tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21091304
Tiểu thuyết
20.11.2016
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm



Chương 26


Đêm trôi qua êm ả, mặc dù chân trời phía nam đầy mây, nhưng buổi sáng lại vẫn đẹp trời. Theo lệnh Staś , Kali và Mêa sau khi ăn sáng xong liền lo việc thu thập những quả mít, những chùm ngọn xiêm gai, các thứ lá và cỏ tươi cùng những loại thức ăn khác cho con voi rồi mang tới bên bờ khe núi. Vì Nel muốn tự mình cho người bạn mới ăn, nên Staś  bèn đẵn cho cô bé một cành vả có chạc như một cái nạng gẩy rơm để cô bé dễ đẩy các thứ thức ăn xuống lòng khe hơn. Con voi lên tiếng từ sáng sớm, hẳn là nó đòi ăn, và khi nhìn thấy trên bờ vực hiện ra cái sinh linh màu trắng hôm qua đã cho nó ăn, nó bèn đón chào bằng một tiếng gừ gừ vui sướng và lập tức vươn vòi về phía cô bé. Trong ánh sáng ban mai, bọn trẻ thấy nó càng to lớn hơn so với hôm qua. Nó gầy vô cùng, nhưng trông đã tỉnh táo hơn và đôi mắt nhỏ bé nhanh nhẹn quay về phía Nel trông đã gần như vui vẻ. Thậm chí, Nel còn khẳng định rằng, qua một đêm, cặp chân trước của nó nom đã đầy đặn hơn lên, cô bé bắt đầu hẩy thức ăn một cách nhiệt tình đến nỗi Staś  phải hãm bớt lại, và sau rốt khi cô bé đã thở hổn hển vì mệt, Staś  phải vào thay. Cả hai vui chơi thỏa thuê, đặc biệt, tính khí “đỏng đảnh” của con voi khiến cho cả hai thú vị hơn cả. Ban đầu nó chén sạch sành sanh mọi thứ gì rơi xuống chân nó, nhưng sau khi đã dịu bớt cơn đói, nó bắt đầu chọn lựa thức ăn. Khi vớ phải thứ cỏ không ngon miệng lắm, nó bèn đập vào chân trước rồi dùng voi tung lên trên cao như muốn bảo: “Các người hãy xơi lấy thứ của ngon này đi xem nào!” Rồi cuối cùng, sau khi đã hết cơn đói khát, nó bắt đầu ve vẩy đôi tai khổng lồ với vẻ hài lòng.


− Em chắc rằng, − Nel nói, − Nếu bây giờ chúng mình có tụt xuống dưới đó nó cũng không làm gì chúng mình đâu.


Và cô bé cất tiếng gọi:


− Voi ơi, voi thân yêu ơi, có phải mày sẽ không làm gì hại chúng tao phải không?


Khi con vật gật gật cái vòi để đáp lại, cô bé liền quay sang Staś :


− Anh thấy chưa, nó trả lời ừ rồi đấy!


− Cũng có thể. − Staś  đáp. − Voi là giống vật rất thông minh, và rõ ràng con voi này đã hiểu được là chúng mình cần thiết cho nó. Ai biết đâu đấy, có thể nó còn cảm thấy phần nào biết ơn chúng mình nữa cũng nên. Nhưng tốt nhất là chớ có thử, đặc biệt là Saba đừng nên thử làm gì, nó sẽ giết con chó ngay đấy. Dần dần rồi chúng nó sẽ quen với nhau cũng nên.


Kali ngắt quãng những lời khen ngợi của hai đứa dành cho con voi, cậu bé da đen đã thấy được rằng nó sẽ phải lao động cật lực hàng ngày trong tương lai để nuôi sống con vật khổng lồ, nên tiến lại gần Staś  với nụ cười cầu xin và nói:


− Ông lớn giết con voi đi, Kali ăn thịt nó, thay vì phải kiếm cỏ và lá cây cho nó.


Nhưng “ông lớn” đang ở xa ý định giết voi hàng trăm dặm rồi, thêm vào đó vốn tính sôi nổi bèn đáp lại ngay không cần suy nghĩ:


− Cậu là con lừa!


May thay, cậu bé quên mất tiếng “con lừa” theo ngôn ngữ Ki Xvahiti là gì nên nói bằng tiếng Anh là donkey. Còn Kali, vốn không hiểu tiếng Anh, nghĩ rằng từ này hẳn là một lời khen ngợi hay khuyến khích gì đó, nên một lát sau hai trẻ nghe thấy tiếng cậu bé da đen đang nhiệt tình nói với Mêa:


− Mêa có nước da đen và cái óc đen, còn Kali là donkey.


Rồi nó nói thêm vẻ tự hào:


− Chính ông lớn bảo rằng Kali là donkey đấy!


Staś  dặn dò hai đứa phải trông nom cô chủ như con ngươi trong mắt, nếu có chuyện gì phải gọi cậu ngay lập tức, rồi cầm khẩu súng tiến về phía khối đá bị tách ra đang đóng kín khe núi. Đến nơi, cậu xem xét tảng đá thật kĩ lưỡng, chăm chú nghiên cứu mọi chỗ nứt vỡ, thọc cây vào cái khe tìm thấy phía dưới khối đá đo cẩn thận độ sâu của nó, rồi thong thả bước về phía trại, vừa đi vừa mở hộp đựng đạn ra đếm.


Cậu vừa tính được tới gần ba trăm thì từ trên cây bao báp mọc cách lều chừng năm mươi thước có tiếng Mêa gọi to:


− Ông chủ, ông chủ ơi!


Staś  tiến gần lại cái cây khổng lồ mà thân cây ở gần mặt đất đã bị ruỗng, trông như một cái tháp và hỏi:


− Gì thế?


− Cách đây không xa có nhiều ngựa vằn, còn xa hơn nữa là linh dương.


− Được rồi. Tôi sẽ lấy súng đi bây giờ, phải kiếm ít thịt chứ. Nhưng sao cô lại leo lên cây làm gì trên ấy?


Cô gái bèn đáp lại bằng giọng buồn bã nghe như hát:


− Mêa trông thấy tổ vẹt xám nên muốn mang về cho cô chủ, nhưng tổ đã rỗng không, thế là Mêa không được thưởng chuỗi hạt cườm đeo ở cổ rồi.


− Cô sẽ được thưởng vì có lòng yêu cô chủ.


Cô bé da đen nhanh như sóc leo xuống dọc thân cây nhiều cành, mắt sáng long lanh lặp đi lặp lại:


− Ôi, đúng, đúng lắm! Mêa yêu cô chủ, và yêu cả chuỗi hạt nữa mà.


Staś  âu yếm vuốt tóc cô bé, rồi lấy súng, đóng hộp đạn và đi về phía lũ ngựa vằn đang gặm cỏ. Nửa giờ sau, tiếng súng vọng tới trại, và sau một giờ, cậu bé thợ săn quay về với tin là đã bắn được một con ngựa vằn non, và trong vùng lân cận đấy có rất nhiều loài thú ăn cỏ, bởi trên một chỗ cao, ngoài ngựa vằn và hàng đoàn linh dương ra, cậu còn trông thấy nhiều oatơbúc, tức là những đàn dê nước đang ăn gần sông.


Rồi Staś  bảo Kali lấy ngựa đi chở con thịt săn được về, còn cậu bé thì chăm chú xem xét cái thân khổng lồ của cây bao báp, đi vòng quanh nó và dùng báng súng gõ gõ vào vỏ cây.


− Anh làm gì thế? − Nel hỏi. Cậu bé trả lời:


− Em trông này, to ghê chưa? Mười lăm người nắm tay nhau cũng không ôm xuể, thân cây này có thể còn chứng kiến cả thời các vua Pharaon kia đấy! Nhưng phần dưới thân cây đã bị ruỗng và trống rỗng cả. Em thấy cái lỗ này không? Qua lỗ này có thể vào được bên trong đấy. Chúng mình có thể dùng nó làm một cái nhà lớn để ở. Anh nghĩ ra điều đó khi thấy Mêa đang leo trong đám cành lá, rồi sau đó, trong khi đi săn ngựa vằn, anh cứ nghĩ mãi về chuyện đó.


− Nhưng chúng mình sẽ đi tới Abixinia kia mà, anh?


− Phải, nhưng cũng cần phải nghỉ ngơi đã, và như hôm qua, anh đã nói với em, anh quyết định sẽ dừng lại đây chừng một hay hai tuần lễ. Em không muốn rời bỏ con voi, còn anh thì lại lo cho em trong mùa mưa này. Mùa mưa đang bắt đầu và chẳng bao lâu nữa thì chuyện sốt rét là cầm chắc. Hôm nay trời đẹp, nhưng em thấy không, mây mỗi lúc một dày hơn, biết đâu trước khi trời tối sẽ mưa cũng nên. Cái lều không đủ che mưa cho em, còn trong thân cây bao báp, nếu như nó không rỗng lòng cho tới tận ngọn, thì chúng mình có thể chấp cả những cơn mưa rào lớn nhất. ở trong đó cũng sẽ an toàn hơn trong lều vì đến đêm chỉ cần dùng gai bịt kín lỗ hổng và cái cửa sổ mà chúng mình sẽ trổ để lấy thêm ánh sáng, là chúng mình có thể mặc bọn sư tử gào thét xung quanh, bao nhiêu con cũng mặc. Mùa mưa xuân không kéo dài quá một tháng, và càng ngày anh càng nghĩ là chúng ta sẽ phải chờ cho nó qua đã. Mà nếu thế thì nên ở lại đây hơn là một nơi nào khác, và nên ở trong cây bao báp hơn là ở trong lều.


Nel vốn đồng ý với tất cả những gì Staś  muốn, nên bây giờ cô bé cũng đồng ý; thêm nữa, ý nghĩ được ở lại bên cạnh con voi và lại được sống trong ruột cây bao báp khiến cô bé rất khoái chí. Cô bé liền nghĩ xem sẽ bày biện các phòng như thế nào, sẽ sắp đặt chúng ra sao, bọn trẻ sẽ mời nhau ăn bữa chiều và bữa trưa thế nào. Rốt cuộc cả hai đứa trẻ cùng thích thú, còn Nel thì muốn xem xét ngay lập tức ngôi nhà mới, nhưng Staś  − người ngày càng thu được nhiều kinh nghiệm sống và càng trở nên từng trải hơn − liền ngăn cô bé lại.


− Trước khi chúng ta vào ở trong đó, − em bảo, − Cần phải mời các vị chủ nhân ở trước ra đi đã, nếu như trong đó có các vị chủ nhân như thế.


Nói rồi, cậu bé bảo Mêa ném vào lòng cây bao báp mấy cành cây đang cháy và tỏa khói mù mịt.


Hóa ra em đã hành động đúng, vì ruột cái cây khổng lồ này vốn đã có các vị chủ nhân khác cư trú từ trước, các vị chủ nhân mà người ta khó chờ đợi ở họ lòng mến khách.


 


Chương 27


Trong cây gỗ có hai lỗ: một lỗ rộng rãi cách mặt đất chừng nửa mét, lỗ thứ hai nhỏ hơn, nằm ở chiều cao của tầng hai các ngôi nhà thành phố. Mêa vừa ném vào lỗ phía dưới mấy cành cây đang cháy tỏa khói mù mịt thì từ lỗ phía trên liền bay vọt ra những chú dơi to tướng. Bị quáng mắt vì ánh sáng mặt trời, chúng kêu rít lên, bay như điên dại chung quanh thân cây. Lát sau từ lỗ phía dưới, vị chủ nhà chính lao ra như một tia chớp, đó là một con trăn khổng lồ. Hình như trong trạng thái nửa thức nửa ngủ, nó đang tiêu hóa nốt bữa tiệc vừa xơi thì bị khói xộc vào mũi nên choàng tỉnh dậy và tìm cách tháo thân. Thấy cái thân hình rắn như sắt tựa một thanh lò xo lao vọt ra từ cái hốc cây nghi ngút khói, Staś  liền bế thốc Nel trên tay chạy thục mạng về phía cửa rừng. Nhưng chính con bò sát ấy cũng kinh hoàng không kém. Chẳng nghĩ gì tới chuyện đuổi theo lũ trẻ, nó quằn mình trong cỏ và những gói đồ đạc đang mở tung, lao nhanh như chớp về phía khe núi, hẳn là muốn náu mình trong các tảng đá và khe nứt. Bọn trẻ hoàn hồn lại. Staś  đặt Nel xuống đất vọt tới lấy súng chạy theo sau con trăn về phía khe, còn Nel cũng chạy theo sau. Nhưng chỉ được hơn chục bước chân, chúng nhìn thấy một cảnh tượng khiến chúng đứng sững như trời trồng. Trong chớp mắt, thân hình con trăn hiện ra rất cao trên vùng khe, vạch lên một đường loằng ngoằng trong không gian rồi rơi xuống phía dưới. Lát sau nó lại xuất hiện lần thứ hai rồi lại rơi xuống. Bọn trẻ lao tới bờ vực và kinh ngạc khi thấy người bạn mới của chúng − con voi nọ − đang bỡn với con trăn, và sau khi đã tung cho ông bạn trăn thực hiện hai chuyến du hành trong không trung, giờ đây nó đang dùng bàn chân to như thớt đá giẫm nát đầu con trăn. Xong việc, nó lại dùng vòi nhấc cái thân hình hãy còn run rẩy lên, ném đi một lần nữa, nhưng lần này không ném lên cao mà lại ném thẳng xuống thác. Sau đó, gật gù đầu về hai phía, vẫy vẫy đôi tai, nó nhìn thẳng vào Nel rồi đưa vòi về phía cô bé dường như đòi lĩnh phần thưởng sau cái hành động vừa anh hùng vừa thận trọng kia của mình. Nel lập tức lao về lều và quay trở lại với một bọc đầy quả dại, cô bé bắt đầu ném hàng vài quả một cho voi, còn nó dùng vòi tìm hết những quả rơi trong cỏ, cho từng quả vào mồm. Những quả bị rơi xuống các khe sâu hơn, nó thổi bật lên với một sức mạnh khiến cho cả những cục đá to bằng nắm tay người cũng bay lên cùng với quả. Bọn trẻ vỗ tay hoan hô reo cười khen ngợi trò biểu diễn này. Nel mấy lần chạy về lấy thêm thức ăn và cứ mỗi quả vả ném đi, cô bé lại không quên nhắc lại rằng con voi đã hoàn toàn thuần và ngay lúc này bọn trẻ có thể xuống với nó.


− Anh thấy chưa, anh Staś , thế là chúng mình sẽ có một người hộ vệ!... Nó chẳng sợ con gì trong sa mạc hết: Cả sư tử, rắn rết lẫn cá sấu. Nó lại rất tốt bụng và chắc chắn là rất yêu mến chúng mình.


− Nếu như thuần nó được, − Staś  nói, − Và nếu như anh có thể để em lại cho nó trông nom thì quả thực anh hoàn toàn yên tâm đi săn bắn, vì trong cả châu Phi này không thể tìm đâu ra cho em một vệ sĩ tốt hơn nữa.


Rồi lát sau cậu bé nói thêm:


− Voi ở đây nói chung hoang dã hơn, nhưng anh đã từng đọc thấy rằng voi á châu rất mềm yếu, mềm yếu một cách kì lạ đối với trẻ con. Tại ấn Độ chưa từng có trường hợp nào voi làm hại trẻ con, và nếu như voi phát khùng, thì những người quản tượng bản xứ thường làm chúng nguôi đi bằng cách mang trẻ con tới.


− Đấy, anh thấy chưa, anh thấy chưa nào?


− Dù sao đi nữa, em cũng hành động đúng khi không cho anh giết chết nó.


Đôi đồng tử của Nel bừng lên ánh vui sướng, giống hệt hai ngọn lửa màu xanh lục. Đứng nhón trên các đầu ngón chân, cô bé đặt cả hai tay lên vai Staś  rồi ngả người ra phía sau cô bé nhìn thẳng vào mắt cậu:


− Thế em hành động như người bao nhiêu tuổi? Nào, nói đi anh, như em bao nhiêu tuổi nào?


Cậu bé đáp:


− ít nhất cũng bảy mươi.


− Anh lúc nào cũng đùa được.


− Giận đi, cứ giận đi. Thế ai sẽ giải phóng cho con voi nào?


Nghe thấy thế, Nel lập tức trở lại hiền dịu như một con mèo con.


− Anh chứ ai, và em sẽ rất yêu anh, cả con voi cũng thế.


− Anh đang nghĩ cách. − Staś  nói. − Nhưng đó là một việc rất khó, anh sẽ không làm ngay bây giờ, mà sẽ làm lúc chúng mình sắp lên đường đi tiếp.


− Sao thế anh?


− Vì rằng, nếu anh giải thoát cho nó trước khi nó thuần và hoàn toàn gắn bó với chúng ta thì nó sẽ bỏ đi mất.


− ồ, nó sẽ không bỏ em mà đi đâu!


− Em nghĩ như thể nó là anh không bằng ấy! − Staś  đáp vẻ hơi bẳn.


Cuộc trò chuyện bị Kali làm cho gián đoạn, cậu bé da đen quay trở về mang theo con ngựa vằn cái săn được và con ngựa con bị Saba gặm mất một ít. Thật là may cho con chó,


vì chạy theo Kali nên nó không có mặt trong khi giải quyết con trăn, chứ nếu không, nó sẽ lao theo con trăn và chắc chết trong những vòng cuộn xiết của thân mình con vật trước khi Staś  kịp tới cứu. Vì chuyện gặm con ngựa vằn con, nó bị Nel bẹo tai, nhưng thực ra nó cũng chẳng để tâm gì lắm tới hình phạt đó, thậm chí nó cũng không rụt cái lưỡi đang thè ra khi đi săn về nữa.


Staś  nói lại cho Kali rằng cậu muốn làm nhà trong thân cây, và thuật lại cho nó nghe chuyện đã xảy ra khi dùng khói hun bộng cây, cũng như chuyện con voi đã đối xử với con trăn như thế nào. Cậu bé da đen rất thích sáng kiến vào ở trong cây bao báp, cái cây không chỉ che mưa mà còn có thể che chở cho bọn trẻ khỏi các loài dã thú, song hành động của con voi lại không được nó tán đồng chút nào cả. Nó bảo:


− Voi thật ngu ngốc nên mới vứt con rắn vào cái nước gầm, còn Kali thì biết rằng con rắn rất tốt ăn, nên Kali sẽ đi tới cái nước gầm để tìm lại, rồi nướng nó lên, vì Kali thông minh và là donkey.


− Cậu là donkey, đồng ý! − Staś  đáp − Nhưng cậu sẽ không ăn thịt con rắn chứ hả?


− Con rắn rất tốt ăn! − Kali nhắc lại.


Và chỉ vào con ngựa vằn bị giết, nó nói thêm:


− Tốt ăn hơn cái thịt này.


Sau đó cả hai tới bên cây bao báp để bắt tay vào việc sửa soạn chỗ ở. Kali tìm bên bờ sông một phiến đá phẳng to bằng mặt sàng lớn đặt vào trong bộng cây, đặt những cục than đang cháy lên trên đó, chú ý sao cho những lớp gỗ mục trong lòng cây không bị bén gây cháy cả cây. Nó nói rằng làm thế để cho “khỏi có con gì cắn ông lớn và cô bé”. Hóa ra, đó hoàn toàn không phải là một chuyện cẩn thận quá đáng, vì khi khí than tràn ngập trong thân cây thì từ chỗ nứt nẻ của vỏ cây, bắt đầu trườn ra đủ mọi thứ sinh vật khác nhau: Những con bọ sừng màu đen tuyền và màu mận chín, những chú nhện lông lá to như quả mận, những con sâu mình đầy gai to bằng ngón tay, và cả những con rết độc kinh tởm mà vết cắn có thể làm chết người. Và căn cứ vào những gì diễn ra phía bên ngoài thân cây, dễ dàng có thể đoán được có biết bao nhiêu loài sinh vật tương tự đã chết ngạt bởi hơi than bên trong ruột cây. Kali dùng đá nghiền nát không thương tiếc tất cả những con vật từ vỏ cây và từ những cành thấp rơi ra cỏ, vừa làm nó vừa dòm chừng vào cái hốc trên, dường như e sợ một con gì đó sẽ bất ngờ lao ra.


− Sao cậu cứ dòm chừng thế? − Staś  hỏi − Cậu nghĩ rằng một con trăn thứ hai còn đang ẩn náu trong thân cây chăng?


− Không đâu, Kali sợ Mdimu.


− Mdimu là cái gì?


− Cái ma.


− Cậu đã trông thấy cái ma bao giờ chưa đã?


− Chưa, nhưng Kali đã nghe thấy những tiếng kêu kinh khủng của cái ma trong nhà của thầy phù thủy.


− Thế các thầy phù thủy của cậu không sợ cái ma hay sao?


− Các thầy phù thủy biết cách niệm chú gọi cái ma, rồi đi tới các lều nói rằng cái ma nổi giận, thế là người da đen mang tới cho họ nào chuối, nào mật ong, nào rượu pomba, nào trứng, nào thịt để họ cầu xin cái ma cho.


Staś  nhún vai.


− Rõ ràng làm nghề phù thủy ở chỗ các cậu sướng thật đấy. Nhưng cũng có thể con trăn vừa rồi là cái ma chăng?


Kali lắc đầu quầy quậy.


− Nếu thế thì không phải voi giết chết cái ma mà cái ma giết chết voi ngay. Cái ma là cái chết đấy...


Bỗng nhiên có tiếng động rầm rầm và tiếng ồn ào trong lòng cây gỗ làm gián đoạn lời thằng bé. Từ cái hốc cây phía dưới bùng lên một đám bụi kì lạ màu hung đỏ, tiếp đó lại vang lên tiếng rầm rầm còn dữ dội hơn trước.


Trong nháy mắt, Kali quỳ sụp xuống đất và bắt đầu kêu thét lên kinh hoàng:


− Aka, Mdimu! Aka! Aka!


Thoạt tiên, Staś  cũng tự nhiên lùi lại, nhưng em nhanh chóng định thần, và khi Nel cùng Mêa chạy tới, em bắt đầu giải thích chuyện gì đã xảy ra.


− Có thể là, − Em nói, − Những thớ mục trong thân cây bị nóng đã đổ sụp xuống phía dưới, phủ lên than. Thế mà nó lại nghĩ rằng đó là Mdimu. Tuy nhiên Mêa hãy vẩy nước và lần vào hốc cây đi, nếu không than thiếu không khí sẽ không tắt mà cứ cháy ngún trong đó rồi lại bùng lên đấy.


Rồi trông thấy Kali vẫn đang phủ phục, không ngừng lắp bắp kinh hoàng: “Aka! Aka!”, em bèn vớ lấy khẩu súng kíp vẫn dùng để săn chim pentácca bắn một phát vào gốc cây và vừa nói vừa dùng báng súng lay thằng bé dậy:


− Này, cái ma của cậu đã bị giết chết rồi! Đừng sợ nữa!


Kali nhỏm dậy nhưng vẫn ở tư thế quỳ:


− Ôi, ông lớn, ông lớn... ông không sợ cả cái ma hay sao?


− Aka! Aka! − Staś  kêu lên nhại theo giọng cậu bé da đen. Và nó bật cười.


Một lát sau Kali bình tĩnh lại hoàn toàn và khi ngồi vào ăn những thức mà Mêa đã sửa soạn thì dường như cơn sợ hãi trong chốc lát hoàn toàn không khiến nó mất ngon miệng chút nào, vì ngoài suất thịt khô nó còn chén hết cả một lá gan tươi của con ngựa vằn con, chưa kể tới những quả dại mà cây sung Ai Cập mọc gần đấy cung cấp với số lượng dồi dào. Sau đó, cùng với Staś , nó quay trở lại chỗ cây bao báp vì ở đó hãy còn vô khối công việc. Việc vứt bỏ những thớ gỗ mục ruỗng, than củi, hàng trăm con bọ sừng chết thui, những con bọ đất to tướng cùng với hơn chục con dơi bị nướng chín khiến chúng phải mất hơn hai tiếng đồng hồ. Staś  ngạc nhiên tại sao lũ dơi lại có thể sống chung với con trăn, nhưng sau em nghĩ ra rằng hoặc là con trăn khổng lồ không màng tới những miếng mồi quá bé nhỏ này, hoặc là trong bộng cây không có cái gì tựa để cuộn mình nên nó không thể với tới được lũ dơi. Hơi nóng của lửa than làm những lớp gỗ mục ruỗng đổ sụp xuống đã khiến cho bên trong thân cây rất sạch sẽ. Trông thấy thế, Staś  vô cùng vui sướng, vì bên trong rộng như một căn phòng lớn, có thể làm nơi nương thân không phải chỉ cho bốn mà đủ chỗ cho cả chục người. Cái hốc phía dưới trở thành cửa ra vào, hốc phía trên là cửa sổ, nhờ thế trong ruột cái cây khổng lồ không hề tối tăm hay ngột thở. Staś  nghĩ tới việc dùng vải lều chia toàn bộ bên trong ra làm hai phòng, một dành cho Nel và Mêa, một cho mình, Kali và con Saba.


Cây gỗ không bị ruỗng đến tận ngọn nên nước mưa không thể chảy vào bên trong và không cần phải che mưa, chỉ cần lấy vỏ cây chắn bên trên hai cái lỗ làm thành mái che mưa là đủ. Bọn trẻ quyết định sẽ dùng cát nóng ở bờ sông mang về rải bên trong, còn trên mặt cát thì trải rêu khô.


Công việc quả là nặng nhọc vô cùng, nhất là đối với Kali, vì ngoài việc đó ra, nó còn phải sấy thịt, cho ngựa uống nước và lo lương thực cho con voi, chú voi luôn rống lên đòi ăn. Song, cậu bé da đen rất nhiệt tình lao vào việc tạo dựng chỗ ở mới, lí do của sự nhiệt tình này cậu bé đã tuyên bố với Staś  ngay trong ngày hôm đó như sau:


− Nếu ông lớn và cô bé vào ở trong lòng cây gỗ, − Nó vừa nói vừa khoanh tay quanh bụng, − Thì Kali sẽ không phải đêm nào cũng dựng hàng rào lớn và chiều chiều có thể ngồi chơi không.


− Thế cậu muốn ngồi chơi lắm à? − Staś  hỏi.


− Kali là đàn ông mà, Kali thích ngồi chơi, chỉ có đàn bà là phải làm việc thôi.


− Thế mà cậu thấy đấy, tớ vẫn làm việc phục vụ cho cô bé đấy thôi.


− Thế nhưng khi cô bé lớn lên, sẽ phải làm việc cho ông lớn, nếu như cô bé không muốn làm, thì chắc chắn ông lớn sẽ đánh cô bé ngay.


Nhưng chỉ riêng ý nghĩ đánh cô bé đã khiến cho Staś  nhảy lên như phải bỏng, cậu kêu lên đầy giận dữ:


− Đồ ngốc, cậu có biết cô bé là ai không đã?


− Không biết ạ! − Cậu bé da đen sợ hãi đáp.


− Cô bé là... là... Mdimu Tốt đấy!


Kali sụp xuống đất.


Sau khi công việc xong xuôi, nó rụt rè tiến đến bên Nel, quỳ sụp xuống đất, lặp đi lặp lại với giọng không phải sợ hãi nữa mà là cầu xin:


Aka! Aka! Aka!...


Nhưng cái cô “Mdimu Tốt” này tròn mắt nhìn nó, đôi mắt tuyệt đẹp, có màu lam của nước biển, hoàn toàn không hiểu chuyện gì xảy ra và chàng Kali nọ muốn gì?


 


Chương 28


Nơi ở mới, mà Staś  đặt tên là “Krakow”, được hình thành trong vòng ba ngày. Nhưng trước đó, bọn trẻ đã đặt những gói đồ đạc chính vào “phòng con trai”, và trong những lúc trời đổ mưa lớn, bộ tứ đã tìm được trong cái thân cây khổng lồ một chỗ ẩn náu thật tuyệt vời, ngay trước khi hoàn thành nơi ở mới.


Mùa mưa đã thật sự bắt đầu, nhưng đó hoàn toàn không giống như những ngày mưa thu dài dằng dặc của chúng ta, khi bầu trời đầy mây đen u ám và những làn mưa buồn tẻ nặng nề kéo dài hàng tuần liền. Còn ở nơi đây, hơn chục lần trong một ngày, gió mang qua bầu trời những đám mây nặng trĩu, tưới nước ào ạt xuống mặt đất, nhưng sau đó mặt trời lại bừng lên rực rỡ, dường như vừa mới được tắm gội tinh tươm và rót ánh vàng xuống những vách đá, dòng sông, cây cối và toàn bộ khu rừng. Cỏ mọc nhanh gần như trông thấy. Cây cối ra lá dày hơn, và trước khi những quả già rụng xuống thì những mầm quả non mới đã hình thành.


Do có chứa nước nên không khí trở nên trong suốt đến nỗi những vật ở rất xa cũng hiện ra hoàn toàn rõ nét, và tầm mắt có thể vươn xa đến một vùng rộng lớn. Trên bầu trời vắt vẻo những chiếc cầu vồng bảy sắc tuyệt đẹp, còn thác nước thì gần như lúc nào cũng lộng lẫy ánh hào quang của những chiếc cầu vồng được tạo thành. Ráng sáng và ráng chiều ngắn ngủi gieo lung linh ngàn thứ sắc màu, đến nỗi ngay hồi ở sa mạc Libi bọn trẻ cũng chưa từng được trông thấy phong cảnh kì thú như thế bao giờ. Những đám mây thấp gần mặt đất nhất có màu anh đào, những đám mây phía trên được chiếu sáng nhiều hơn thì tràn ngập ra thành một mặt hồ đẫm sắc đỏ rực và vàng kim, còn những gợn mây nho nhỏ như tơ thì đổi sắc như hồng ngọc, thạch ngọc và bạch ngọc. Ban đêm, giữa khoảng hai làn mưa, mặt trăng biến những giọt sương treo trên lá cây xiêm gai và trinh nữ thành những viên kim cương lóng lánh, và ánh sáng hoàng đạo tỏa sáng rực rỡ hơn bất kì mùa nào khác trong bầu không khí vừa được tẩy cho trong lành.


Từ phía những vùng nước do dòng sông hình thành ở bên dưới thác vọng về tiếng kêu đầy lo lắng của lũ ếch nhái và tiếng cóc buồn thảm, những chàng đom đóm nom như những vì sao xanh to lớn lang thang cứ bay từ bờ này sang bờ kia, giữa những lùm tre và những bụi cây chân bê.


Song những khi mây đen che kín bầu trời sao và mưa bắt đầu rơi thì trời lại đen sầm, trong ruột cây bao báp cứ tối như dưới hầm vậy. Muốn tránh tình cảnh đó, Staś  bảo Mêa rán mỡ của những con thú săn được, lấy vỏ đồ hộp làm một chiếc đèn treo dưới cái lỗ thông ở phía trên, vẫn được bọn trẻ gọi là cửa sổ. Trong bóng đêm, ánh sáng rọi từ chiếc cửa sổ này có thể trông thấy được từ rất xa, xua đuổi bớt các loài dã thú, nhưng lại thu hút lũ dơi và cả những con chim, đến nỗi cuối cùng Kali phải làm ở đó một tấm rèm gai, giống như cái hàng rào mà đêm đêm nó dùng để bịt kín lỗ thông hơi phía dưới.


Còn ban ngày, trong những phút đẹp trời, bọn trẻ rời “Cracốp” tỏa đi khắp mũi đất, Staś  thì đi săn linh dương arien và đà điểu (giống chim này xuất hiện từng đàn lớn ở phía hạ lưu dòng sông), còn Nel với chàng voi của mình. Ban đầu, con vật chỉ rống lên đòi ăn, nhưng về sau nó bắt đầu rống lên cả khi thấy thiếu vắng cô bạn bé nhỏ nữa. Và lúc nào nó cũng chào đón cô bé với một niềm sung sướng rõ rệt, thoạt nghe thấy giọng nói hoặc tiếng bước chân của cô bé ở xa xa là nó đã giỏng tai lên rồi.


Một lần, Staś  đang đi săn bắn, Kali đang câu cá dưới thác, Nel quyết định tới cái khối đá đang bít kín khe núi để xem thử Staś  đã làm được gì với nó hay chưa. Đang bận lo chuẩn bị bữa trưa, Mêa không để ý đến việc cô bé bỏ đi, còn Nel thì hái trên đường đi những đóa thu hải đường kì lạ mọc đầy trong các rạn đá và tiến lại phía sườn dốc mà dạo trước cả bọn đã đi theo để leo lên bờ khe. Sau khi tụt xuống, Nel đến được chân phiến đá. Phiến đá khổng lồ tách ra từ vách đá mẹ vẫn bịt kín họng khe núi như lúc trước. Song, Nel để ý thấy giữa nó và vách đá có một cái khe rộng đến độ người lớn cũng có thể trườn qua được. Cô bé ngần ngừ một lúc rồi lần sang phía bên kia. Phía đó còn có một chỗ ngoặt nữa mà cô bé phải đi qua trước khi tới được chỗ thoát của khe núi bị thác nước chắn ngang. Nel bắt đầu cân nhắc: “Mình chỉ đi thêm một chút xíu nữa thôi, nấp sau tảng đá mình chỉ ngó con voi một lần thôi, nó không thể trông thấy mình được, rồi mình sẽ quay về ngay”. Nghĩ thế, cô bé hết bước này đến bước khác tiến xa hơn, mãi đến chỗ khe núi đột nhiên phình rộng thành một lòng thung nho nhỏ, nhìn thấy con voi. Nó đang đứng quay đuôi về phía cô bé, vòi nhúng xuống nước và đang uống nước. Điều đó khiến cô bé thêm bạo dạn. Nel dán mình vào vách đá, cô bé tiến thêm mấy bước chân nữa, mấy bước nữa, và − khi con voi muốn phun nước lên sườn − nó quay đầu lại và trông thấy cô bé, vừa trông thấy nó liền lao tới phía Nel.


Nel sợ lắm, nhưng không kịp quay trở lại nữa, nên áp sát hai đầu gối vào nhau, cô bé nhún mình chào con voi, rồi chìa tay đang cầm những đóa thu hải đường ra, cô bé cất tiếng thanh thanh hơi run run nói:


− Xin chào voi, voi thân yêu! Tôi biết là voi không làm hại gì tôi nên tôi đến để chào voi... tôi cũng chỉ có mấy cái hoa này thôi...


Con vật khổng lồ tiến lại gần, vươn vòi ra túm lấy chùm thu hải đường trong tay Nel, nhưng vừa cho vào miệng nó lại thả ngay xuống đất, rõ ràng là những lá nhám xì lẫn những bông hoa đều không ngon miệng nó tí nào. Nel trông thấy ngay trước mặt mình cái vòi có hình con rắn khổng lồ màu đen, cứ cuộn vào rồi lại duỗi ra, chạm vào tay này rồi tay kia của cô bé, chạm vào hai vai, rồi sau rốt nó hạ xuống, bắt đầu ve vẩy nhè nhẹ sang hai bên.


− Tôi biết là voi không làm gì hại tôi, − Cô bé nhắc lại, dẫu nỗi sợ hãi vẫn chưa rời cô.


Còn voi ta thì cứ lật hai cái tai to như trong chuyện cổ tích ra phía sau, cuộn và mở vòi, đồng thời kêu lên những tiếng kêu khe khẽ đầy sung sướng như vẫn kêu mọi lần, khi cô bé lại gần mép khe núi.


Và cũng như cái lần Staś  đứng đối diện với sư tử, lúc này cả hai lại đứng đối diện nhau − con voi thì khổng lồ, to như một căn nhà hay một tảng đá, còn cô bé thì chỉ là một cái mẩu nhỏ nhoi mà nó có thể giẫm bẹp bằng một cử động, thậm chí chỉ một cử động do vô ý chứ không phải là thù địch gì cả.


Nhưng con vật tốt bụng và tinh khôn không hề làm một cử động nào giận dữ hay vô tình, và rõ ràng là nó vui sướng và hạnh phúc trước cuộc viếng thăm của vị khách nhỏ bé này.


Nel dần dần bạo dạn hơn, cô ngước mắt như nhìn lên mái nhà cao, vừa hỏi vừa rụt rè chìa tay ra:


− Tôi có thể vuốt vòi voi được chứ?


Thực ra con voi không biết tiếng Anh, nhưng do cử chỉ của bàn tay cô bé, nó cũng đoán ra được, và nó bèn chìa cái mũi dài hai mét của mình lại gần bàn tay cô bé.


Nel bắt đầu vuốt ve vòi con voi, ban đầu chỉ một tay và thật thận trọng, sau thì cô bé ôm cả hai tay và áp cả người vào đó bằng sự tin cẩn của trẻ thơ.


Con voi nhấc nhổm chân này tiếp theo chân khác và vẫn tiếp tục kêu lên khe khẽ vì sung sướng.


Rồi lát sau, nó dùng vòi cuộn lấy thân hình nhỏ bé của Nel nhấc lên cao và bắt đầu đánh đu nhẹ nhàng sang bên trái rồi bên phải.


− Nữa nào, nữa nào! − Nel thích thú kêu lên.


Trò chơi kéo dài thật lâu, rồi sau khi hoàn toàn bạo dạn, cô bé lại nghĩ ra một trò khác. Khi được đặt xuống đất, cô bé cố tìm cách leo theo chân trước của con voi như leo một thân cây, hoặc nấp dưới người nó và hỏi xem nó có tìm được không. Nhưng trong khi đang chơi những trò nghịch ngợm như thế, cô bé phát hiện ra rằng ở chân trước và nhất là chân sau voi có nhiều gai cắm vào mà con voi không làm sao rứt ra được, trước hết vì vòi nó không thể thoải mái chạm tới chân sau, và sau nữa, hình như nó sợ sẽ làm bị thương cái chỏm vòi, thiếu cái đó thì vòi mất đi hoàn toàn sự khéo léo và lanh lẹ của mình. Nel hoàn toàn không biết rằng những chiếc gai như thế quả thật là tai họa đối với lũ voi ấn Độ và đặc biệt là voi rừng Phi châu, vì những khu rừng này gồm phần lớn các loài cây có nhiều gai. Nhưng cô bé thương con vật khổng lồ tốt bụng, nên không cần suy nghĩ lâu la gì, đã ngồi xệp ngay xuống gần chân nó và bắt đầu nhẹ nhàng nhổ những chiếc gai ra, đầu tiên là những gai lớn, sau đó là những cái dằm nhỏ hơn, đồng thời miệng cô bé không ngừng liến thoắng cam đoan với voi là sẽ không để sót chiếc gai nào. Con vật hiểu rất rõ sự việc, nó khuỵu đầu gối xuống như muốn trỏ rằng trong gan bàn chân, giữa các móng chân cũng có gai cắm vào và chính những chiếc gai này khiến nó đau đớn hơn cả.


Chính vào lúc đó, Staś  đi săn trở về và hỏi Mêa xem cô chủ đâu. Được trả lời rằng hẳn là cô chủ ở trong bộng cây, em đã định nhìn vào thì vừa lúc ấy hình như em thoáng nghe thấy tiếng cô bé dưới lòng khe núi. Không tin vào tai, em nhảy vội tới mép vực nhìn xuống và sững người ra. Cô bé đang ngồi dưới chân con vật khổng lồ, còn con vật cứ đứng như thế, thật bình thản, không hề cử động cả tai lẫn vòi, đến nỗi ta có thể nghĩ rằng nó được tạc bằng đá vậy.


− Nel! − Staś  kêu lên.


Bận bịu vì công việc của mình, cô bé vui vẻ đáp lại:


− Khoan đã, khoan đã!


Nghe thấy thế, vốn không quen ngần ngừ khi có hiểm nguy, cậu bé liền dùng một tay giơ súng lên cao, một tay túm lấy thân dây leo đã bị tước trụi, quặp cả hai chân vào đó, và trong nháy mắt đã tụt xuống lòng khe.


Con voi lo lắng động đậy hai tai, nhưng chính lúc đó Nel đã đứng dậy ôm lấy vòi nó vội vã kêu lên:


− Đừng sợ nào voi, đó là Staś  đấy!


Staś  nhận ngay ra không hề có mối nguy hiểm nào đe dọa cô bé, nhưng chân em như muốn khuỵu xuống, tim đập gấp, và trước khi kịp bình tâm lại vì ấn tượng vừa qua, em thốt ra bằng giọng nói nghẹn ngào, đầy hờn giận:


− Nel, Nel, sao em lại làm thế?!...


Còn cô bé cố giải thích rằng có làm chuyện gì nên tội, vì con voi tốt bụng và hoàn toàn đã thuần rồi, rằng cô bé chỉ muốn nhìn nó một chút rồi sẽ quay lại ngay, nhưng nó cứ giữ cô bé lại để cùng chơi, rằng nó đã đu đưa cô bé rất thận trọng, và rằng nếu như Staś  muốn thì voi cũng sẽ đu đưa cả Staś  nữa.


Nói thế, cô bé dùng một bàn tay cầm lấy chỏm vòi voi kéo lại gần phía Staś , còn tay kia vung vẩy bên trái bên phải mấy lần liền và nói với con voi:


− Voi ơi, hãy đu đưa cả Staś  đi nào!


Con vật thông minh đoán ra được qua những cử chỉ của cô bé điều mà cô bé muốn ở nó, và thế là Staś  − bị tóm ngang thắt lưng quần đùi − một giây sau đã lơ lửng trong không trung. Thật là mâu thuẫn giữa nét mặt hãy còn hậm hực của thằng bé và cái trò đu đưa lơ lửng trên mặt đất, nên cô Mdimu nhỏ bé cười đến chảy nước mắt, vừa cười vừa vỗ tay, và kêu lên như lần trước:


− Nữa đi, nữa đi!


Khi người ta bị lơ lửng trong không khí trên một cái vòi voi và thực hiện chuyện động tương tự như dao động của con lắc dù muốn hay không, thì thực khó mà giữ vẻ mặt nghiêm nghị để lên lớp giáo huấn về đạo đức, thế nên cậu bé rốt cuộc cũng phải bật cười. Nhưng chỉ một lát sau em cảm thấy chuyển động của cái vòi chậm dần lại và rằng con voi muốn đặt em xuống đất, em chợt nảy ra một ý mới. Nhân lúc ở gần cái tai to tướng của con voi, em bèn dùng hai tay tóm chặt lấy tai và trong chớp mắt đã ngồi chễm trệ trên đầu voi.


− Ha ha! − Cậu bé từ trên cao gọi xuống với Nel. − Hãy để cho nó hiểu rằng nó phải vâng lời anh.


Em vỗ vỗ tay lên đầu voi với vẻ mặt của một ông chủ và người chỉ huy.


− Hay lắm! − Nel đứng dưới kêu lên. − Nhưng bây giờ anh làm thế nào để xuống?


− Chẳng có gì là khó! − Staś  đáp, và thõng hai chân xuống trước trán voi, em dùng hai tay ôm lấy cái vòi tụt xuống đất như tụt theo cây gỗ vậy.


− Thế, thế là anh xuống!...


Rồi cả hai đứa tiếp tục việc nhổ những chiếc gai còn lại ra khỏi chân voi, con vật tỏ ra rất giàu tính chịu đựng trong cuộc “phẫu thuật” này.


Lúc đó, những giọt mưa đầu tiên bắt đầu rơi, Staś  bèn quyết định phải đưa ngay Nel trở về “Cracốp”, nhưng đến lúc này mới nảy ra một trở ngại không ngờ. Con voi không muốn chia tay với Nel bằng bất kì giá nào, và cứ hễ cô bé bước ra xa là nó lại vươn vòi kéo lại. Tình thế trở nên nặng nề, trò chơi vui vẻ có thể kết thúc không lành bằng sự ương bướng của con vật. Cậu bé không biết nên làm gì vì mưa mỗi lúc một dày hơn và trời có thể sắp đổ mưa rào. Cả hai cũng lùi được một ít về phía lối thoát ra, nhưng vẫn chưa được bao nhiêu, còn con voi cũng đi theo sau chúng.


Cuối cùng, Staś  đứng chắn giữa Nel và con voi, nhìn thẳng vào cặp mắt nó, đồng thời hạ giọng thì thầm bảo Nel:


− Đừng chạy, nhưng cứ lùi dần đến chỗ khe hẹp đi.


− Thế còn anh, anh Staś ? − Cô bé hỏi lại.


− Lùi đi. − Cậu bé nhấn mạnh đáp lại. − Nếu không anh buộc phải bắn chết con voi.


Dưới tác dụng của lời đe dọa này, cô bé đành tuân lệnh, hơn nữa cô bé đã vô cùng tin vào con voi và chắc chắn rằng trong bất kì trường hợp nào, nó cũng sẽ không làm điều gì hại tới Staś  cả.


Còn cậu bé đứng cạnh con vật khổng lồ bốn bước, không rời mắt khỏi nó.


Mấy phút trôi qua. Im lặng đầy đe dọa. Hai tai của con vật ve vẩy vài lần, cặp mắt nhỏ bé sáng lên những ánh lạ và cái vòi bỗng vung cao lên không trung.


Staś  tái người đi.


“Chết này!” − Em nghĩ thầm.


Nhưng đột nhiên con voi quay trở lại về phía bờ khe núi, nơi nó vẫn thường trông thấy Nel và bắt đầu rống lên thê thảm hơn lúc trước rất nhiều.


Còn Staś  bình tĩnh bước về phía khe hẹp và tìm thấy Nel phía bên kia khối đá, cô bé không muốn đi về nhà khi chưa thấy cậu ra.


Cậu bé muốn nói với Nel − một ý nghĩ gần như không kìm hãm nổi: “Đấy, em xem, em đã gây nên chuyện gì. Vì em mà một chút nữa anh bỏ mạng”. Nhưng không còn thời giờ để lên lớp nữa, bởi cơn mưa đã chuyển thành mưa rào và phải quay về nhà càng nhanh càng tốt. Nel ướt như chuột lột, mặt dù Staś  đã quấn cô bé trong bộ quần áo của mình.


Vào trong cây bao báp, Staś  bảo Mêa thay quần áo cho Nel, còn em sang phòng con trai cởi dây cho con chó Saba (trước đó con chó bị buộc dây để đề phòng nó sẽ theo Staś  đi săn thú), rồi lục lọi trong đám quần áo và đồ đạc, cố tìm với hi vọng rằng có thể sẽ còn lại một chút kí ninh nào để quên ở đâu đó chăng.


Nhưng em không tìm thấy gì cả. Chỉ có ở cái đáy lọ mà nhà truyền giáo đưa cho ở Chartum là còn một ít bột trắng đọng trong kẽ lọ, nhưng ít đến nỗi có lẽ chỉ đủ làm trắng đầu ngón tay mà thôi. Dù sao, em cũng quyết định đổ nước sôi vào tráng lọ và đưa cho Nel uống thứ nước vét này.


Sau đó, khi cơn mưa tạnh, mặt trời lại chiếu sáng, em bước ra khỏi cây gỗ để xem những con cá mà Kali mang về. Cậu bé da đen câu được hơn chục con bằng lưỡi câu làm bằng dây thép nhỏ. Phần lớn là cá bé nhưng cũng có ba con dài chừng một bộ, vẩy bạc, nhẹ một cách lạ lùng. Mêa, vốn sinh trưởng ở vùng sông Nin Xanh và hiểu nhiều về các thứ cá, bảo rằng cá này ăn rất ngon, và rằng cứ chiều chiều chúng lại nhảy lên khỏi mặt nước. Khi mổ cá mới thấy rằng sở dĩ chúng nó như thế là vì trong bụng chúng có những chiếc bong bóng to tướng.


Staś  cầm lấy một chiếc − to bằng một quả táo lớn − mang về cho Nel xem:


− Trông này, − Em bảo, − Cái này ở trong bụng cá. Có độ mươi cái bong bóng thế này, chúng mình có thể làm kính che cửa sổ đấy.


Và em trỏ lên cái lỗ thông hơi phía trên cây, song chỉ nghĩ ngợi một lát em nói thêm:


− Và còn hơn nữa kia.


− Gì nữa kia anh? − Nel thích thú hỏi.


− Làm cái diều nữa.


− Những cái diều như hồi trước anh thả ở Port Said ấy à? Ôi, hay quá, làm ngay đi anh!


− Anh sẽ làm, khung anh sẽ làm bằng những thanh tre mỏng, còn bong bóng này anh sẽ dùng thay cho giấy. Thứ này còn tốt hơn giấy kia, vì nhẹ hơn và không bị ngấm nước mưa. Diều này có thể lên cao lắm, và gió mạnh có thể đưa nó đi chưa biết đến đâu...


Nói tới đây, nó đập tay vào trán:


− Anh nghĩ ra một ý hay rồi đây.


− Ý gì, anh?


− Em sẽ thấy. Khi nào anh nghĩ thật kĩ anh sẽ bảo em. Còn bây giờ cái con voi này nó gào đến nỗi không thể nào nói chuyện nổi nữa...


Quả thực, vì nhớ Nel, mà cũng có thể là nhớ cả hai đứa, con voi đang rống lên đến nỗi cả khe núi cùng những cây cối xung quanh đều rung động.


− Phải ra cho nó trông thấy thôi, − Nel bảo, − nó sẽ yên lòng ngay.


Bọn trẻ đi ra khe. Nhưng đang tiếp tục dòng suy nghĩ của mình, Staś  bắt đầu tự nói lẩm nhẩm: “Nelly Rawlison và Xtanixoáp Tarơcốpxki ở Port Said, chạy trốn từ Fasoda khỏi tay bọn phiến loạn, hiện đang ở tại...”


Và đột nhiên em dừng lại hỏi:


− Làm sao để nói là chúng mình đang ở đâu?...


− Gì cơ, anh Staś ?


− À không, không có gì. Anh biết rồi: “Đang ở cách sông Nin Trắng một tháng đường về phía đông , và yêu cầu nhanh chóng được ứng cứu...” Khi nào gió thổi về phía bắc hoặc phía đông, anh sẽ thả những chiếc diều như thế này, hai mươi chiếc, năm mươi chiếc, một trăm chiếc, còn em, Nel, em sẽ giúp anh dán diều.


− Diều ư anh?


− Phải, anh chỉ nói với em rằng những chiếc diều này có thể sẽ giúp chúng mình nhiều hơn cả chục con voi đấy.


Lúc này, bọn trẻ đã ra tới bờ khe. Con vật khổng lồ bắt đầu nhấp nhổm đôi chân, gật gật đầu, vẫy vẫy tai, kêu khe khẽ rồi lại rống váng lên não ruột khi Nel định bỏ đi. Rốt cuộc Nel phải giải thích cho “voi thân yêu” là không thể ngồi mãi bên cạnh nó được, vì còn phải ăn, ngủ, làm việc và bày biện ở “Cracốp”. Nhưng con voi chỉ chịu yên sau khi cô bé đã đẩy xuống cho nó những thứ thức ăn mà Kali đã chuẩn bị, ấy thế nhưng đến đêm nó lại bắt đầu rống lên.


Từ chiều hôm đó, bọn trẻ bắt đầu gọi nó là “King”, vì Nel cam đoan rằng trước khi bị hãm vào khe núi, chắc chắn nó phải là vua của loài voi trên toàn Phi châu.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz – Nobel văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info







  Phiên âm: Cracôp - Kinh đô cũ của Ba Lan.




  King: tiếng Anh có nghĩa và “vua”.




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »