tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21091305
Tiểu thuyết
18.11.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 25


Mãi rồi mặt trời cũng lên, chiếu sáng rừng hoang, những bụi cây và khu rừng non. Sư tử biến mất


trước khi tia sáng đầu tiên bừng lên ở phía chân trời. Staś  bảo Kali nhóm lửa, còn Mêa lấy đồ đạc của Nel trong cái túi da ra, hong cho khô và thay quần áo cho cô bé ngay. Còn bản thân em cầm súng đi quanh trại chứng kiến cái cảnh tan hoang mà bão tố và hai kẻ sát sinh ban đêm đã gây nên.


Ngay bên kia hàng rào − hàng rào chỉ còn lại những chiếc cọc chỏng chơ − là xác con ngựa đầu tiên đã bị ăn tới gần một nửa; khoảng trăm bước xa hơn là con thứ hai, mới bắt đầu bị ăn; ngay sau đó là con thứ ba với cái bụng toang hoác và cái đầu vỡ nát. Cả ba con bày ra một cảnh tượng thật kinh khủng, vì mắt chúng hãy còn mở trừng trừng, chứa đầy nỗi hoảng sợ đã bị đờ dại, răng nhe cả ra. Mặt đất bị xéo nát, trong những hõm sâu đọng lại từng vũng máu, Staś  bực bội ước thầm, mong sao từ một lùm cây nào đó nhô ra cái đầu xù lông của tên kẻ cướp no nê sau bữa tiệc đêm, để em có thể xỉa cho hắn một phát đạn vào đầu. Song em đành phải để dành cơn giận cho một dịp sau nào đó, vì giờ đây còn có việc khác phải làm. Cần phải tìm bắt lại những con ngựa còn sống sót. Cậu bé đồ rằng hẳn chúng phải ẩn vào rừng, cũng như con chó Saba, vì không thấy xác của nó đâu cả. Niềm hi vọng người bạn trong khốn cùng này không bị làm mồi cho thú dữ khiến Staś  vui lên, niềm vui của em càng lớn hơn khi tìm lại được chú lừa. Hóa ra con vật thông minh này không thèm nhọc công chạy trốn đâu cho xa. Nó chui xuyên qua hàng rào vào đúng cái góc bị chắn giữa tổ mối và thân cây, và ở đó, sau khi biết là đầu và hai sườn đã được an toàn, nó cứ đứng chờ xem sự tình sẽ diễn biến ra sao, đồng thời sẵn sàng đẩy lùi cuộc tấn công khi cần bằng những cú đá hậu rất dũng mãnh. Nhưng rõ ràng lũ sư tử không trông thấy nó, nên khi mặt trời lên và nỗi nguy hiểm qua đi, nó xem lại đã tới lúc nên ngả lưng nghỉ ngơi chút đỉnh sau những ấn tượng bi thảm của đêm.


Đi vòng quanh khu trại, Staś  tìm ra được dấu chân ngựa in hằn lên một chỗ đất mềm. Dấu chân đi về phía rừng, sau đó ngoặt vào khe núi. Đó là chuyện rất hay, vì trong khe núi việc bắt lại lũ ngựa không phải là chuyện khó. Mươi bước chân nữa, em tìm được trong cỏ sợi dây buộc chân mà một trong số lũ ngựa đã rứt đứt khi chạy trốn. Con này hẳn là đã chạy rất xa, nên tạm thời có thể coi như bị thất lạc. Còn hai con nữa thì Staś  trông thấy sau một tảng đá, nhưng không phải trong lòng khe đá mà ngay trên bờ khe. Một con đang nằm, còn một con đang rứt những cuộng cỏ xanh non màu lục nhạt. Cả hai nom vô cùng mệt nhọc như vừa trải qua một chặng đường dài. Những ánh sáng ban ngày đã xua tan sự sợ hãi trong tim chúng, chúng chào đón Staś  bằng một tiếng hí ngắn đầy thân ái. Con ngựa đang nằm vùng đứng dậy, và Staś  thấy rằng cả con này nữa cũng đã thoát khỏi dây buộc chân và may thay, hẳn là nó thà ở lại với bạn hơn là chạy tháo thân.


Staś  để cả hai dưới chân tảng đá và leo lên bờ khe nhìn xem còn có thể đi tiếp theo lòng khe được hay không. Em thấy rằng do có độ dốc lớn nên nước đã thoát đi hết và lòng khe gần như khô ráo. Một lát sau, em chợt chú ý tới một vật gì trăng trắng mắc vào một dây leo rủ trên vách đá phía đối diện. Hóa ra đó là cái nóc lều bị gió cuốn tới tận đây và vướng chặt vào cây nên nước không cuốn đi được. Dù sao mái lều vẫn cho Nel được chỗ trú thân tốt hơn là một túp lều lợp vội bằng cành cây, nên việc tìm thấy cái mái lều bị mất này khiến Staś  rất vui sướng.


Niềm vui của cậu bé còn tăng lên hơn nữa, khi từ một tảng đá thấp ẩn kín phía sau và cao hơn các dây leo một ít, con chó Saba nhảy xổ ra, mồm cắn một con thú gì đấy, mõm và đuôi của con thú này vắt vẻo hai bên mõm của con chó. Trong nháy mắt con chó khổng lồ đã trèo lên cao và đặt dưới chân Staś  một con linh cẩu lông vằn với cái lưng vỡ nát và một chân bị gặm dở, rồi ve vẩy đuôi và vui vẻ sủa váng lên, như muốn nói: “Tôi xin thừa nhận là đã hèn nhát trước các ông sư tử, quả có như vậy, vì các người cũng phải leo lên cây như lũ chim pentácca kia mà! Nhưng hãy trông đây, tôi cũng không đến nỗi để đêm qua bị phí hoài đâu!”.


Và nó tự hào đến nỗi Staś  phải vất vả mới bảo được nó bỏ con vật hôi thối lại chỗ đó chứ không mang về làm quà cho Nel.


Khi cả hai quay về, một đống lửa lớn đã được đốt lên trong trại, nồi nước đang sôi sùng sục, trong đó đang ninh ngô, hai con chim pentácca và những miếng thịt thăn linh dương. Nel đã được thay quần áo khô, nhưng trông cô bé nhợt nhạt và thảm thương đến nỗi Staś  lo sợ cầm tay cô để xem xem liệu cô bé có bị sốt hay không, rồi hỏi:


− Nel, em làm sao thế?


− Không sao cả, anh Staś , em chỉ buồn ngủ thôi.


− Hẳn rồi. Sau một đêm như thế kia mà. Ơn Chúa, tay em vẫn mát. Ôi, thật là một đêm ra đêm! Tất nhiên là em buồn ngủ, cả anh cũng thế! Nhưng em có cảm thấy ốm không?


− Đầu em hơi nhức.


Staś  đặt tay lên trán cô bé. Trán Nel cũng lạnh như tay, nhưng chính đó lại là biểu hiện của sự kiệt sức và suy yếu, cậu thở dài bảo:


− Em hãy ăn một chút gì nong nóng, rồi sau đó đi nằm ngay. Hôm nay ít nhất thì thời tiết cũng rất đẹp và sẽ không mưa như đêm qua đâu.


Nel nhìn em vẻ sợ hãi.


− Nhưng ta sẽ không trú đêm lại đây chứ anh?


− Không, vì có mấy cái xác ngựa bị gặm dở nằm đây; chúng ta sẽ chọn một cái cây nào khác, hoặc sẽ đi vào khe núi; ở đó ta sẽ dựng hàng rào, một cái hàng rào mà thế giới chưa từng được biết đến. Em sẽ được ngủ yên giấc như hồi ở Port Said vậy.


Nhưng cô bé đã chắp tay và ứa lệ xin hãy đi tiếp, vì ở cái chỗ kinh khủng này, cô không sao chợp mắt nổi và sẽ ốm mất thôi. Và cô bé vừa xin, vừa nhìn vào mắt em mà lặp đi lặp lại: “Được không, anh Staś , được không anh?”, khiến cậu bé có thể đồng ý với tất cả mọi chuyện.


− Thế thì chúng ta hãy đi theo khe núi. − Em nói. − Vì trong khe núi có bóng mát. Nhưng em phải hứa với anh là nếu như em mệt hay kiệt sức thì phải bảo anh ngay nhé.


− Em sẽ không thiếu sức đâu, không thiếu đâu! Anh cứ buộc em vào yên và dọc đường em có thể ngủ say thôi mà.


− Không. Anh sẽ cưỡi cùng một con ngựa với em và sẽ giữ lấy em. Kali và Mêa sẽ cưỡi con ngựa kia, còn con lừa sẽ chở cái lều.


− Hay lắm! Hay lắm!


− Ngay sau bữa sáng em phải ngủ đi một lát. Dù sao chúng mình cũng không thể lên đường trước buổi trưa, bởi còn nhiều việc lắm. Phải bắt lũ ngựa lại, cuốn lều, làm lại các gùi hàng. Chúng mình phải để bớt lại một số đồ đạc, vì chỉ còn vỏn vẹn có hai con ngựa thôi. ít ra cũng phải mất vài tiếng đồng hồ đấy, em cứ ngủ đi một chút để thêm sức. Hôm nay trời nóng, nhưng dưới tán cây không thiếu bóng mát đâu.


− Thế còn anh, Mêa và Kali? Em rất buồn là chỉ mỗi mình em được ngủ trong khi tất cả phải lao động mệt nhoài...


− Bọn anh rồi cũng sẽ có thì giờ. Đừng lo cho anh. Hồi ở Port Said, vào kì thi, anh thường không ngủ hàng đêm liền, thậm chí đến cha anh cũng chẳng biết chuyện đó đâu... Bọn bạn anh cũng không ngủ. Nhưng đó là cánh nam giới, chứ không phải một con ruồi nhỏ bé như em. Em không biết hôm nay trông em ra sao đâu... cứ như bằng thủy tinh ấy! Chỉ còn lại có đôi mắt với mái tóc thôi, còn mặt thì chẳng thấy đâu cả.


Staś  nói đùa nhưng trong lòng thầm lo sợ, vì trong ánh sáng ban ngày, khuôn mặt Nel rõ ràng là mặt của một người ốm, và lần đầu tiên em hiểu rõ, nếu cứ như thế này tiếp diễn mãi thì đứa trẻ tội nghiệp kia không những chỉ có thể mà nhất định phải chết. Nghĩ tới điều đó hai chân em run lên, vì em bỗng cảm thấy, nếu cô bé chết thì em cũng chẳng thiết sống làm gì nữa, chẳng còn quay về Port Said làm gì nữa.


“Vì lúc ấy mình biết làm gì nữa cơ chứ?” − Em nghĩ thầm.


Em quay mặt đi một lúc để Nel không nhận thấy tình thương và sự lo sợ trong ánh mắt em, rồi sau đó em bước tới chỗ những thứ đồ đạc đặt dưới gốc cây, bỏ tấm vải bọc hộp đựng đạn ra, mở hộp đạn và bắt đầu tìm kiếm cái gì trong đó.


Trong hộp ấy, em cất viên thuốc kí ninh cuối cùng trong một cái lọ thủy tinh nhỏ và giữ gìn viên thuốc như giữ gìn con ngươi mắt, đó là viên thuốc dùng cho “giờ phút đen tối”, nghĩa là cho trường hợp Nel bị sốt rét. Nhưng giờ đây em gần như chắc chắn rằng, sau một đêm như thế, cơn sốt đầu tiên sẽ tới ngay, nên em quyết định phải phòng ngừa cơn sốt ấy. Lòng em nặng nề khi quyết định như thế, vì nghĩ tới những gì sẽ xảy ra trong tương lai, và giá như không phải là đàn ông đồng thời là thủ lĩnh của cả đoàn − những người không được khóc − em đã khóc òa lên vì viên thuốc cuối cùng này rồi.


Muốn che giấu xúc động, em bèn lấy vẻ mặt cực kì nghiêm nghị quay lại phía cô bé bảo:


− Nel, trước khi ăn, em hãy uống hết chỗ kí ninh còn lại nhé.


Cô bé hỏi:


− Thế nếu anh bị sốt rét, thì sao?


− Thì anh sẽ run chứ sao. Uống đi, anh bảo phải nghe!


Cô bé uống, không phản đối nữa, vì kể từ khi em giết mấy tên Sudan, cô bé đâm ra hơi sờ sợ em, mặc dù em đã hết sức cố gắng chăm sóc cô bé và biểu lộ lòng tốt với cô. Thế rồi bọn trẻ ngồi ăn sáng. Sau một đêm mệt mỏi, xúp thịt pentácca nóng khiến chúng rất ngon miệng. Ngay sau bữa ăn, Nel thiếp đi và ngủ được mấy tiếng đồng hồ. Trong thời gian đó, Staś , Kali và Mêa chuẩn bị lên đường, mang tấm nóc lều về và chôn lại dưới gốc cây nabắc những thứ mà chúng không thể mang theo. Trong khi làm việc, chúng buồn ngủ díp mắt lại, nhưng Staś  chỉ cho phép mình và hai bạn chợp mắt những giấc ngắn vì sợ rằng mệt quá sẽ ngủ thiếp đi.


Chừng hai giờ chiều chúng lên đường. Staś  giữ Nel ngồi phía trước, Kali cùng Mêa trên con ngựa thứ hai. Nhưng chúng không đi ngay vào khe núi mà đi dọc theo bờ khe và rừng. Rừng non chỉ trong một đêm mưa đã mọc lên tươi tốt trông thấy, song nền đất hãy còn mang màu đen và những dấu vết của lửa. Dễ dàng đoán ra: Hoặc Smain cùng với toán quân của y đã đi ngang qua đây, hoặc là đám cháy mà gió mang từ xa lại đã tràn qua khu rừng khô nỏ cho tới lúc gặp khu rừng ẩm ướt này chắn ngang, nó chỉ tạo thành một vệt không rộng lắm giữa rừng và khe núi để lan tiếp. Staś  muốn kiểm tra xem trên vệt cháy này có dấu vết gì của những lần hạ trại của Smain, hoặc vết móng ngựa hay không, và em hài lòng thấy rằng không hề có dấu vết gì cả. Kali, người vốn thành thạo chuyện đó, khẳng định chắc chắn rằng lửa này do gió mang tới và từ đó đến nay đã hơn mười ngày rồi.


− Điều đó chứng minh là, − Staś  nhận xét, − Gã Smain và quân lính của gã hiện đang ở đâu chẳng ai biết, và dù sao đi nữa mình cũng sẽ không rơi vào tay chúng.


Rồi cùng với Nel, Staś  bắt đầu tò mò ngắm nhìn các loài cây cỏ, từ trước tới nay chúng chưa khi nào được đi sát gần một khu rừng nhiệt đới đến thế. Lúc này chúng đang đi theo bìa rừng để lấy bóng mát của rừng. Đất ở đây ẩm ướt và mềm mại, mọc đầy cỏ xanh đậm, rêu và dương xỉ. Đây đó có những thân cây mục ruỗng màu xám, phủ đầy những cây lan củ, trông giống như một tấm thảm thêu với những bông hoa sặc sỡ như những cánh bướm và một cái núm cũng sặc sỡ giữa đài hoa. Nơi nào ánh nắng mặt trời chiếu tới, ở đó mặt đất lại vàng rực bởi những loài lan kì lạ khác, nhỏ bé, màu vàng, trong đó hai cánh hoa vươn lên cao, bên cạnh cánh thứ ba, trông giống như đầu một loài vật nào đó có những cái tai to dài nhọn hoắt. Một đôi nơi, rừng được trang điểm bởi những bụi nhài dại, kết thành những tràng hoa gồm những dây mỏng mảnh nở hoa hồng. Các khe và hõm cạn mọc dày đặc cây dương xỉ thành một bụi rậm không thể nào vượt qua nổi: Cây thì thấp và xòe rộng, cây lại cao, thân cuốn thành cuộn, vươn mãi tới sát tận những cành cây thấp và xòe ra thành một cái đài màu xanh dịu dàng. Trong sâu, rừng không chỉ thuần một loài cây: có cây chà là, cọ sợi, cọ xòe quạt, sung Ai Cập, mít, xương khô, những loài cây cúc bạc khổng lồ, cây xiêm gai, cây có lá màu sẫm và sáng lóng lánh, cây lá màu nhạt hoặc màu đỏ như máu, mọc cạnh nhau, thân sát thân, cành giao cành, trên đó xòe ra những bông hoa vàng và đỏ sẫm, trông như những giá cắm nến. Một vài khoảng rừng hoàn toàn không hề có cây gỗ nào mọc, vì từ dưới đất lên trên cao là những loài dây leo phủ dày, giằng giữa thân cây này với thân cây khác, tạo nên những đường dích dắc giống chữ M hay W, treo thành những tràng hoa lá, những tấm rèm nhỏ và lớn. Dây cao su họ trúc đào kết thành hàng ngàn vòng hình rắn lượn hầu như bóp chết nghẹt những cây gỗ và biến chúng thành những kim tự tháp phủ đầy hoa trắng như tuyết. Xung quanh những dây leo lớn lại có các dây leo nhỏ hơn quấn quanh và sự chồng chất này quả thực là kinh khủng, tạo nên những bức tường không một con người hay loài vật nào có thể xuyên qua nổi. Chỉ có những chỗ mà voi đã phá thủng − với sức của loài vật này thì không gì cản nổi − những “bức tường” đó mới thông với rừng sâu, tạo nên những hành lang sâu thẳm và khuất khúc.


Hoàn toàn không nghe thấy tiếng chim hót, những tiếng chim làm tăng vẻ kiều diễm của những khu rừng thưa châu Âu, ngược lại, trên các ngọn cây lại vang lên những tiếng kêu kì lạ nhất, khi thì nghe như tiếng cưa rít, khi như tiếng gõ thùng, khi lại như tiếng cò kêu, như tiếng cọt kẹt của những chiếc cửa cũ kĩ, như tiếng vỗ tay, tiếng mèo kêu meo meo, thậm chí như tiếng trò chuyện to tiếng và kích động của con người nữa. Đôi khi, từ trên ngọn cây bay vụt lên những đàn vẹt xám, vẹt xanh, vẹt trắng và hàng đàn chim tucan lông sặc sỡ màu sắc, với những dây cao su đôi khi ẩn hiện − giống như những bóng ma rừng − những con khỉ yếm trắng, cả người đen tuyền trừ cái đuôi trắng và những dải màu trắng cạnh sườn cùng những dải như thế bao quanh khuôn mặt đen như than.


Bọn trẻ kinh ngạc nhìn ngắm khu rừng nguyên sinh này, khu rừng rất có thể chưa từng có cặp mắt người da trắng nào được trông thấy. Chốc chốc, con Saba lại lặn vào rừng, từ trong đó vọng ra tiếng sủa vui vẻ của nó. Liều thuốc kí ninh, bữa ăn sáng và việc nghỉ ngơi đã khiến Nel hồi phục. Khuôn mặt cô bé sinh động hẳn lên và nhuốm phơn phớt những sắc hồng thoang thoảng, đôi mặt nhìn vui hơn. Lát lát cô bé lại hỏi Staś  về tên những loài cây cối hoặc chim chóc, cậu bé trả lời theo sự hiểu biết của cậu. Cuối cùng cô bé nói rằng muốn xuống ngựa để hái thật nhiều hoa.


Song cậu bé mỉm cười đáp:


− Thế thì lũ siaphu sẽ chén thịt em trong nháy mắt.


− Siaphu là giống gì, anh? Nó còn tệ hơn sư tử kia à?


− Vừa tệ hơn vừa không tệ bằng. Đó là một loài kiến bọ nhọt rất to. Chúng bò đầy trên các cành cây, từ đó, chúng rơi xuống lưng người như một cơn mưa lửa. Nhưng chúng cũng bò cả trên đất nữa. Em cứ thử tụt xuống ngựa và đi vào rừng một tí mà xem, chắc chắn em sẽ nhảy cẫng lên và kêu la như một con khỉ con vậy. Thậm chí đối với sư tử còn dễ tự vệ hơn. Đôi khi giống kiến này đi thành những vòng khổng lồ và khi đó mọi vật đều phải nhường đường cho chúng.


− Nhưng anh trị được chúng nó chứ?


− Anh ấy à? Đương nhiên rồi.


− Trị thế nào cơ?


− Dùng lửa hoặc nước sôi.


− Anh khi nào cũng biết cách đối phó! − Cô bé nói đầy tin tưởng.


Những lời đó khiến Staś  rất khoái chí, em bèn đáp lại vẻ vừa tự kiêu nhưng cũng vừa đùa vui:


− Chỉ cần em khỏe thôi, còn ra mọi sự em có thể tin ở anh.


− Đầu em hết cả đau rồi đây này.


− Ơn Chúa, ơn Chúa!


Vừa trò chuyện như thế, chúng vừa đi hết khu rừng, khu rừng này chỉ giáp với khe núi có một bìa rừng mà thôi. Mặt trời đã lên cao hơn và thiêu đốt gay gắt, vì thời tiết thật là tuyệt diệu và vòm trời không một bóng mây. Lũ ngựa ướt đẫm mồ hôi, còn Nel thì mỗi lúc một phàn nàn về tiết trời nóng nực. Vì thế, Staś  tìm một chỗ thích hợp để rẽ vào khe núi, trong đó, vách đá phía tây trải bóng mát che kín. Trong khe mát hơn, và nước mưa còn lại trong các chỗ trũng sau cơn mưa rào hôm qua cũng mát mẻ hơn. Trên đầu những khách bộ hành trẻ tuổi này, những con chim tucan, với các đầu đỏ thắm, bộ ngực màu xanh và những chiếc cánh màu vàng rực cứ bay hoài từ vách đá này sang vách đá khác, nên cậu bé bèn kể cho Nel nghe những điều mình biết về tập quán sinh sống của loài chim này mà cậu đọc được trong sách.


− Em biết không, − Cậu nói, − Có những con tucan trong kì sinh sản đi tìm những hốc cây, con mái đẻ trứng và nằm ấp, còn con trống thì lấy đất sét bịt kín hốc cây lại, chỉ còn một lỗ đủ trông thấy đầu con mái; cho tới khi những con chim non nở hết, nó mới dùng cái mỏ to tướng của mình phá vỡ lớp đất sét để giải phóng con mái.


− Thế trong thời gian ấy con mái ăn gì?


− Con trống sẽ nuôi con mái. Nó cứ bay liên tục xung quanh và mang về cho con mái đủ các thứ quả khác nhau.


− Thế nó có để cho con mái được ngủ không? − Cô bé hỏi với giọng ngái ngủ.


Staś  mỉm cười.


− Nếu quý bà chim tucan cũng buồn ngủ như em lúc này, đương nhiên là ông chồng cho phép bà ta ngủ thôi.


Quả tình, trong khe núi mát mẻ, cô bé buồn ngủ không cưỡng nổi, vì từ sáng tới giờ cô bé được nghỉ quá ít. Staś  cũng rất muốn được ngủ theo, nhưng em không thể ngủ vì còn phải giữ cô bé, sợ cô bé bị rơi xuống ngựa, thêm vào đó, việc ngồi theo kiểu đàn ông trên cái yên vừa phẳng vừa rộng − cái yên mà ông Hatim cùng với Xêki Tamala đã làm riêng cho cô bé hồi còn ở Fasoda khiến em rất khó chịu. Tuy thế, cậu bé không dám nhúc nhích và cho ngựa đi thật chậm để khỏi đánh thức cô bé. Còn cô bé thì ngả người về phía sau, tựa đầu vào vai Staś  ngủ ngon lành.


Cô bé thở đều đặn và bình thản đến nỗi Staś  thôi không còn tiếc viên kí ninh cuối cùng nữa. Vừa lắng nghe nhịp thở của cô bé, vừa cảm thấy rằng nỗi nguy của cơn bệnh sốt rét tạm thời bị đẩy lui, em nghĩ mông lung:


“Khe núi càng ngày càng dẫn lên cao, thậm chí khá dốc lên nữa. Mỗi lúc chúng ta lên một cao và khí hậu càng trở nên khô ráo. Chỉ cần kiếm được một chỗ cao ráo, kín đáo, bên cạnh một con nước xiết để nghỉ ngơi, cho cô bé nghỉ mấy tuần, thậm chí có thể nghỉ qua cả mùa mưa xuân maxica cũng được. Nhiều đứa bé gái hẳn là sẽ không chịu đựng nổi một phần mười những gian khổ như thế, cô bé cần được nghỉ ngơi. Sau cái đêm như đêm qua, đứa khác hẳn đã bị lên cơn sốt ngay lập tức, còn cô bé thì lại ngủ say chưa kìa. Ơn Chúa!”


Những ý nghĩ ấy khiến em rất vui, và nhìn xuống mái đầu của Nel đang tựa vào ngực mình, em tự nhủ thầm, vừa vui vui vừa pha đôi chút ngạc nhiên:


“Điều đặc biệt là mình lại yêu mến cái con ruồi nhỏ này đến thế kia chứ! Quả thực là từ trước đến nay bao giờ mình cũng mến cô bé, nhưng giờ đây thì ngày càng yêu mến nó hơn.”


Và vì không biết lí giải cho bản thân thế nào về những tình cảm ấy, em rơi vào giả thuyết như sau:


“Chắc hẳn là vì cả hai đứa đã cùng trải qua biết bao chuyện mà cô bé thì lại thuộc nhiệm vụ mình phải chăm lo.”


Trong lúc ấy, tay phải cậu bé rất thận trọng giữ lấy thắt lưng của “con ruồi nhỏ” để nó khỏi tụt xuống khỏi yên và khỏi bị giập mất mũi. Bọn trẻ nối nhau đi trong yên lặng, chỉ riêng mình Kali khe khe ngâm nga những lời ca ngợi Staś :


− Ông lớn giết chết Gebhr, giết sư tử, giết cả trâu rừng! Yah! Nhiều nhiều thịt! Yah! Yah!...


− Này Kali − Staś  khẽ hỏi, − Người Vahima có săn sư tử không?


− Người Vahima sợ sư tử, nhưng người Vahima đào những cái hố sâu, và nếu như ban đêm sư tử sụp xuống hố đó, thì người Vahima bèn cất tiếng cười.


− Khi đó các cậu sẽ làm gì?


− Người Vahima phóng thật nhiều ngọn lao, đến khi sư tử trông giống như con nhím. Khi đó họ kéo nó lên khỏi hố và ăn thịt. Thịt sư tử ngon lắm.


Và theo tập quán của mình, nó lại xoa xoa bụng.


Cách săn thú này không thật khiến Staś  thú vị nên em bắt đầu hỏi thêm xem có những loài thú nào có trên lãnh thổ của người Vahima, và chúng trò chuyện với nhau về những con linh dương, đà điểu, hươu cao cổ và lũ tê giác cho đến khi tai chúng thoảng nghe thấy tiếng thác nước reo.


− Cái gì thế? − Staś  kêu lên. − Có phải trước mặt chúng ta là một con sông và có thác nước chăng?


Kali gật đầu ra hiệu rằng chắc là thế đấy.


Chúng bước những bước dài hơn và lắng nghe tiếng nước réo, tiếng nước mỗi lúc một rõ hơn.


− Thác thật rồi! − Staś  thú vị thốt lên.


Song, vừa vượt qua một rồi hai chỗ ngoặt thì một chướng ngại vật không thể vượt qua nổi đã chắn ngang đường đi của chúng.


Lúc này, Nel − vốn được bước chân của ngựa ru ngủ − cũng tỉnh dậy.


− Ta đã tới chỗ trú đêm rồi ư, anh? − Cô bé hỏi.


− Chưa, nhưng em nhìn này! − Staś  đáp. − Một khối đá đã bịt kín khe núi.


− Làm sao bây giờ?


− Không thể đi len qua bên cạnh được vì quá chật, nên có lẽ phải quay ngược lại một đoạn, trèo lên bờ khe mà đi vòng qua thôi. Song cũng còn chừng hai tiếng đồng hồ nữa mới tối nên chúng ta hẵng còn thì giờ. Cứ để cho lũ ngựa nghỉ xả hơi chút đã. Em có nghe tiếng thác không?


− Có.


− Chúng mình sẽ dừng lại nghỉ đêm bên cái thác này. Rồi quay sang Kali, cậu bé bảo nó leo lên bờ khe núi trông xem ở đoạn tiếp theo đáy khe có bị những chướng ngại vật tương tự chắn ngang hay không, còn tự mình, cậu chăm chú quan sát khối đá, và lát sau reo lên:


− Nó bị tách ra và lăn xuống cách đây chưa lâu đâu. Em thấy không Nel, vệt tách này này? Nhìn này, nó hãy còn mới lắm. Trên mặt đá không hề có một chút rêu cỏ nào cả. Anh hiểu ra rồi, anh hiểu rồi!


Cậu bé đưa tay trỏ cho Nel thấy một cái cây bao báp mọc trên bờ khe, một cái rễ to tướng của cây này rủ lơ lửng trên vách đá dọc theo vết đứt gãy.


− Chính cái rễ kia kìa đã chọc sâu vào giữa vách đá và tảng đá này cứ lớn lên mãi, và cuối cùng khiến cho khối đá tách ra. Chuyện này thật thú vị, vì đá vốn cứng hơn gỗ, nhưng anh biết rằng, trong núi đấy là chuyện thường tình. Sau đó, chỉ cần bất cứ một cái gì chạm vào tảng đá đang lắt léo ấy là nó liền tách hẳn ra.


− Nhưng cái gì có thể đụng vào nó hả anh?


− Cũng khó mà nói được. Có thể là một cơn dông trước đây mà cũng có thể là cơn dông hôm qua.


Chính vào lúc đó, con chó Saba − lúc trước vẫn chạy phía sau bọn trẻ − bỗng chạy tới, đứng dừng lại đột ngột như bị ai cầm đuôi lôi lại, đánh hơi, rồi ép người len qua cái lối đi chật hẹp giữa vách đá và tảng đá bị tách ra, nhưng lập tức nó lùi ngay trở lại, lông xù cả lên.


Staś  xuống ngựa để xem cái gì khiến con chó sợ hãi đến thế.


− Anh Staś , đừng đi vào đó. − Nel khẩn khoản. − Có thể có sư tử ở trong ấy đấy!


Cậu bé, vừa hơi tự phụ, vừa rất căm bọn sư tử sau đêm hôm trước, bèn nói:


− Sư tử ban ngày thì mùi gì.


Nhưng trước khi cậu kịp bước lại gần khe hở thì từ trên cao đã vang lên tiếng kêu của Kali:


− Ông lớn! Ông lớn ơi!


− Cái gì thế? − Staś  hỏi.


Trong nháy mắt cậu bé da đen đã tụt theo dây leo xuống. Cứ trông nét mặt cũng có thể đoán ra là nó mang lại một tin quan trọng.


− Voi! − Nó kêu lên.


− Voi à?


− Vâng! − Cậu bé da đen vừa vung tay chỉ trỏ. − Kia là con nước gầm, còn đây là tảng đá. Voi không thể qua được. Ông lớn giết voi để Kali ăn thịt. Ôi, ăn thịt, ăn thịt!


Ý nghĩ ấy khiến nó vui sướng đến nỗi nó bắt đầu nhảy nhót, vỗ tay đen đét vào đầu gối và cười như điên dại, mắt đảo lia lịa, phô hàm răng trắng nhởn.


Staś  không hiểu ngay vì sao Kali lại bảo rằng voi không thể thoát ra khỏi khe núi, và muốn xem xem có chuyện gì xảy ra, cậu bèn lên ngựa, giao Nel lại cho Mêa trông để khi cần có thể nổ súng mà không bận tay, ra lệnh cho Kali ngồi sau lưng, rồi cả bọn quay ngược trở lại tìm chỗ có thể leo lên bờ khe. Dọc đường Staś  hỏi lại xem con voi làm sao lại rơi vào chỗ mà nó đang mắc kẹt, và qua những câu trả lời của Kali, em ít nhiều hiểu được chuyện xảy ra thế nào.


Hẳn là con voi đã chạy theo khe núi trong một vụ cháy rừng nào đó để tránh lửa. Dọc đường nó động mạnh vào một khối đá cheo leo trên lưng chừng khe khiến cho khối đá lăn xuống chặn mất đường lui của nó. Sau đó, nó chạy tới bờ vực thẳm, nơi con sông đổ xuống, và thế là nó bị giam không lối thoát.


Một lát sau, những người bộ hành trẻ tuổi tìm thấy lối lên nhưng khá dốc nên chúng phải xuống ngựa và dắt ngựa theo sau. Và vì rằng, theo lời cậu bé da đen thì sông rất gần đấy chúng bèn tiếp tục đi bộ tới đấy. Cuối cùng tới một mũi đất, một phía bị giới hạn bởi sông, phía kia bởi khe núi, và trông xuống phía dưới, chúng nhìn thấy một con voi đang ở trong thung lũng.


Con vật khổng lồ đang nằm phủ phục, và Staś  ngạc nhiên xiết bao vì khi trông thấy cậu, con voi không hề nhổm dậy, chỉ tới khi con Saba len ra sát tận mép vực sủa lên dai dẳng, thì voi ta mới động đậy hai cái tai khổng lồ một chút và giơ vòi lên, nhưng rồi lại thả xuống ngay.


Tay cầm tay. Bọn trẻ im lặng ngắm con voi cho đến lúc Kali phá vỡ sự im lặng đó:


− Nó đang chết đói đấy! − Cậu bé kêu lên.


Quả thực, con voi gầy đến nỗi sống lưng nó nhô cả lên như một chiếc lược, hai sườn nó hõm sâu vào, và mặc dù có lớp da dày, song trông rõ dưới da là những chiếc xương sườn. Dễ dàng có thể đoán ra rằng, nó không đứng dậy vì không còn đủ sức nữa.


Khe núi, vốn khá rộng ở chỗ đổ ra, đã biến thành một cái lòng thung hai đầu bị chặn bởi hai vách đá dựng đứng, lòng thung mọc mấy cây gỗ. Những cây này đều gãy cả, vỏ chúng bị lột từng mảng, trên cành không còn một chiếc lá nào. Những dây leo trên vách đá cũng bị lôi tuột xuống và bị chén sạch, trong thung, cỏ bị nhổ đến tận cuộng cuối cùng.


Nhìn kĩ địa thế, Staś  chia sẻ với Nel những điều nhận định của mình, song dưới ấn tượng về cái chết không thể tránh khỏi của con vật khổng lồ, em nói rất khẽ, dường như sợ làm xáo động những giây sống cuối cùng của con vật.


− Phải, nó đang chết đói. Nó ở đây phải đến hai tuần rồi, nghĩa là kể từ khi đám cháy thiêu trụi khu rừng cũ. Nó đã ăn sạch mọi thứ có thể ăn được, còn giờ đây thì nó đang ngắc ngoải, mà đáng buồn hơn vì phía trên này lại có mít mọc cùng những cây xiêm gai sum sê, nó trông thấy đấy mà không sao có thể với tới được.


Bọn trẻ nhìn con vật một hồi lâu nữa, con voi cũng đưa mắt − đôi mắt nhỏ bé đang tắt dần − nhìn bọn trẻ, và một thứ tiếng gì đó gần giống như tiếng gừ gừ thoát ra từ cổ họng nó.


− Quả tình, − Cậu bé nói, − Tốt hơn cả nên rút ngắn cho nó bớt nỗi đau khổ này đi thôi.


Nói thế xong, em nâng khẩu súng lên ngang mặt, nhưng Nel đã túm lấy cái áo ngoài của em và tì chặt hai chân nhỏ bé của mình, cô bé dùng hết sức kéo em ra xa bờ khe núi.


− Anh Staś , đừng làm thế! Anh Staś , chúng mình cho nó ăn đi, anh! Trông nó tội nghiệp thế kia mà! Em không muốn anh giết nó, không muốn, không muốn!


Giậm giậm hai bàn chân, cô bé cứ co kéo mãi, còn cậu bé thì kinh ngạc nhìn cô bé, nhưng khi trông thấy đôi mắt đẫm lệ của cô bé, cậu liền bảo:


− Nhưng mà Nel...


− Em không muốn! Không cho giết nó! Em sẽ bị lên cơn sốt ngay lập tức nếu anh giết chết nó!...


Chỉ cần có một lời đe dọa đó thôi cũng khiến cho Staś  từ bỏ ý định giết chóc của mình − đối với riêng con voi đang ở trước mặt bọn trẻ cũng như đối với tất cả những con voi khác trên thế giới. Cậu im lặng một lúc không biết nên nói với cô bé thế nào, sau đó bảo:


− Thôi, được rồi, được rồi!... Anh bảo em, Nel, được rồi! Bỏ anh ra nào!


Nel liền ôm chặt lấy cậu bé và một ánh cười thoáng qua trong đôi mắt rưng rưng của cô. Bây giờ cô bé chỉ lo sao cho con voi có cái ăn thật nhanh. Kali và Mêa ngạc nhiên vô cùng khi được biết rằng, không những “ông lớn” bvana kubva không giết con voi, mà hai đứa còn phải nhanh chóng hái mít và chặt lá cây xiêm gai cùng đủ mọi loại cây cỏ và lá lủng khác, thật nhiều, càng nhiều càng tốt, cho voi ăn. Thanh gươm Sudan của tên Gebhr thật có ích đối với Kali trong việc ấy, nhưng không muốn chờ cho công việc này kết thúc, mà ngay khi quả mít đầu tiên vừa rơi xuống, cô bé liền ôm lấy trong vòng tay và mang tới bên bờ khe núi, vừa mang vừa lặp đi lặp lại một cách láu táu, dường như sợ ai đó sẽ không chịu giao việc này cho cô:


− Em, em, em làm cơ!


Staś  hoàn toàn không có ý định cướp mất của cô bé niềm sung sướng này, cậu chỉ lo là do quá nhiệt tình, cô bé có thể lao cả bản thân mình xuống cùng với quả mít chăng, nên cậu bèn tóm lấy thắt lưng cô bé và kêu lên:


− Ném!


Quả mít to tướng lăn theo sườn dốc đứng rơi xuống chân con voi, chỉ trong nháy mắt, con vật đã vươn vòi túm lấy quả mít, rồi cuộn vòi lại như muốn đặt quả mít dưới cổ − và bọn trẻ chỉ kịp nhìn thấy quả mít đến thế là hết.


− Nó nuốt chửng rồi! − Nel sung sướng kêu lên.


− Anh cũng đoán thế mà! − Staś  vừa cười vừa đáp.


Còn con voi thì vươn vòi về phía nó như muốn xin thêm và cất giọng trầm hùng kêu lên:


− Hrrum!


− Nó muốn xin nữa đấy!


− Anh cũng đoán thế! − Staś  lặp lại.


Quả mít thứ hai đi theo vết quả thứ nhất và cũng mất hút trong nháy mắt như quả trước, tiếp đó là quả thứ ba, thứ tư, thứ mười, rồi sau đó từng chùm ngọn cây xiêm gai, từng bó cỏ và những bó lá lớn bắt đầu tới tấp bay xuống. Nel không để cho ai thay thế, khi tay đã quá mỏi vì công việc, cô bé dùng chân đẩy xuống mỗi lúc một nhiều thức ăn mới, còn voi ta thì cứ chén tuốt, thỉnh thoảng lại vươn cái vòi lên kêu một tiếng “Hrrum” ra dấu đòi nhiều thêm nữa, và theo Nel thì đó là nó nói “cảm ơn”.


Cuối cùng, Kali và Mêa mệt nhoài vì việc tiếp tế lương thực này, công việc mà chúng làm rất nhiệt tình nhưng với hi vọng rằng “ông lớn” trước tiên muốn vỗ béo cho voi rồi sau đó mới giết thịt. Mãi sau, “ông lớn” mới ra lệnh cho chúng ngừng việc vì mặt trời đã xuống quá thấp rồi và đã tới lúc phải dựng hàng rào gai. May thay, việc đó không khó khăn gì lắm, vì hai cạnh của doi đất hình tam giác là những phía không thể tấn công được, chỉ cần chặn hàng rào ở cạnh thứ ba mà thôi. Mà cây xiêm gai với những chiếc gai ác hiểm thì lại không thiếu.


Nel không rời khỏi khe núi lấy một bước. Ngồi xổm trên bờ khe, cô bé thông báo từ xa cho Staś  biết con voi đang làm gì, và cứ chốc chốc giọng thanh thanh của cô bé lại vang lên:


− Nó đang dùng vòi sờ chung quanh mình!


Hoặc là:


− Nó vẫy tai. Cái tai nó to chưa kìa!


Rồi sau nữa:


− Anh Staś ! Anh Staś ! Nó đứng dậy rồi này! ối!


Staś  nhanh nhẹn lao tới nắm chặt tay Nel. Quả thực con voi đã đứng dậy và mãi tới lúc này bọn trẻ mới có thể thấy hết được sự đồ sộ của nó. Trước kia, chúng nó đã mấy lần được trông thấy những con voi to lớn được chở từ ấn Độ sang châu Âu qua kênh Xuê, nhưng không có con voi nào sánh được với con vật khổng lồ này, con vật trông như một khối đá màu khó tả đi trên bốn chân. Nó khác những con voi khác bởi cặp ngà phi thường, dài tới năm bộ hoặc hơn nữa, và đôi tai, mà như Nel lưu ý − trông thật là thần thánh. Hai chân trước của nó cao hơn nhưng lại khá mảnh khảnh, hẳn là do nó vừa phải trải qua một cuộc nhịn ăn nhiều ngày ròng rã.


− Trông nhỏ bé chưa kìa! − Staś  kêu lên. − Nếu nó vươn người lên và rướn vòi thật lực thì nó có thể tóm được chân em đấy.


Nhưng “chân” khổng lồ không hề nghĩ tới việc leo lên hay tóm lấy chân ai cả. Bằng bước đi chuệnh choạng, nó bước tới gần họng khe núi, nhìn một lúc xuống vực, nơi nước đang sủi lên sôi sục rồi quay trở lại vách đá nằm gần thác nước hơn, đưa vòi xuống nhúng nước thật sâu và bắt đầu uống.


− May cho nó − Staś  bảo, −Là vòi có thể chạm tới nước, nếu không nó đã chết rồi.


Con voi uống nước lâu lắm, đến nỗi cô bé phát lo.


− Anh Staś  này, nó uống thế có hại gì không anh? − Cô bé hỏi.


− Anh không rõ. − Cậu bé cười cười đáp lại. − Nhưng nếu em đã cưu mang nó thì em phải bảo nó đi chứ.


Thế là Nel cúi mình xuống bờ vực gào lên:


− Thôi đi, voi thân yêu ơi, đủ rồi đấy!


Và “chàng” voi thân yêu, dường như hiểu cô bé muốn gì, liền thôi uống và bắt đầu dùng vòi phun nước lên mình: đầu tiên là chân, sau tới lưng rồi hai bên sườn.


Lúc đó trời đã tối hẳn, Staś  bèn đưa cô bé vào trong hàng rào, nơi bữa tối đang chờ hai đứa.


Cả hai rất sung sướng, Nel vui vì đã cứu con voi thoát chết, còn Staś  vui vì nhìn thấy đôi mắt long lanh như hai vì sao và khuôn mặt trông tươi tỉnh và khỏe khoắn nhất kể từ khi rời khỏi Chartum. Thêm vào đó, cậu bé còn hài lòng vì tự cho phép mình một đêm ngủ thật ngon và thật yên. Mũi đất có hai phía hoàn toàn khó xâm phạm tới đã tránh cho bọn trẻ khỏi bị tấn công, còn phía thứ ba thì Kali và Mêa đã dựng một bức tường cao bằng những cành xiêm gai đầy gai góc và những cây lạc tiên, khiến không một loài thú dữ nào có thể vượt qua nổi. Thêm vào đó, trời lại rất đẹp, sau lúc mặt trời lặn, bầu trời trải đầy sao. Thật dễ chịu khi được hít thở bầu không khí man mát do có thác nước kề bên, làm không khí thấm đượm hơi rừng và mùi những cành cây tươi vừa bị chặt.


“Con ruồi con này sẽ không bị sốt rét đâu!” − Staś  vui sướng nghĩ thầm.


Rồi bọn trẻ bắt đầu trò chuyện về con voi, vì Nel không thể nói chuyện gì khác cả, cô bé không ngớt lời ca ngợi tầm vóc của nó, cũng như kích thước của cái vòi và cặp ngà, những thứ này quả thực là khổng lồ. Cuối cùng cô bé hỏi:


− Anh Staś  nhỉ, đúng là nó thông minh ghê, phải không anh?


− Như vua Xalômông vậy. − Staś  đáp. − Nhưng tại sao em lại bảo thế?


− Vì em vừa mới bảo nó đừng uống nước nữa thế là nó vâng lời em ngay.


− Nếu như trước đó nó không học tiếng Anh mà lại hiểu được, thì rõ ràng nó là con vật tuyệt diệu rồi.


Nel hiểu là Staś  muốn đùa liền xì với anh như một chú mèo rồi bảo:


− Anh muốn nói thế nào thì nói, nhưng em tin chắc là nó rất thông minh và sẽ thuần ngay thôi.


-   Không biết nó có thuần hay không, nhưng chắc là thuần được. Voi Phi châu hoang dã hơn voi á châu, nhưng anh cho rằng tướng Haniban đã từng sử dụng con Phi châu.


− Haniban là ai, anh?


Staś  nhìn em vẻ khoan dung nhưng thương hại:


− Dĩ nhiên, − Cậu nói, − ở vào tuổi em thì chưa biết tới những chuyện như thế. Haniban là một tướng tài của người Cáctagin, người đã sử dụng voi trong cuộc chiến đấu chống quân La Mã, vì ở xứ Cáctagin thuộc Phi châu nên chắc ông ta phải sử dụng voi Phi châu...


Một tiếng voi rống dữ dội làm gián đoạn câu chuyện của chúng, con voi đã ăn uống đẫy bắt đầu rống lên, không rõ vì vui sướng hay vì buồn nhớ đến một sự tự do hoàn toàn hơn. Saba bật dậy và bắt đầu sủa vang, còn Staś  nói:


− Em sướng nhé. Bây giờ nó mới gọi bạn bè đến. Chúng ta sẽ sướng tỉnh người nếu như cả đàn cả lũ chúng nó kéo tới!


− Nó sẽ bảo những con voi khác rằng chúng mình đã đối xử tốt với nó! − Nel vội bảo.


Song bản thân Staś  cũng không lo lắng thật sự vì em tính rằng, nếu như cả đàn voi có kéo tới thật đi nữa thì ánh lửa cũng sẽ khiến chúng phải sợ. Em bèn mỉm cười ương bướng và bảo:


− Được rồi, được rồi! Nhưng nếu như lũ voi mà xuất hiện thì em chẳng khi nào khóc vì sợ đâu, phải không, có điều là mắt em lại đổ mồ hôi như hai lần trước cho mà xem!


Rồi cậu bắt đầu nhại cô bé: “Em có khóc đâu, mắt em đổ mồ hôi đấy thôi...”


Nhìn thấy nét mặt vui vẻ của anh, Nel đoán ra là không có nỗi nguy hiểm nào đe dọa.


− Khi nào chúng mình thuần được nó, − Cô bé nói, − thì mắt em sẽ không đổ mồ hôi nữa đâu, dù cho cả mười con sư tử cùng gầm lên một lúc.


− Tại sao?


− Vì nó sẽ bảo vệ chúng mình.


Staś  bảo con Saba im vì cho tới lúc này con chó vẫn không ngừng đấu khẩu với con voi, sau đó em ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:


− Em không nghĩ tới một điều, Nel ạ, chúng mình có dừng lại đây mãi mãi đâu cơ chứ, chúng mình sẽ đi tiếp cơ mà... Anh không bảo là đi ngay... Chúng mình sẽ ở lại đây một thời gian: Chỗ này đẹp và lành, anh định sẽ ở lại đây... có thể là một tuần, có thể là hai, vì em cũng như tất cả chúng mình còn nuôi nấng con voi, mặc dù đó là một việc nặng nhọc đấy. Nhưng nó bị giam và chúng ta đâu có thể đưa nó đi theo được. Còn sau này thì sao? Chúng mình ra đi, còn nó ở lại, nó sẽ lại bị khổ sở vì đói cho tới khi chết. Khi đó chúng mình sẽ càng thương tiếc nó nhiều hơn...


Nel rất buồn, cô bé ngồi thừ ra một lúc lâu, không biết nói gì để đáp lại những lời lưu ý rất đúng đắn kia, nhưng một lát sau, cô bé hất mớ tóc xõa xuống mắt, đưa cặp mắt đầy tin cậy nhìn cậu bé:


− Em biết, − Cô bé nói, − Nếu anh muốn, anh có thể giải thoát nó ra khỏi khe núi.


− Anh á?


Cô bé chìa một ngón tay ra chạm vào tay Staś  nhắc lại:


− Chính anh!


Người phụ nữ nhỏ xíu và khôn ngoan này hiểu rằng sự tin tưởng của mình khiến cậu bé vui sướng, và từ giây phút ấy trở đi, cậu bắt đầu nghĩ cách giải thoát cho con voi.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz – Nobel văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »