quay lại với Mahơđi. Linh hồn của những người khác đã ở trên thiên đàng, còn xác họ nằm trong cát chờ ngày phục sinh. Tin tức về chuyện đó nhanh chóng lan ra khắp vùng sông Nin. Khi đó chúng tôi đã nghĩ rằng người Anh chắc sẽ tiến xa hơn nữa về phía nam và giải vây cho Kháctum. Ai ai cũng nói: “Kết cục! Kết cục rồi!”. Trong khi đó, Thượng đế đã an bài cách khác.


− Hả? Sao vậy? − Iđrix hỏi một cách nóng ruột.


− Sao vậy? − Viên chỉ huy nói, mặt rạng ngời − Vì trong lúc đó đức Mahơđi đã lấy được thành Kháctum, Goócđôn bị chặt đầu trong cuộc tiến công thành. Mà người Anh lại chỉ lo cho Goócđôn là chính, nên sau khi biết tin ông ta bị chết, họ bèn quay trở về phương bắc. Lạy đức Ala! Thế là chúng tôi lại thấy bao nhiêu tàu thủy chở những người lính to lớn xuôi dòng sông, song chúng tôi không hiểu điều đó có nghĩa thế nào. Người Anh chỉ loan tin tốt, còn tin xấu thì họ giấu đi. Một số trong chúng tôi bảo rằng đức Mahơđi đã bị qua đời. Nhưng cuối cùng sự thật cũng ra ánh sáng. Vùng đất này hiện hãy còn đang thuộc về chính phủ. Tại Vađi Hanpha và xa hơn nữa, cho tới thác thứ ba, mà cũng có thể cho tới tận thác thứ tư, cũng hãy còn binh lính của phó vương, nhưng giờ đây, khi người Anh đã tháo lui, chúng tôi tin rằng, đức Mahơđi sẽ đánh chiếm không những chỉ toàn bộ Nubia và Ai Cập, không những chỉ Mếchca và Mêđine, mà còn đánh chiếm toàn thế giới. Vì vậy, thay vì bắt các anh và nộp vào tay chính phủ, chúng tôi cùng đi với các anh tới gặp Đấng tiên tri.


− Thế nghĩa là đã có lệnh bắt chúng tôi?


− Lệnh được gửi tới mọi làng, mọi tộc trưởng, mọi đơn vị quân đội. Nơi nào không có sợi dây đồng mang lệnh từ Cairô chạy tới thì đã có các cảnh sát tới thông báo rằng hễ ai bắt được các anh sẽ được thưởng ngay một nghìn đồng bảng. Trời ơi! Đó thật là một tài sản lớn!... Lớn lắm!...


Iđrix nghi ngờ nhìn người đang nói.


− Thế nhưng các anh lại lựa chọn ân phước của đức


Mahơđi?


− Chính thế. Thêm nữa, Người đã thu được biết bao nhiêu tiền bạc và của cải ở Kháctum, đến nỗi Người phải dùng bao đựng cỏ để đong tiền Ai Cập và chia chúng cho những kẻ trung thành với Người...


 


− Song nếu như binh lính Ai Cập đang còn có mặt ở Vađi Hanpha và xa hơn nữa, thì dọc đường họ có thể bắt chúng tôi.


− Không. Chỉ cần nhanh chân lên một chút, trước khi bọn chúng kịp hoàn hồn. Giờ đây, sau khi người Anh rút đi rồi, đầu óc bọn chúng hoàn toàn bị đảo lộn, cả những tộc trưởng trung thành với chính phủ, lẫn binh lính và cảnh sát. Tất cả đều đang nghĩ rằng, chẳng bao lâu nữa Mahơđi sẽ tới, nên những người trong số chúng tôi, mà trong thâm tâm vẫn ủng hộ Người, chẳng bị ai đuổi theo, vì trong những giây phút ban đầu này chẳng còn ai ra lệnh và cũng chẳng ai biết nghe ai nữa.


− Đúng thế. − Iđrix đáp. − Nhưng ông đã nói đúng rằng phải mau chân lên trước khi bọn chúng kịp định thần, vì từ đây tới Kháctum hãy còn xa lắm...


Nghe trọn câu chuyện này, trong đầu Xtas lại bừng lên một tia hi vọng mỏng manh. Nếu như binh lính Ai Cập cho đến nay vẫn còn đang chiếm giữ nhiều địa điểm khác nhau dọc sông Nin ở Nubia, thì họ phải rút theo đường bộ trước sự tấn công của các bộ lạc của Mahơđi, vì tất cả các tàu thủy đã bị người Anh sử dụng hết. Như vậy, biết đâu đoàn này chẳng chạm trán với một trong số các đơn vị đang rút lui đó và có thể bị bao vây. Xtas cũng tính rằng, trước khi tin tức về việc chiếm Kháctum lan ra khắp các bộ lạc Ả Rập cư trú ở vùng phía bắc Vađi Hanpha, thì chắc hẳn phải còn mất nhiều thời gian, nhất là khi chính phủ Ai Cập và người Anh giấu tin này. Do vậy, Xtas cho rằng, sự rệu rã chế ngự những người Ai Cập trong phút đầu đã qua. Cậu bé ít kinh nghiệm còn chưa hiểu rằng dù sao đi nữa, việc Kháctum bị chiếm


 


và cái chết của Goócđôn cũng bắt mọi người phải quên đi tất cả mọi chuyện, và các vị tù trưởng trung thành với chính phủ − đồng thời cũng là chính quyền địa phương hiện tại của Ai Cập − hẳn là đang có bao nhiêu việc khác phải làm hơn là nghĩ đến việc cứu hai đứa bé da trắng.


Quả thực, những người Ai Cập nhập vào đoàn rất ít lo sợ bị đuổi theo. Họ có đi vội thật và không tiếc sức lạc đà, song họ đi ở khoảng cách rất gần sông Nin và đêm đêm thường rẽ ra sông để cho súc vật uống nước và kín nước vào các túi da. Đôi khi, ngay cả ban ngày, họ dám đi vào các làng mạc. Để đảm bảo an toàn, bao giờ họ cũng phái vài người đi thám thính trước, dưới dạng những người đi mua lương thực, xem xét tình hình trong vùng lân cận và nghe ngóng ở đấy có binh lính Ai Cập hay không, cũng như liệu các cư dân trong vùng có thuộc về những kẻ trung thành với bọn “Thổ” hay không. Nếu như tìm được đúng những người dân bí mật ủng hộ Mahơđi, thì cả đoàn sẽ vào làng, và thường thường, khi ra đi, đoàn người lại được tăng thêm vài hay mươi người Ả Rập trẻ tuổi muốn trốn đến với Mahơđi.


Iđrix cũng được biết rằng, gần như tất cả các đơn vị Ai Cập đều ở bên bờ phía sa mạc Nubia nghĩa là phía tả ngạn, phía bờ sông Nin. Để tránh đụng độ với họ, chỉ cần đi theo bờ hữu ngạn và tránh những thị trấn cùng những điểm cư dân tương đối lớn.


Tuy chuyện đó có khiến cho đường đi xa hơn nhiều, vì từ Vađi Hanpha trở đi, dòng sông tạo thành một vòng cung quành rất xa xuống phía nam, rồi sau đó lại ngoằn về hướng đông bắc cho tới tận Abu Hammét, nơi nó chảy thẳng về hướng nam, nhưng bờ hữu ngạn, nhất là từ ốc đảo Xêlim trở


đi, gần như hoàn toàn không bị cảnh giới, mà đối với những người Xuđan, đường đi giữa đám đông bè bạn, nước nhiều, lương ăn sẵn, trở nên vui vẻ hơn nhiều.


Sau khi vượt qua cái thác thứ ba, bọn chúng thôi không phải vội vã nữa, chúng đêm đi, ngày nghỉ, ẩn náu giữa các gò cát và khe núi chia cắt sa mạc. Lúc này, trên đầu chúng là bầu trời không một gợn mây, ở đường chân trời ngả màu xám,


còn ở giữa cong lên như một cái vòm khổng lồ, tĩnh mịch và thanh bình. Tuy nhiên, càng ngày cái nóng nực càng gay gắt hơn khi chúng đi dần về phía nam, thậm chí trong các khe núi, trong bóng râm, cái nóng vẫn hành hạ người và vật. Trái lại, đêm thường rất lạnh, đầy những vì sao lấp lánh, được phân chia thành những chòm lớn chòm nhỏ.


Xtas để ý thấy rằng đó đã không còn là những chòm sao đêm đêm vẫn soi sáng Port Xaiđơ nữa. Nhiều khi em từng mơ tưởng rằng, một khi nào đó trong đời sẽ được trông thấy chòm sao Thập tự nam. Và thế là em đã được thấy chòm sao này sau khi vượt qua En Oócđe. Nhưng giờ đây, ánh sáng của chòm sao này chỉ báo trước cho em những tai ương bất hạnh mà thôi. Từ vài ngày nay, cứ đêm đêm, đoàn người lại thấy cái ánh sáng bàng bạc, tản mạn và buồn tẻ của Hoàng đạo, kéo dài từ khi mặt trời lặn cho đến những giờ khuya, dát bạc vùng trời phía đông.


 


 


Chương 15


 


Hai tuần sau khi rời khỏi vùng lân cận Vađi Hanpha,


đoàn người đi vào khu vực bị Mahơđi chiếm. Họ vượt qua sa mạc đầy đồi núi Ghêdire ở gần Khenđi, nơi trước đó người Anh đã tiêu diệt không còn một mảnh giáp quân của Muxa Uled Đi Helu, và tiến vào vùng đất hoàn toàn không còn giống gì với sa mạc nữa. Nơi đây không thấy có cát và những lỗ tích. Nhìn đến hút tầm mắt là thảo nguyên mênh mông, một phần phủ đầy cỏ xanh tươi, một phần là rừng rậm, trong đó mọc những bụi keo gai góc − loài cây cung cấp thứ nhựa Xuđan nổi tiếng. Đây đó nổi lên những cây Nabắc đơn độc khổng lồ, tán xòe rộng đến nỗi dưới mỗi tán cây khoảng một trăm người có thể nấp tránh nắng mặt trời. Thỉnh thoảng cả đoàn lại đi ngang qua những tổ mối cao giống như những chiếc cột, những tổ mối này trải đầy trên toàn bộ vùng nhiệt đới Phi châu. Màu xanh của thảm cỏ và những cây xiêm gai dịu dàng mơn trớn mắt nhìn, sau màu cát đơn điệu và cằn úa của sa mạc.


Tại những đồng cỏ ở bình nguyên, hàng đàn lạc đà đang gặm cỏ dưới sự canh giữ của những toán lính có vũ trang của Mahơđi. Nhìn thấy đoàn người, chúng liền bật dậy như những con chim ăn thịt, lao tới phía họ, bao vây họ tứ phía, và vừa múa tít giáo, vừa hét lên ghê người, vừa căn vặn xem họ là ai, tại sao kéo từ phía bắc xuống và định đi đâu.


 


Nhiều khi, bọn chúng trông thật là dữ tợn, đến nỗi Iđrix phải vội vàng trả lời ngay những câu hỏi để khỏi bị tấn công.


Vốn hình dung rằng các cư dân Xuđan chỉ khác với tất cả những chủng người Ả Rập khác sinh sống tại Ai Cập mỗi một điểm là họ tin vào Mahơđi và không muốn thừa nhận chính quyền của phó vương, giờ đây Xtas mới thấy rằng em nhầm hoàn toàn. Những người giờ đây cứ chốc chốc lại giữ cả đoàn lại, đại đa số đều có nước da sẫm hơn Iđrix và Ghebơrơ, còn so với hai tên Bêđuin thì da họ gần như màu đen. Trong người họ, dòng máu da đen có ưu thế hơn dòng máu Ả Rập. Mặt mũi và ngực của họ đều được xăm chàm, những hình xăm đủ loại, hoặc là những câu Kinh Coran. Một số người gần như hoàn toàn ở trần, những người khác mặc diuby, tức là tấm choàng bằng vải bông trắng có may đính những tấm trang trí nhiều màu. Nhiều người có cài một nhánh san hô hoặc một mẩu ngà voi ngang qua lỗ mũi, qua môi hoặc dái tai. Các thủ lĩnh đội mũ tròn không lưỡi trai màu trắng cũng bằng thứ vật liệu như các tấm choàng, những chiến sĩ thường thì để đầu trần nhưng không cạo trọc như người Ả Rập ở Ai Cập, mà ngược lại, đầu họ mọc đầy tóc xoăn xoăn thường ngả màu đỏ do bị nhuộm vôi mà họ thường bôi để chống chấy. Vũ khí của họ chủ yếu là giáo, thứ vũ khí rất kinh khủng khi nằm trong tay họ, song cũng không thiếu súng trường Rêmingtơn mà họ đã thu được trong những cuộc chiến đấu với quân Ai Cập và sau trận hạ thành Kháctum. Nói chung trông họ thật hãi hùng và cách đối xử với đoàn người đầy thù địch vì họ cho rằng đoàn người này gồm các thương nhân Ai Cập, những kẻ mà lúc đầu, ngay sau trận chiến thắng, Mahơđi đã cấm không cho vào Xuđan.


 


Thông thường, họ bao vây đoàn người, và trong tiếng ồn ào hỗn loạn xen lẫn với những lời dọa nạt, họ gí giáo vào ngực mọi người hoặc nhằm súng vào họ, khiến cho gã Iđrix vội vàng kêu lên rằng hắn và em trai hắn thuộc về bộ tộc Đangan của chính đức Mahơđi, rằng chúng đang mang bọn trẻ con da trắng làm nô lệ đến nộp cho Đấng tiên tri. Chỉ mỗi một điều ấy thôi mới có thể khiến cho các ngọn giáo không làm chuyện dữ. Xtas, ngay sau khi được tiếp xúc với cái thực tế đầy kinh hoàng này, tê tái cả lòng khi nghĩ tới những gì đang chờ đợi cả hai đứa trong những ngày sắp tới; còn Iđrix, kẻ trước đó đã sống những năm dài trong một nước văn minh, cũng không hề tưởng tượng đến một chuyện như thế này bao giờ. Do vậy, hắn rất vui sướng khi vào một buổi chiều kia, một đơn vị vũ trang của viên êmia Nurơ En Tathin đón cả đoàn dẫn về Kháctum.


Trước khi chạy đến với Mahơđi, Nurơ En Tathin vốn là một sĩ quan quân đội Ai Cập thuộc trung đoàn da đen của phó vương, nên y không hoang dã như những tín đồ khác của Mahơđi, và Iđrix có thể nói chuyện được với y một cách dễ dàng hơn. Nhưng ngay cả ở đây nữa, hắn cũng thất vọng. Hắn cứ tưởng rằng việc hắn mang bọn trẻ da trắng tới trại của Mahơđi sẽ gây nên một sự kinh ngạc, dù chỉ là những gian khó kinh khủng và nỗi nguy hiểm của con đường mà hắn đã trải qua. Hắn tưởng rằng bọn tín đồ của Mahơđi sẽ nhiệt tình đón tiếp hắn với cánh tay dang rộng, sẽ hộ tống hắn trong một cuộc ca khúc khải hoàn đến bệ kiến Đấng tiên tri, và Người sẽ rắc vàng và những lời khen ngợi lên đầu hắn − một con người đã không ngần ngại đến tính mạng để phục vụ cho bà Phátma, em họ của Người. Trong khi đó thì bọn tín đồ Mahơđi lại thọc giáo kề tận ngực những người trong đoàn, còn Nurơ En Tathin thì nghe một cách hững hờ câu chuyện cuộc hành trình của hắn, và cuối cùng, khi bị hỏi rằng y có quen biết Xmainơ − chồng của bà Phátma hay không, y đáp lại:


− Không, ở Omđuaman và Kháctum hiện nay có tới trên một trăm nghìn chiến hữu, nên chẳng dễ gặp nhau đâu, và không phải mọi sĩ quan đều quen biết nhau cả. Quốc gia của Đấng tiên tri thật bao la, do vậy nhiều vị êmia hiện đang phải cai trị những thành phố xa xôi, ở Xennara, ở Coócđôphan, Đácphua và vùng lân cận Phasôđa. Rất có thể là cái ông Xmainơ nào đó mà nhà anh hỏi, hiện nay không có mặt bên cạnh Đấng tiên tri đâu.


Iđrix hơi bị phật ý vì kiểu nói coi thường của Nurơ khi nói đến “cái ông Xmainơ nào đó”, bèn đáp lại bằng một giọng hơi nóng nảy:


− Ngài Xmainơ lấy em con cô của Đức Mahơđi, nên con cái của ngài là họ hàng với Đấng tiên tri đấy.


Nurơ En Tathin nhún vai:


− Đức Mahơđi có nhiều bà con họ hàng nên không thể nhớ tất cả mọi người được.


Chúng đi một lúc lâu trong im lặng, rồi Iđrix lại hỏi:


− Bao lâu nữa thì chúng ta tới Kháctum?


− Trước nửa đêm. − Tathin vừa đáp vừa ngắm các vì sao đang hiện dần ở phương đông của bầu trời.


− Liệu vào cái lúc khuya khoắt như thế, tôi có thể tìm được thức ăn và lương thực cho gia súc hay không? Từ lúc nghỉ trưa tới giờ chúng tôi chưa có miếng nào vào bụng cả...


 


− Hôm nay tôi sẽ cho các anh ăn và ngủ qua đêm ở nhà tôi, nhưng ngày mai, đến Omđuaman, anh phải ráng mà kiếm lấy cái ăn, và tôi có thể nói trước với anh là chuyện đó không dễ đâu.


− Vì sao vậy?


− Vì đang chiến tranh mà. Từ mấy năm nay, người ta không gieo cấy mà chỉ sống bằng thịt, nên một khi súc vật thiếu đi thì cái đói tới liền. Hiện nay toàn bộ miền Xuđan đang bị đói, một bì ngô còn đáng giá hơn một tên nô lệ đấy.


− Lạy đức Ala! − Iđrix sửng sốt thốt lên. − Nhưng tôi trông thấy trên thảo nguyên hàng đàn gia súc và lạc đà kia mà.


− Những cái đó thuộc về Đấng tiên tri, thuộc về những người “cao quý” và thuộc về các calíp... Phải... Những người Đangan, bộ tộc đã sản sinh ra đức Mahơđi và những người Baggarơ, mà thủ lĩnh của họ là ngài Apđulahi, có những đoàn gia súc đông đảo, còn những bộ lạc khác thì ngày càng khó sống trên đời này.


Nói tới đây, Nurơ En Tathin vỗ vỗ vào dạ dày và tiếp:


− Đi phục vụ Đấng tiên tri, tôi có chức cao hơn, nhiều tiền hơn, nhiều quyền bính hơn, nhưng khi phục vụ cho phó vương thì bọn tôi lại to hơn...


Song chợt nhận thấy mình đã nói hơi nhiều, y liền nói thêm sau một lúc im lặng:


− Nhưng mọi chuyện đó rồi cũng sẽ qua cả thôi, khi có lòng tin vào chiến thắng.


Nghe thấy những lời đó, Iđrix chợt nghĩ rằng, dù sao hồi ở Phaium, khi phục vụ những người Anh, hắn cũng chưa bao giờ biết đói là gì và thật dễ kiếm tiền, thế là hắn trở nên buồn bã.


Sau đó hắn hỏi tiếp:


− Thế ngày mai ông đưa chúng tôi tới Omđuaman chứ?


− Phải. Theo lệnh của Đấng tiên tri, Kháctum cần phải bỏ trống nên hiện có rất ít người ở tại đó. Hiện nay người ta đã phá dỡ những ngôi nhà lớn rồi chở gạch ngói cùng các thứ của cải khác đi Omđuaman. Đấng tiên tri không muốn sống ở cái thành phố đã bị bọn vô đạo làm ô uế.


− Ngày mai tôi sẽ dập trán trước Người, Người sẽ ra lệnh cấp thức ăn và lương thực gia súc cho tôi.


− Ha! Nếu như quả thực anh thuộc về bộ tộc Đangan thì có thể anh sẽ được phép vào yết kiến Người. Nhưng anh hãy biết cho rằng, ngày cũng như đêm, có một trăm người cầm roi túc trực cạnh ngôi nhà của Người và họ không tiếc đòn roi đối với những kẻ nào không được phép mà lại muốn vào yết kiến Mahơđi đâu. Nếu không thì người ta chẳng khi nào để cho Người có một phút giây ngơi nghỉ... Lạy đức Ala! Tôi cũng đã từng thấy cả những người Đangan mang những lằn roi trên lưng.


Iđrix mỗi lúc một thêm thất vọng.


− Thế có nghĩa là, − y hỏi, − Tín đồ không được trông thấy Đấng tiên tri hay sao?


− Tín đồ trông thấy Người hàng ngày trên quảng trường cầu nguyện, khi Người quỳ trên tấm da cừu giơ tay lên cầu Thượng đế, hay khi Người răn dạy mọi người giữ lòng tin chân chính. Nhưng được đến gần Người và được nói chuyện với Người là việc rất khó. Ai đạt được phúc đó đều bị mọi người ghen tị, vì như thế nghĩa là ân phước của Thượng đế đã được ban phát xuống cho người đó, xóa sạch mọi tội lỗi trước kia của hắn.


 


Đêm đã đi vào chiều sâu, và cùng với đêm, cái lạnh thấm da thấm thịt cũng tràn về. Trong hàng người vang lên những tiếng kêu rừ rừ của ngựa, bước chuyển từ cái nóng ban ngày vào cái lạnh ban đêm mạnh và đột ngột đến nỗi da ngựa bốc hơi nghi ngút, khiến đoàn người như đi trong một đám sương mù. Ngồi sau lưng Iđrix, Xtas nghiêng người sang Nen nói:


− Em có lạnh không, em?


− Không. − Cô bé đáp. − Nhưng... thế là chẳng còn có ai che chở chúng mình nữa...


Và nước mắt khiến cho lời nói của cô bé tắc nghẹn.


Lần này, Xtas không thể tìm ra cho cô bé được một lời an ủi nào vì chính em cũng tin rằng, thế là không còn cách nào cứu được chúng nữa. Cả hai đã đi vào một nước bần hàn, đói rách, đất nước của những sự dã man thú vật, đất nước của máu đỏ. Chúng giống như hai chiếc lá nhỏ nhoi giữa cơn bão tố, cơn bão ấy không những chỉ mang cái chết và sự tàn phá gieo rắc cho những mái đầu đơn côi mà còn cho cả thành phố, các bộ tộc. Bàn tay nào có thể giằng chúng ra khỏi cơn bão táp ấy và cứu lấy hai đứa trẻ nhỏ bé, không ai che chở?


Trăng đã lên cao trên bầu trời, khiến những cành hoa trinh nữ và xiêm gai hóa thành những chùm lông vũ bằng bạc. Đây đó, từ trong rừng thẳm vang lên tiếng cười rùng rợn nghe như vui sướng của loài linh cẩu, bởi trong vùng đất đẫm máu này, chúng tìm được quá nhiều thây người. Thỉnh thoảng đơn vị đưa đoàn đi lại chạm trán với các toán lính tuần phong khác và trao đổi mật khẩu với nhau. Cuối cùng họ đi tới những dãy núi ven bờ sông và qua một hẻm núi dài, họ tới được sông Nin. Người, ngựa, lạc đà bước lên một chiếc thuyền rộng, đáy bằng, và chẳng bao lâu sau, những chiếc mái chèo bắt đầu đều đều phá vỡ mặt sông êm đềm rải đầy bóng sao lung linh.


Sau nửa giờ về phía nam, phía những chiếc thuyền đi ngược nước đang hướng tới bừng lên những ánh lửa sáng, và khi các con thuyền tiến lại gần, chúng hóa thành những chùm sáng đỏ trên mặt nước. Nurơ En Tathin chạm vào tay Iđrix, rồi chỉ ra phía trước và nói:


− Kháctum.


 


Chương 16


 


Họ dừng lại ở rìa thành phố, trong căn nhà trước kia vốn thuộc về một thương nhân Italia giàu


có. Nhưng sau khi ông ta bị giết trong trận công thành thì Tathin thu được ngôi nhà trong khi chia những của cải cướp được. Các bà vợ của viên êmia tiếp đón khá nhân hậu cô bé Nen sống dở chết dở vì quá mệt nhọc, và mặc dù toàn thành Kháctum đang cảm thấy thiếu lương thực, họ vẫn tìm được cho cô jan(1)  nhỏ bé một ít chà là khô và một ít cơm chan mật, sau đó đưa cô bé lên tầng trên và đặt cô vào giường. Ngủ qua đêm giữa đám lạc đà và ngựa trên sân, Xtas phải tạm hài lòng với một chiếc bánh khô độc nhất, ngược lại, nước uống thì em không thiếu, vì cái đài phun nước trong vườn, không hiểu vì một sự may mắn nào đó, đã không bị phá hoại. Mặc dù rất mệt mỏi, rất lâu em không thể chợp mắt được, trước hết là vì lũ bọ cạp liên tục bò lổm ngổm trên tấm đệm mà em đang nằm, sau nữa, vì sự bất an vô cùng do việc em bị tách khỏi Nen và không thể trực tiếp chăm lo cho cô bé. Rõ ràng cả Xaba cũng chia sẻ nỗi lo lắng này, con chó cứ đánh hơi chung quanh, thỉnh thoảng lại tru lên, khiến cho bọn lính tức giận. Xtas cố gắng yên ủi nó vì lo bọn lính sẽ trị


con chó. May thay, con chó ngao khổng lồ này đã khiến cho


 


1. Jan: “con cừu non” − tiếng gọi thân mật.


 


cả viên êmia lẫn bọn lính kinh ngạc đến nỗi không một tên nào dám vung tay lên hành hạ nó.


Cả gã Iđrix cũng không ngủ. Từ hôm qua hắn đã cảm thấy người không được khỏe, thêm nữa, sau cuộc nói chuyện với Nurơ En Tathin, hắn bị tan vỡ khá nhiều ảo tưởng, và hắn nhìn về tương lai cứ như qua một tấm màn chắn dày. Hắn mừng vì sáng ngày mai bọn chúng vượt sang Omđuaman, thành phố chỉ cách một dòng sông Nin Trắng mà thôi, hắn hy vọng rằng, tại đó hắn sẽ tìm thấy Xmainơ, nhưng rồi sao nữa? Trong khi đi đường, mọi chuyện đối với hắn rõ ràng và tuyệt diệu hơn rất nhiều. Hắn đã tin tưởng một cách chân thành vào Đấng tiên tri, trái tim hắn càng lôi kéo hắn đến với Người còn vì lẽ cả hai cùng xuất thân từ cùng một bộ tộc. Song cũng như mọi người Ả Rập khác, hắn vốn tham lam và kiêu ngạo. Hắn mơ tưởng rằng người ta sẽ rắc vàng lên người hắn và sẽ phong hắn ít nhất cũng là tước êmia, hắn mơ tưởng đến những cuộc chinh chiến chống lại bọn “Thổ”, đến những thành phố sẽ chiếm và những của cải cướp được. Giờ đây, sau những điều được nghe Tathin nói, hắn bắt đầu lo lắng không hiểu liệu tất cả những điều hắn làm có phải cũng nhỏ nhoi như một giọt nước mưa chìm trong biển lớn so với những sự kiện vĩ đại hơn nhiều hay chăng. Cũng có thể − hắn chua xót nghĩ − chẳng một ai quan tâm đến những gì ta đã thực hiện, thậm chí cả Xmainơ cũng sẽ không chút vui mừng về việc ta mang những đứa trẻ này tới cho ông ta. Hắn bị dằn vặt bởi ý nghĩ đó. Ngày mai sẽ xua tan hoặc sẽ khẳng định nỗi lo sợ của hắn, vì thế hắn vô cùng nóng ruột chờ đợi ngày mai.


Sáu giờ sáng, mặt trời lên, đội ngũ quân lính bắt đầu náo nhiệt. Chẳng bao lâu sau Tathin xuất hiện và ra lệnh


 


cho chúng chuẩn bị lên đường. Hắn báo trước rằng cả bọn sẽ đi bộ tới bến theo ngựa của hắn. Xtas vui mừng khôn xiết khi bà Đina đưa Nen từ tầng trên xuống, rồi cả đoàn lên đường đi theo bờ thành suốt dọc thành phố tới chỗ bến đò ngang. Tathin cưỡi ngựa đi phía trước. Xtas cầm tay Nen, theo sau là Iđrix, Ghebơrơ và Khamix cùng bà Đina và Xaba, với ba mươi tên lính của viên êmia. Những người khác ở lại Kháctum.


Xtas nhìn quanh, không thể hiểu vì sao cái thành phố có tường thành bao bọc vững chắc chung quanh như thế này, hơn nữa lại nằm ở chỗ hội lưu của sông Nin Trắng và Xanh − nghĩa là có nước bao bọc cả ba phía, trừ phía nam là có thể vào được − mà lại bị thất thủ. Mãi sau này, em mới được các nô lệ là tín đồ Thiên Chúa cho biết rằng, khi ấy, nước sông rất cạn, những bãi cát rộng nhô ra, khiến cho người ta có thể dễ dàng tiếp cận các tường thành. Quân binh trong thành mất hi vọng về đạo viện binh giải vây và bị cái đói làm cho mòn mỏi, đã không thể đánh lui nổi cuộc tấn công của những kẻ hoang dã đang hăng máu, và thế là thành phố bị thất thủ, rồi sau đó diễn ra cuộc tàn sát những cư dân trong thành. Mặc dù cuộc công thành đã xảy ra được chừng một tháng, những dấu vết của cuộc chiến đấu vẫn còn rõ nét dọc theo tường thành, trong thành ngổn ngang những đống đổ nát của các ngôi nhà bị phá sập, vốn là đối tượng của cơn cuồng nộ đầu tiên của những kẻ chiếm được thành, còn trong đường hào bên ngoài thành đầy xác người chết, những xác chết mà không có ai nghĩ tới chuyện chôn cất. Trước khi ra tới bến đò, Xtas tính được chừng hơn bốn trăm xác người. Tuy nhiên những xác


 


chết đó không làm cho bầu không khí ở đây bị ô uế, bởi lẽ mặt trời vùng Xuđan đã sấy chúng thành xác khô. Tất cả các xác chết đều có màu giấy da cừu xám xịt và giống nhau đến nỗi không thể nào phân biệt nổi xác người Âu, người Ai Cập và người da đen. Giữa đám xác người có rất nhiều thằn lằn nhỏ bé, nhanh nhẹn ẩn dưới những mảnh thây khi có người đi tới gần, thông thường là lẩn vào miệng hay vào giữa các xương sườn đã khô cong của xác chết.


Xtas dắt Nen, gắng che đi cái cảnh kinh khủng đó, em bảo cô bé nhìn sang phía khác, phía thành phố. Song về phía thành phố lại diễn ra những chuyện khác khiến đôi mắt và tâm hồn cô bé đầy nỗi kinh hoàng. Cảnh bọn trẻ con “người Anh” bị bắt làm nô lệ và con chó Xaba bị Khamix cầm cổ dề dắt đi thu hút theo những đám đông, và đoàn người càng đi tới gần bến đò thì những đám đông ấy mỗi lúc càng thêm lớn. Đám người tụ tập đông đến nỗi họ phải dừng lại. Khắp nơi vang dội những tiếng kêu thét dữ tợn. Những bộ mặt xăm chàm dữ dằn nhòm chòng chọc xuống Xtas và Nen. Một số kẻ trong những người hoang dã này bật lên tiếng cười sằng sặc và sung sướng vỗ tay vào đùi khi nhìn thấy hai trẻ, những kẻ khác chửi mắng chúng, một số bọn lại rống lên như dã thú, nhe ra những chiếc răng trắng nhởn và đảo đảo hai tròng mắt, cuối cùng, người ta bắt đầu đe dọa chúng, chĩa dao vào chúng. Nửa tỉnh nửa mê trong cơn sợ hãi, Nen cứ bám chặt vào Xtas, cậu bé cố hết sức che chở cho cô bé và nghĩ rằng giờ tận số của cả hai đứa đã đến. May thay, sức cản của đám người say máu này khiến cho cả gã Tathin cũng phải phật ý. Theo lệnh của hắn, hơn chục tên lính liền vây quanh hai trẻ, những tên khác bắt đầu vung roi quật không thương tiếc vào đám người đang hú hét. Phía trước, người chạy tán loạn, rồi lại tụ tập kéo theo sau toán lính và đưa họ xuống tận thuyền trong tiếng huyên náo hoang dã.


Bọn trẻ thở phào nhẹ nhõm trong khi đi thuyền vượt sông. Xtas an ủi Nen rằng khi đám tín đồ này quen dần với chúng, họ sẽ thôi không đe dọa chúng nữa, và em cam đoan rằng, gã Xmainơ sẽ che chở và bảo vệ cho cả hai, đặc biệt là đối với Nen, vì nếu có chuyện gì không hay xảy ra cho chúng thì gã sẽ không còn có ai để đánh đổi lấy con gã. Đó là sự thật, nhưng cô bé quá khiếp sợ trước đợt tấn công vừa rồi đến nỗi nắm chặt tay Xtas, không muốn rời ra một giây nào hết và lặp đi lặp lại như trong cơn mê sảng: “Em sợ! Em sợ!”. Còn Xtas, em hết lòng mong sao lọt vào tay gã Xmainơ thật nhanh, gã biết bọn trẻ từ lâu, và trong thời gian ở Port Xaiđơ, gã đã tỏ ra − hoặc ít nhất cũng giả vờ − rất thân thiết với bọn trẻ. Dù sao đi nữa, gã cũng không phải là kẻ quá ư hoang dại như những người Đangan, Xuđan khác, và kiếp sống nô lệ trong nhà gã hẳn là dễ thở hơn...


Vấn đề là làm sao tìm được gã trong thành Omđuaman. Cả Iđrix cũng trò chuyện với Nurơ En Tathin về chuyện ấy, khi đó tên này mãi sau mới nhớ ra rằng: Một năm trước đây, khi y đang ở Coócđôphan, một nơi cách xa Kháctum, theo lệnh của thủ lĩnh Apđulahi, y đã từng nghe nói tới một tay Xmainơ nào đó, kẻ đã dạy quân lính bắn các súng đại bác thu được từ tay quân Ai Cập, rồi sau đó đã trở thành một tay trùm trong nghề săn nô lệ. Nurơ bày cho Iđrix cách sau đây để tìm viên êmia nọ:


 


− Khi nào anh nghe thấy tiếng tù và umbai(1)  về buổi chiều, anh hãy cùng với lũ trẻ đi tới quảng trường cầu nguyện, nơi Đấng tiên tri ngày nào cũng tới để nêu gương sáng cho các tín đồ về lòng sùng đạo và kiên tín của họ. Tại đó, ngoài đức Mahơđi thánh thiện, anh sẽ thấy mặt tất cả những người “tôn quý” khác, cùng với ba vị thủ lĩnh, các vị pasa và êmia, trong số đó anh có thể tìm thấy ông Xmainơ.


− Tôi biết làm gì và ở vào đâu cho tới buổi nguyện


chiều cơ chứ?


− Anh sẽ ở lại với đám lính của tôi.


− Còn ông, thưa Nurơ En Tathin, ông rời bỏ chúng tôi sao?


− Tôi phải tới gặp ngài thủ lĩnh Apđulahi theo lệnh.


− Có phải đó là vị thủ lĩnh lớn nhất hay chăng? Tôi từ xa tới, nên mặc dù tên tuổi các vị thủ lĩnh đã vang dội đến tai tôi, nhưng phải đến ông mới có thể chỉ bảo cho tôi biết rõ hơn về họ.


− Ngài Apđulahi, thủ lĩnh của tôi, là thanh kiếm của đức Mahơđi đấy.


− Cầu đức Ala khiến cho ngài ấy trở thành con trai của thần chiến thắng.


Suốt một hồi lâu những con thuyền trôi trong im lặng. Chỉ nghe thấy tiếng kẽo kẹt của những mái chèo nghiến vào mạn thuyền, và thảng hoặc có tiếng đuôi cá sấu quẫy nước. Rất nhiều con bò sát kinh khủng loại này kéo hàng đàn hàng lũ từ phương nam tới Kháctum, nơi có thừa mứa thức ăn, vì dòng sông đầy những xác chết vì các bệnh dịch đang hoành


1. umbai: Một loại tù và lớn làm bằng ngà voi.


 hành trong quân đội của Mahơđi, đặc biệt là trong đám nô lệ. Các vị thủ lĩnh đã ra nhiều mệnh lệnh cấm việc “làm ô uế nước” nhưng chẳng ai chú ý đến các lệnh ấy, và thế là những xác chết mà lũ cá sấu chưa kịp nuốt cứ sấp mặt trôi đi lừng lững theo dòng nước đến tận cái thác thứ sáu hoặc xa hơn nữa, đến tận xứ Becberơ.


Song lúc này gã Iđrix đang suy nghĩ về chuyện khác, nên một lúc lâu sau gã lên tiếng hỏi:


− Sáng nay chúng tôi không có chút gì vào bụng, khó lòng chịu đựng nổi cái đói cho tới tận giờ nguyện buổi chiều, và rồi sau đó ai cho chúng tôi ăn uống chứ?


− Anh không phải là một thằng nô lệ − Tathin đáp, − Anh có thể ra chợ, nơi bọn lái buôn này bán những hàng chúng dự trữ được. ở đó anh có thể mua được thịt khô, đôi khi cả đốcnu (hạt kê) nữa, nhưng phải tốn nhiều tiền đấy, vì như tôi đã nói với anh, nạn đói đang ngự tại Omđuaman.


− Thế thì những kẻ hung dữ sẽ bắt hoặc giết mất lũ trẻ của tôi.


− Bọn lính sẽ bảo vệ chúng nó, còn nếu không, anh có thể đưa tiền cho một thằng nào đó, chắc hắn sẽ vui lòng đi mua cái ăn cho anh thôi.


Vốn là kẻ muốn lấy tiền của người khác hơn là đưa tiền cho họ, Iđrix không khoái lắm với lời khuyên này, nhưng trước khi y kịp đáp lại thì thuyền đã cặp bờ.


Đối với bọn trẻ, Omđuaman có vẻ khác hẳn với thành Kháctum. Thành phố kia có những ngôi nhà xây nhiều tầng, có quảng trường muđira, tức là quảng trường thống đốc, tại đó tướng Goócđôn anh dũng đã hi sinh, có nhà thờ, bệnh viện, nhà truyền đạo, kho quân giới, những trại lính lớn, các


khu vườn lớn và nhỏ với đủ mọi loại cây cỏ tuyệt vời của vùng nhiệt đới. Còn Omđuaman thì có vẻ giống một thứ trại khổng lồ của những người hoang dã hơn. Tường thành, vốn được xây dựng về phía bắc của nơi này, đã bị triệt phá theo lệnh tướng Goócđôn. Còn hiện nay, nhìn hút tầm mắt, thành phố chỉ gồm những mái lều hình nón lợp bằng các cuộng kê đánh lại mà thôi. Những hàng rào gai góc mỏng mảnh ngăn các lều đó với nhau và với đường phố. Đây đó cũng có cả những căn lều hẳn là thu được từ tay người Ai Cập. Còn ở nơi khác, chỉ vài tấm chiếu cọ trải dưới một mảnh vải bẩn thỉu căng trên mấy cái cọc tre đã là toàn bộ ngôi nhà cho một gia đình. Dân chúng chỉ trốn dưới mái nhà trong khi mưa, hoặc trong những giờ quá nắng, còn ngoài ra họ ở ngoài lều, đốt lửa, nấu ăn, sống và chết ngoài trời. Vì vậy mà phố xá đông đúc đến nỗi nhiều chỗ toán quân khó nhọc len qua các đám đông. Trước kia, Omđuaman vốn chỉ là một cái làng nghèo nàn, còn bây giờ, nếu tính cả số nô lệ, tại đây tụ tập những hơn hai trăm nghìn người. Thậm chí, bản thân Mahơđi cũng như các vị thủ lĩnh của ông ta cũng thấy lo ngại về sự tụ tập này, sự tụ tập đe dọa tới cái đói và bệnh hoạn. Vì vậy, người ta liên tục phái những toán quân đi về phía bắc để đánh chiếm các khu vực và những thành phố hãy còn đang trung thành với chính phủ Ai Cập.


Thấy bọn trẻ da trắng, ở đây cũng lập tức dậy lên những tiếng kêu thét đầy hằn thù, song dù sao thì đám đông cũng chưa đe dọa đến tính mạng các em. Có thể dân chúng không dám làm điều đó ngay sát nách Mahơđi, cũng có thể họ đã quen với các tù binh, những người sau khi Kháctum bị chiếm đã bị chuyển ngay sang Omđuaman. Xtas và Nen trông thấy


 


những người Âu và người Ai Cập bị roi quật đến tóe máu, những người bị đói khát, còng lưng dưới gánh nặng hoặc những thùng nước lớn mà người ta bắt họ phải mang. Chúng trông thấy những phụ nữ và trẻ con người Âu, trước kia vốn sống sung túc, giờ đây phải kéo đi ăn mày, xin một nắm ngô hoặc một rẻo thịt khô, những người đùm trong những mảnh vải rách nát, gầy guộc, giống như những hồn ma với những bộ mặt bị cảnh đói nghèo khiến cho vêu vao và những cặp mắt lạc thần, trong đó nỗi kinh hoàng và sự tuyệt vọng đã đông cứng lại. Chúng nhìn thấy cảnh bọn người dã man rú lên cười khi trông thấy họ, cảnh chúng xô đẩy và đánh đập họ ra sao. Trên khắp mọi đường phố lớn và nhỏ, không thiếu gì những cảnh khiến người ta phải quay mặt đi vì khiếp hãi và kinh tởm. ở Omđuaman hiện đang lan tràn một cách khủng khiếp bệnh dịch kiết lị và thương hàn, và trước hết là bệnh đậu mùa. Những người bệnh với những nốt đậu phủ đầy người nằm ngổn ngang cạnh lối vào các lều, khiến cho không khí bị nhiễm bẩn.


Tù binh khiêng những thây người vừa mới chết quấn trong những tấm vải bố dày ra chôn xuống cát bên ngoài thành phố, nơi mà lũ linh cẩu sẽ làm tiếp theo cái công việc chôn cất thật sự cho họ. Bên trên thành phố quần đảo hàng đàn diều hâu, những đôi cánh của chúng in xuống mặt cát thành những cái bóng đen tang tóc. Nhìn thấy tất cả những cái đó, Xtas nghĩ rằng, đối với em cũng như đối với Nen, tốt nhất là làm sao sớm được chết cho xong.


Tuy nhiên, trong cái biển cả bần hàn và đầy thù hằn con người này, thỉnh thoảng vẫn nở bừng những biểu hiện của lòng từ thiện, giống như một đóa hoa nhợt nhạt xòe nở


 


trong vũng lầy tanh hôi. ở Omđuaman vốn có một nhúm người Hi Lạp và Coptơ mà Mahơđi đã để cho sống sót vì y cần đến họ. Không những họ được tự do đi lại mà còn tiến hành buôn bán và làm những công việc khác, và một số người, nhất là những kẻ giả vờ thay đổi tín ngưỡng, còn trở thành những thuộc hạ của Đấng tiên tri, điều đó khiến cho họ có một vị trí quan trọng trong số những tín đồ man dã. Một trong những người Hi Lạp nọ giữ toán lính lại và bắt đầu hỏi bọn trẻ từ đâu lạc loài tới đây. Ngạc nhiên khi được biết rằng các em vừa mới đặt chân tới, rằng chúng bị bắt cóc từ mãi tận Phaium, ông ta liền hứa sẽ nói cho Mahơđi biết chuyện và sẽ tới thăm chúng trong tương lai. Ông thương xót gật gật đầu với Nen và cho mỗi đứa trẻ một vốc to chà là sấy khô cùng một đồng tale bạc có khắc hình Maria Terexa. Sau đó ông ta ra lệnh cho bọn lính không được xúc phạm tới cô bé rồi bước đi, mồm lặp đi lặp lại bằng tiếng Anh: “Poor little bira!” (Một con chim nhỏ tội nghiệp)


 


Chương 17


 


Qua những phố nhỏ ngoằn ngoèo, mãi rồi họ cũng tới được bãi chợ ở trung tâm thành phố. Dọc đường


họ trông thấy nhiều người bị chặt cụt một tay hoặc một chân. Đó là những tội phạm đã từng cất giấu các của cải cướp được, hoặc bọn ăn trộm. Những hình phạt mà các thống lĩnh hoặc êmia dành cho những kẻ không tuân lệnh hoặc những kẻ dám phạm vào những luật lệ mà Đấng tiên tri đã ban hành thật vô cùng thảm khốc, thậm chí chỉ vì một lỗi lầm nhỏ nhặt nào đó, thí dụ như hút thuốc lá chẳng hạn, người ta cũng sẽ bị đánh bằng roi ngựa đến bật máu tươi. Song chính các viên thống lĩnh lại chỉ chấp hành luật lệ một cách hình thức mà thôi, còn ở nhà thì họ tự cho phép mình được làm tất cả mọi thứ, nghĩa là hình phạt chỉ rơi xuống đầu người nghèo, những người bị cướp sạch sành sanh tài sản trong mỗi vụ ra tay của kẻ cầm quyền. Họ chẳng còn đường nào khác ngoài việc đi ăn mày, và vì rằng ở Omđuaman không có lương thực dự trữ, nên họ chết dần chết mòn vì đói.


Cạnh các quầy bán lương thực nhung nhúc người ăn mày. Tuy nhiên, vật đầu tiên khiến bọn trẻ phải chú ý tới là một cái đầu người bị cắm vào một cọc tre cao, chôn chính giữa chợ. Mặt của cái đầu này đã khô quắt lại và gần như có màu đen, còn tóc và râu cằm thì lại trắng như cước. Một tên lính giải thích cho Iđrix rằng đó là đầu của tướng Goócđôn.


 


Nghe thấy thế, Xtas thấy lòng tràn ngập một nỗi tiếc thương vô hạn, một sự phẫn nộ và ý muốn khao khát được báo thù, đồng thời một nỗi hãi hùng cũng khiến cho máu trong huyết quản của em dường như đông lại. Thế ra vị anh hùng ấy, người hiệp sĩ không hề biết sợ hãi và không một tì vết ấy, con người công minh và đôn hậu được yêu mến ngay ở Xuđan ấy, đã phải chết như vậy. Thế mà người Anh đã không kịp thời đến ứng cứu cho ông, rồi sau đó lại rút lui, để thi thể ông bị bêu nhục nhã, không được chôn cất theo nghi lễ Thiên Chúa giáo. Lúc này đây, Xtas mất hoàn toàn lòng tin vào người Anh. Cho tới nay, em vẫn tin tưởng một cách ngây thơ rằng, Anh quốc sẵn sàng đánh nhau với toàn thế giới nếu như bất kì một công dân nào của nước Anh bị xúc phạm, dù chỉ là điều xúc phạm nhỏ nhặt nhất. Tận đáy lòng em vẫn còn le lói chút hi vọng rằng sau cuộc truy đuổi không thành công để cứu con gái của ông Rôlixơn, hẳn là những đơn vị hùng hậu của người Anh sẽ lên đường, tiến đến tận Kháctum hoặc xa hơn nữa. Thế mà giờ đây em hiểu ra rằng, cả Kháctum cùng toàn bộ đất nước này đã lọt vào tay Mahơđi, trong khi chính phủ Ai Cập cũng như Anh quốc có lẽ chỉ nghĩ tới việc làm sao bảo vệ cho Ai Cập tránh khỏi những cuộc chia cắt tiếp tục, chứ chẳng nghĩ gì tới việc cứu các tù binh người Âu ra khỏi cảnh nô lệ.


Xtas hiểu được rằng, em và Nen đã rơi vào một vực thẳm không lối thoát. Những ý nghĩ đó cộng với thực tế đầy kinh khủng mà em trông thấy trên các đường phố Omđuaman đã khiến em thất vọng đến cùng cực. Cái nghị lực mà em thường có giờ đây tạm thời nhường chỗ cho một sự cam chịu thuận theo số mệnh và sự hãi hùng khi nghĩ tới tương lai. Gần như vô vọng, em đưa mắt nhìn ngó khắp bãi chợ và các dãy quầy hàng, nơi gã Iđrix đang mặc cả mua thực phẩm. Những kẻ buôn thúng bán bưng, chủ yếu là các phụ nữ Xuđan và đàn bà da đen, đang bày bán ở đây áo duba (tức là các áo mộc làm bằng vải trắng có may thêm các mảnh vải nhiều màu), nhựa gôm, những quả bầu đã khoét thủng, chuỗi hạt cườm thủy tinh, lưu hoàng và đủ mọi loại thảm chiếu khác nhau. Rất ít quầy bán thực phẩm và chung quanh mỗi quầy đều có đám đông vây chặt. Các tín đồ của Mahơđi mua mọi thứ, trước hết là những súc thịt trâu bò khô, thịt linh dương và hươu cao cổ với giá cao kinh khủng. Hoàn toàn không thấy có chà là, vả, sắn và ngô. Chỉ thảng hoặc mới có người bán nước pha mật ong hoang và hạt kê ngâm trong nước cất quả tamarin(1). Gã Iđrix hoàn toàn tuyệt vọng, vì hóa ra, cứ theo giá chợ hiện nay thì chẳng mấy chốc gã sẽ tiêu sạch số tiền do mụ Phátma đưa cho để sinh sống, sau đó có lẽ chỉ còn cách đi ăn mày mà thôi. Giờ thì gã chỉ còn hi vọng vào Xmainơ, và đó cũng là chuyện lạ, bởi vì chính Xtas cũng chỉ còn tính đến sự trợ giúp của Xmainơ mà thôi.


Một giờ sau, Nurơ En Tathin từ chỗ thống lĩnh Apđulahi quay trở lại. Hẳn là ở đó hắn đã gặp chuyện gì đó không thật dễ chịu nên rất bực bội. Khi Iđrix hỏi xem hắn có tìm biết được thêm điều gì về Xmainơ chăng, hắn liền vặc lại ngay:


− Đồ ngốc, mày nghĩ rằng ngài thống lĩnh và tao không còn việc gì khác ngoài việc tìm Xmainơ cho mày hay sao?


 


1. cây mọc ở vùng nhiệt đới châu Phi, hiện được trồng chủ yếu ở ấn Độ, làm nguyên liệu sản xuất gia vị và làm nước ngọt, đồng thời cho gỗ tốt.


 


− Thế bây giờ ông sẽ làm gì được cho tôi đây?


− Mày làm gì tùy ý mày. Tao đã cho mày ngủ đêm ở nhà tao, đã cho mày những lời khuyên quý báu, bây giờ tao không muốn thấy mặt mày nữa.


− Được thôi, nhưng tôi biết trú đêm vào đâu bây giờ?


− Tao không thèm biết.


Nói xong, hắn liền tập hợp bọn lính và bỏ đi. Iđrix chỉ còn kịp van hắn để hắn gửi số lạc đà và phần còn lại của cả đoàn, kể cả những người Ả Rập đã nhập vào đoàn trong vùng giữa átxuan  và Vađi Hanpha, đến bãi chợ mà thôi. Mãi tới trưa những người này mới tới nơi và chẳng một ai biết là phải làm gì bây giờ. Hai tên Bêđuin bắt đầu vặc nhau với Iđrix và Ghebơrơ, bảo rằng hai tên này đã hứa với chúng một cuộc tiếp đón khác thế này, và rằng hai tên này đã đánh lừa bọn chúng. Sau một hồi lâu cãi cọ lời qua tiếng lại, bọn chúng quyết định dựng lều bằng cành cây và cuộng kê ở cuối thành phố để có chỗ trú đêm đã, còn lại thì cứ trông cậy vào ý muốn của Đấng cứu thế và hãy chờ đợi.


Sau khi đã dựng xong lều − việc này chẳng mất mấy chút thì giờ đối với bọn Xuđan và da đen, tất cả bọn chúng


− trừ Khamix phải ở nhà chuẩn bị bữa ăn tối − kéo tới chỗ cầu nguyện công cộng. Chẳng khó khăn gì để tìm ra chỗ đó, bởi hàng đoàn, hàng đoàn người từ khắp thành Omđuaman cũng đang tấp nập kéo về đó. Bãi đất rộng, chung quanh có hàng rào gai và một phần hàng rào bằng đất sét được đắp lên cách đấy không lâu. Giữa bãi là một bục gỗ. Đấng tiên tri sẽ bước lên bục khi muốn răn bảo mọi người điều gì. Ngay trước bục gỗ, người ta đã trải những tấm da cừu ngay trên mặt đất làm chỗ dành cho Mahơđi, các vị thống lĩnh và tù


 


trưởng danh tiếng. Hai bên cắm cờ hiệu của các viên êmia, những lá cờ phấp phới trong gió, lộng lẫy đủ màu sắc, lòe loẹt như những bông hoa lớn. Bốn phía quảng trường là đội ngũ dày đặc của các tín đồ. Chung quanh là cả một rừng giáo không tính xuể, thứ vũ khí mà gần như tất cả mọi chiến sĩ đều mang bên mình.


May mắn cho Iđrix, Ghebơrơ và những người trong đoàn là họ được xem như tùy tùng của một vị êmia nào đó, nên có thể tiến lên hàng đầu của đám đông. Sự xuất hiện của Mahơđi được báo trước bằng những thanh âm trang trọng và trầm bổng của tù và umbai, nhưng khi chính y xuất hiện trên bãi thì bốn chung quanh dậy lên những tiếng sáo lảnh lót, tiếng trống thúc ầm ầm, tiếng lộc cộc của đá đựng trong các quả bầu khô bị lắc lên, và tiếng rú rít của còi ngà voi, tất cả trộn lẫn vào nhau thành một thứ tiếng ồn kinh khủng. Đám người bị chế ngự bởi một nỗi cuồng nhiệt khôn tả. Kẻ thì quỳ sụp xuống, kẻ thì cố hết sức hét lên: “Ôi! Sứ giả của Thượng đế! Ôi, người chiến thắng! Ôi, người từ thiện! Ôi, người rộng lượng!”. Cảnh đó kéo dài cho tới khi Mahơđi bước lên bục thuyết giáo. Khi đó chợt bao trùm một bầu không khí im lặng chết chóc, còn y đưa hai bàn tay to lớn lên ngang tai và bắt đầu cầu nguyện một hồi lâu.


Bọn trẻ đứng cách đó không xa và có thể trông thấy y rất rõ.


Đó là một người vào độ trung tuần, nhưng béo kì lạ, dường như bị nứt trương ra vậy, người gần như da đen. Vốn có cặp mắt rất tinh tường, Xtas nhận thấy mặt y cũng xăm chàm. Một tai y đeo một cái vòng lớn làm bằng ngà voi. y mặc một cái áo duba màu trắng, đầu đội mũ chỏm trắng, chân đi đất, vì khi bước lên bục y đã tụt đôi hài đỏ ra để cạnh tấm da cừu, chỗ mà sau đó y sẽ cầu nguyện. Trong các thứ trang phục của y không có một chút nào phong lưu cả. Chỉ thỉnh thoảng gió mang lại mùi hương khuynh diệp bốc lên từ người y, thứ mùi được các tín đồ hít lấy hít để và hấp háy mắt ra chiều khoái trá. Nói chung Xtas tưởng tượng hoàn toàn khác về vị tiên tri khủng khiếp này − kẻ cướp bóc và giết chóc ngần ấy ngàn người, nên giờ đây, khi nhìn thấy bộ mặt bự mỡ với cái nhìn có vẻ hiền lành, cặp mắt nhòa lệ và nụ cười như được gắn vào miệng y, em không thể không ngạc nhiên. Em cứ nghĩ rằng một kẻ như thế phải mang trên hai vai một cái đầu linh cẩu hay đầu cá sấu, thế mà giờ đây, em lại thấy trước mắt mình một quả bí ngô béo phị, giống hệt những bức tranh vẽ hình trăng tròn.


Song vị tiên tri đã bắt đầu rao giảng. Cả hai đều nghe rõ tiếng nói sâu thẳm và lanh lảnh của y, mỗi lời đều vang đến tận tai các tín đồ. Đầu tiên y nói về những hình phạt mà Thượng đế dành cho những kẻ không chịu tuân theo các luật lệ của Mahơđi, mà cứ giấu giếm của cải cướp được, cứ uống rượu mêrixa, ăn cắp, hút thuốc, tha thứ cho kẻ thù trong khi chiến đấu. Vì tất cả những tội lỗi ấy, đức Ala đã gửi xuống cho những kẻ phạm tội nạn đói và thứ bệnh dịch khiến cho mặt mũi người trở thành một lát mật rỗ lỗ chỗ. Đời sống trần gian chỉ như một cái bao da thủng đựng nước mà thôi. Tài sản và lạc thú rồi cũng tan biến trong lớp cát sẽ chôn vùi người chết. Chỉ có lòng tin là giống như con bò sữa cấp cho ta dòng sữa ngọt ngào. Nhưng thiên đường chỉ mở cửa cho những người chiến thắng. Ai thắng được kẻ thù, người đó sẽ được cứu rỗi. Ai hi sinh vì lòng tin sẽ được phục sinh vĩnh


 


hằng. Hạnh phúc thay, trăm lần hành phúc thay những kẻ đã ngã xuống.


− Chúng con muốn được chết vì lòng tin! − Đám đông liền đáp lại bằng một tiếng kêu vang động.


Và tiếng huyên náo lại cồn lên khủng khiếp trong chốc lát. Tiếng tù và umbai và tiếng trống lại gầm vang. Các chiến sĩ vung gươm đập vào gươm, giáo đập vào giáo. Nhiệt tình chinh chiến lan nhanh như lửa cháy. Một số kẻ thét lên: “Lòng tin sẽ chiến thắng!”, một số kẻ khác lại kêu: “Vượt qua cái chết đến với thiên đường!”. Giờ đây Xtas hiểu được vì sao quân đội Ai Cập không thể chống cự nổi những bộ lạc hoang dã này.


Khi đã yên một chút, Đấng tiên tri lại cất lời. y kể lại  những  điều  y  trông  thấy    về  sứ  mạng    y  được Thượng đế giao phó. Chính đức Ala đã giao cho y phải làm cho đức tin trong sáng trở lại và truyền bá nó khắp thế gian. Kẻ nào không công nhận y là Mahơđi, là Người−chuộc−tội, kẻ đó sẽ bị tội trầm luân. Ngày tận thế đã tới gần, nhưng trước đó, nghĩa vụ của những người kiên tín là phải đánh chiếm được Ai Cập, Mếchca và tất cả các đất nước bên kia biển lớn, nơi bọn ngoại đạo sinh sống. Đó là ý chí của Thượng đế và không có gì có thể thay đổi được ý chí đó. Máu sẽ còn tuôn đổ nhiều nữa, nhiều chiến sĩ sẽ không được quay về với vợ con dưới mái lều của mình, song vinh hạnh của những người được ngã xuống thì không ngôn ngữ nào của loài người có thể tả xiết.


Rồi y vươn tay về phía những người đang tụ tập và kết thúc như sau:


− Thế nên ta, Người-chuộc-tội và đầy tớ của Thượng đế, ta ban phước lành cho cuộc chiến tranh thần thánh và ban phước lành cho các ngươi, hỡi các chiến sĩ. Ta ban phước cho những nỗi nhọc nhằn của các ngươi, những vết thương, cái chết, ta ban phước cho chiến thắng và ta khóc cùng với các ngươi như một người cha xiết bao yêu quý các con...


y bật lên khóc. Tiếng kêu và tiếng ồn lại cồn lên khi y rời khỏi diễn đàn. Tiếng khóc lan ra mọi nơi. Bên dưới đài, hai viên thống lĩnh Apđulahi và Ali Uled Helu đỡ lấy tay vị tiên tri dẫn tới tấm da cừu, nơi y quỳ xuống. Trong giây phút ngắn ngủi đó, Iđrix sốt ruột hỏi Xtas xem trong số các vị êmia có mặt Xmainơ hay không.


− Không! − Cậu bé đáp lại sau khi đã hoài công dõi mắt tìm khuôn mặt quen thuộc. − Tôi không trông thấy ông ta đâu cả. Có lẽ ông ta đã chết trong khi công phá Kháctum rồi cũng nên.


Lễ cầu nguyện kéo dài rất lâu. Trong khi cầu nguyện, lúc thì Mahơđi vung tay vung chân như một con nhện, khi thì lại ngước mắt đầy thành kính nhìn lên trời và thốt lên: “Người đấy! Người đấy!” Mặt trời ngả về tây khi y đứng dậy bước về nhà. Đến lúc này, bọn trẻ mới có thể thấy hết lòng ngưỡng mộ của các tín đồ dành cho vị tiên tri, hàng đám người cuộn theo gót y, cào cấu mặt đất ở những chỗ gót chân y đặt xuống. Họ cãi nhau và đánh nhau trong khi làm việc đó, và tin rằng thứ đất đó khiến cho người khỏe mạnh được an toàn và chữa lành bệnh cho người đau ốm.


Bãi cầu nguyện dần dần thưa người. Iđrix cũng không biết nên làm gì, y đã định cùng với bọn trẻ và cả đoàn quay về các lều nghỉ đêm với Khamix, thì đột nhiên trước mặt hiện ra ông lão người Hi Lạp, chính cái ông lão mà sáng ấy đã cho Xtas và Nen mỗi đứa một đồng tale và một nắm chà là.


 


− Ta đã thưa chuyện với đức Mahơđi về các người. − Ông nói bằng tiếng Ả Rập. − Và Đấng tiên tri muốn gặp các người.


− Tạ ơn đức Ala và ngài, thưa quý ngài! − Iđrix bật kêu lên. − Liệu chúng tôi có gặp được ngài Xmainơ bên cạnh đức Mahơđi hay chăng?


− Xmainơ hiện đang ở Phasôđa. − Ông lão người Hi


Lạp đáp.


Rồi ông nói với Xtas bằng tiếng Anh:


− Có thể là Đấng tiên tri muốn bảo trợ cho các cháu, vì ta đã cố gắng khuyên Người việc đó. Ta nói với Người là quang vinh của lòng từ thiện của Người sẽ lan ra khắp các dân tộc da trắng nếu Người làm việc đó. Nơi đây đang xảy ra những chuyện khủng khiếp, thiếu sự bảo trợ của Người thì chắc chắn các cháu sẽ chết đói, chết khổ, chết bệnh hoặc chết vì tay bọn điên khùng này mất thôi. Nhưng các cháu phải chiếm cho được cảm tình của Người, điều đó tùy thuộc vào chính các cháu đấy.


− Nhưng cháu sẽ phải làm gì, thưa ngài?


− Trước hết, khi đứng trước mặt Người, cháu phải quỳ ngay xuống, nếu Người đưa tay cho cháu, thì hãy thành kính hôn tay Người và hãy cầu xin Người cưu mang các cháu dưới đôi cánh của Người.


Nói đến đây ông lão người Hi Lạp dừng lại và hỏi:


− Có ai trong những người này biết tiếng Anh không?


− Không ạ, Khamix ở lại trong lều, Iđrix và Ghebơrơ chỉ hiểu được đôi ba tiếng, còn những kẻ khác thì không biết chút gì hết.


− Thế thì hay lắm. Cháu hãy nghe tiếp đây, vì cần phải dự liệu tất cả mọi chuyện. Mahơđi chắc sẽ hỏi cháu xem cháu có sẵn lòng chấp thuận tín ngưỡng của ông ta hay không. Cháu hãy trả lời ngay lập tức là có, và rằng chỉ thoáng gặp Người lần đầu thôi mà đã có một thứ ánh sáng ân phước nào đó chiếu xuống cháu. Hãy nhớ lấy: “Một thứ ánh sáng ân phước nào đó..”. Câu đó sẽ khiến cho ông ta khoái chí và có thể ông ta sẽ lấy cháu vào chân mulađem, tức là vào hàng những kẻ thân cận phục vụ ông ta. Khi đó chắc chắn các cháu sẽ sống sung túc và đầy đủ mọi thứ tiện nghi, những thứ sẽ tránh cho các cháu khỏi mắc bệnh tật... Nếu như cháu làm khác đi, sẽ nguy hiểm cho bản thân cháu, cho cô bé đáng thương này và có thể cho cả ta, người chỉ muốn điều tốt lành cho các cháu mà thôi. Cháu hiểu chưa?


Xtas nghiến chặt răng không trả lời gì hết, riêng nét mặt của em chợt sầm lại và đôi mắt tối đi. Nhìn thấy thế ông lão Hi Lạp nói tiếp:


− Ta biết, cháu bé ạ, đó là một chuyện phiền lòng, nhưng chẳng có cách nào khác đâu. Những người còn sống sót sau cuộc thảm sát ở Kháctum đều phải nhận tôn giáo của Mahơđi. Chỉ có mấy vị cố đạo Thiên Chúa đi truyền giáo và mấy nữ tu sĩ là không thuận, nhưng đó lại là chuyện khác. Kinh Coran ngăn cấm việc giết các tu sĩ, nên mặc dù số phận của họ thật khủng khiếp, nhưng ít ra họ cũng không bị cái chết đe dọa. Ngược lại, đối với người thường thì không có cách nào thoát chết cả. Ta nhắc lại cho cháu rõ là tất cả mọi người đều cải đạo sang đạo Hồi, cả người Đức, người Italia, người Coptơ, người Anh, người Hi Lạp, cả ta cũng...


Nói đến đây, dù Xtas đã nói chắc với ông ta rằng trong đám người không ai biết tiếng Anh, song ông ta cũng tự nhiên hạ thấp giọng:


 


− Có lẽ ta không cần phải nói với cháu rằng đó không phải là một sự cải đạo, một sự phản bội, hay một tội lỗi nào cả. Trong tâm hồn của mỗi người, họ vẫn là người cũ, Chúa thấy hết... Cần phải nhẫn nhục trước bạo lực, dù chỉ là sự nhẫn nhục hình thức... Bổn phận của con người là phải bảo vệ cuộc sống, và sẽ là điều điên rồ, thậm chí sẽ là tội ác nếu làm cho nó bị đe dọa. Mà để làm gì kia chứ? Để làm một chuyện hình thức, vì có mấy lời mà cháu có thể chửi thầm trong bụng ngay khi ấy? Cháu hãy nhớ rằng, cháu đang nắm trong tay không phải chỉ sinh mạng của bản thân cháu mà thôi, mà còn cả mạng sống của cô bạn bé bỏng của cháu đây nữa, mạng sống mà cháu không có quyền tự do định đoạt. Dĩ nhiên là thế!... Ta có thể nói chắc chắn với cháu rằng, nếu như có khi nào đó Chúa giải thoát cho cháu ra khỏi bàn tay những kẻ này, thì cháu sẽ không có điều gì phải hối hận đối với mình, mà cũng không một ai có thể trách cứ gì cháu, cũng như trách cứ tất cả chúng ta.


Nói thế, ông lão người Hi Lạp có thể là đang tự lừa dối lương tâm mình, nhưng sự im lặng của Xtas cũng đánh lừa ông lão, vì ông lại ngờ rằng em đang hoảng sợ. Ông bèn quyết định cổ vũ cho cậu bé thêm vững lòng.


− Nhà của Mahơđi đây rồi. − Ông nói. − Người thà sống trong những túp nhà gỗ như thế này ở Omđuaman còn hơn là sống ở Kháctum, mặc dù tại đó Người có thể chiếm tòa lâu đài của Goócđôn. Nào, can đảm lên cháu! Chớ có sợ. Hãy trả lời các câu hỏi thật cặn kẽ. ở đây, người ta rất trọng sự can trường. Cũng chớ nghĩ rằng Mahơđi sẽ gầm lên như sư tử đối với cháu. Không đâu, Người luôn luôn mỉm cười, thậm chí ngay cả khi Người đang nghĩ đến chuyện chẳng tốt lành chút nào.


Nói xong, ông bắt đầu bảo đám người đứng tụ tập


trước nhà hãy tránh ra nhường đường cho “khách” của


Đấng tiên tri.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz - Nobel Văn học 1905.


Nguyễn Hữu Dũng dịch và giới thiệu. NXB Văn học in lần đầu 1985-1986, các NXB tái bản 25 lần. Lần mới nhất NXB Hội Nhà văn in năm 2016- Kỷ niệm 100 năm ngày mất của Tác giả - Đại văn hào Ba Lan.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »