tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19358222
Tiểu thuyết
03.03.2017
Ma Văn Kháng
Đám cưới không có giấy giá thú



Tự dứt khỏi những ý nghĩ về Thuật để bắt tay vào việc chấm bài. Nhưng mới chấm lần thứ nhất được hơn chục bài, Tự dã phải ngừng. Cẩm từ đâu xịch tới cạnh Tự, tỏa nhiệt như một cỗ máy nổ vừa vận hành.


- Thế nào, có khá không?


- Chưa có bài nào yếu, kém.


- Thế thì mừng.


- Có một hài xuất sắc lắm. Khi trao đổi trong nhóm chấm, tôi sẽ đề nghị cả mấy anh em cùng đọc lại. Có thể cho điểm cao tuyệt đối được.


- Ừ, nới tay một tí đi!


- Đúng barem anh ạ.


Ừ ừ trong cổ họng, Cẩm khom lưng, cúi xuống sát Tự, liếc ngang một cái, rồi hạ giọng:


- Tự này, sao cái thằng Thuật hồi này nó như chó dại thế nhỉ?


- Có lẽ là từ lâu rồi cậu ấy đã đổi tính đổi nết.


- Thằng cha này, không cứng tay với nó là nó lấn tới. Cậu đã thấy cảnh tượng truyền giống chó ở nhà nó chưa? Tởm lợm không thể chịu được. Bao nhiêu lần mình ức với nó mà cứ phải nhịn như nhịn cơm sống. Cậu gần gụi nó, liệu lời khuyên bảo nó hộ. Tôi mà không vì cương vị thì nó chết với tôi! Loại này, đúng như đồng chí bí thư nói, cứ phải là chuyên chính! Phải chuyên chính!


Tự ngẩng lên. Cẩm đang nghiến răng, hạ phùm phụp liên hồi nắm đấm tay phải vào giữa lòng bàn tay trái của chính mình. Ra cái vẻ ta đây khỏe, ta đây dám chơi trò đấm đá.


*


Người cha nhận ra cái thiên bẩm toán học đặc sắc ở cậu con trai duy nhất của mình. Một hôm, trên đường công tác trong vùng núi rừng Việt Bắc, hai cha con rẽ vào một quán nước chè tươi xong, người cha rút ví, bà chủ quán còn đang lẩm nhẩm tính tiền thì dứa con trai bốn tuổi của ông đã níu tay ông: “Ba trả bà bảy đồng ba hào sáu xu”.


Không thể có sự chính xác nào đạt được độ nhanh nhạy như thế. Dọc đường, đố con thêm vài lần nữa, người cha càng vô cùng kinh ngạc về khả năng tính nhẩm và sức nhớ kỳ lạ của con trai. Cả đêm hai vợ chồng mất ngủ vì mải ngắm khuôn mặt cậu con trai trong giấc ngủ êm đềm, họ nhìn nhau ngỡ ngàng như muốn hỏi nhau: Con trai mình đây hay một thánh thể kỳ diệu nào vậy. Rồi nhớ lại ngày tháng cậu bé ra đời, khung cảnh xung quanh, căn nhà nơi cậu bé cất tiếng khóc. Cái ngày họ sinh con: họ mơ thấy trăng tròn, cây khô nở hoa? Hay ngày ấy mây hồng ủ mái nhà và cậu bé lọt lòng cổ có quấn tràng hoa? Cả hai rưng rưng trong hoài niệm sung sướng và hư huyền.


Hai vợ chồng nhà hoạt động văn hóa này quyết định dạy con học vỡ lòng khi nó đầy bốn tuổi. Chú bé thật không làm suy suyển niềm tin mộng mị của cha mẹ. Năm tuổi chú bé đã nổi tiếng vì trí nhớ thần đồng. Đọc hết số truyện cha mẹ và thư viện cơ quan có. Kể làu làu từ đầu chí cuối các tích truyện Tây Du, Tam Quốc, Đông Chu liệt quốc và cả Thủy Hử là cuốn mẹ chú cấm đọc vì liệt nó vào loại ác thư, có hại với tâm hồn trẻ. Kịch Sếchpia, thơ Lamáctin chú cũng vanh vách. Hỏi đố chú, đi từ A đến B mất ba giờ, tức là bao nhiêu giây. Chú đáp gần như không cần nghĩ: 10.800 giây. Bao nhiêu con tính nhân chú đã phải thực hiện hay chú bỏ qua tất? Bí ẩn vô cùng. Tám tuổi chú đã nổi danh thần đồng trác việt khắp vùng, giải được phương trình bậc 1. Đọc thuộc lòng cả tập thơ Gió tây của thi hào Shelley trong nguyên bản Anh ngữ. Sau bao nhiêu ngộ nhận, đắm chìm, một thiên tài xuất chúng đã xuất hiện rồi ư? Hồi hộp từ mẹ cha đến dòng họ khắp vùng rừng núi. Người từ các nơi nghe truyền, nườm nượp cơm đùm cơm nắm kéo đến, đông còn hơn đi hội Lim, hội chùa Hương, đi xem mặt Đức Chúa hiện hình hay đi lấy nước suối Kênh Gà trị bách bệnh. Thiên tài mới chỉ là phát lộ đã gây phiền. Nhưng trước hết là phải trách cha chú, ông cưng chiều con, coi nó như con của Chúa trời vinh hiển, tới mức làm nô bộc cho nó. Cái gì cũng làm hộ con. Thậm chí, trả lời thay cả cho con khi có người hỏi nó trong khi mẹ chú vẫn là một tình mẫu tử, thuần phác. Bà không thích làm méo mó những tình cảm tự nhiên.


Kỳ vọng đã làm mê muội người cha. Mối xung khắc giữa hai vợ chồng bỗng trở nên quyết liệt, khi người cha ngày càng tỏ ra cực đ đến mức ông quyết định một mình chịu tiếng phản bội kháng chiến, đưa con trở vào vùng quân đội Pháp tạm chiếm, để nó có điều kiện tiếp thu một nền học vấn tiên tiến, để nuôi dưỡng một thiên tài làm vinh quang cho đất nước mai hậu.


Chú bé xứng đáng với sự hy sinh của cha và sau đó là cái chết của mẹ ở vùng tự do, do thương nhớ và bệnh tật. Chú được gửi vào học ở một trường dòng. Theo quan niệm của cha chú, đây là hệ thống giáo dục đạt trình độ khoa học cao nhất, những thầy dòng là những người sống công cộng văn minh sớm nhất nhân loại. Tại đây, chú hoàn thiện cấp trung học trình độ quốc tế khi tròn mười bốn tuổi.


Ngất ngây trước thành tựu của con trai, người cha rắp tâm tìm đường lập nghiệp cho chàng bằng con đường du học quốc ngoại. Đất Việt lạc hậu so với thế giới hàng thế kỷ, làm sao có thể trở thành chiếc nôi hình thành một Lêôna khổng lồ, một thi tài Shelley, một Nguyễn Công Trứ hiện đại phải có danh gì với núi sông?


Ước mộng của người cha là tòa lâu đài cát ướt trên bãi biển. Phản bội kháng chiến, món nợ còn tươi nguyên đó sao có thể thanh khoản được? Ngậm ngùi, người cha đành khai tăng tuổi cho con, chờ hai năm nữa, rồi cạy cục xin cho con vào đại học quốc nội vậy.


Tài năng đích thực quả là bất chấp môi trường. Ngay năm học đầu, chàng dã nổi lên là một thiên tư toán học hơn hẳn chúng bạn. Người cha mừng lắm: “Con ơi, rồi con sẽ là một Anhxtanh đảo lộn cả khoa học tự nhiên và thế giới. Tất cả kẻ thù của con, những kẻ thù đã cản ngăn sự phát triển của con sẽ phải quỳ gối dưới chân con!”. Ngày đêm cha chàng chăm bón chí phục thù cho chàng. Còn chàng, từ nhỏ tới lớn chưa hao giờ chàng sống ngoài vòng tay săn sóc của cha chàng. Ngoài các Thánh trong hệ thống Kitô giáo mà chàng đư̖ết, chỉ còn có một vị Á thánh được chàng tôn vinh, ấy là cha chàng.


Cha chàng là vị Á thánh của chàng. Buồn thay, vị Á thánh lại không đủ sáng suốt để định hướng cho con trai của ngài. Ông đã đối lập đạo đức và khoa học, lòng nhân đạo và thiên tài. Thúc giục chàng dấn thân vào khoa học, đồng thời ông kích động những thói xấu như ích kỷ, kiêu căng, tự phụ, tàn bạo ở chàng. Ông còn mắc một sai lầm không thể tha thứ được vì làm chàng mê muội, không thấu hiểu thực tế môi trường, không biết tôn sùng các giá trị thiêng liêng. Đất nước này, nạn nhân của bao mưu toan độc ác, sống còn được đến ngày hôm nay, máu xương đổ cho cuộc giành giật đâu có ít. Làm sao mà họ có thể lơ là chính trị. Mẫn cảm chính trị của con người là thói quen bẩm sinh như tài năng toán học của chàng. Không hiểu điều đó là không hiểu hoàn cảnh sống của mình.


Tuy vậy, không phải vì xây dựng trên động cơ vị kỷ mà tài năng chàng sớm nở chóng tàn. Đích công danh là ngọn đèn pha chói sáng đâu có phải chỉ có sức soi đường chốc lát. Ngày đêm chàng mê mải đọc cuốn sách vĩ đại của tự nhiên viết bằng ngôn ngữ toán học. Chàng yêu toán vì khoái cảm hiểu biết. Chàng trở thành tình nhân của môn khoa học này, vì sắc đẹp của nó, vì sự hài hòa, cân đối, chính xác và bất ngờ của nó. Nhưng, thu hoạch lớn nhất của chàng lại là ở điểm lý thú này: chàng có thái độ khoa học hơn khi xem xét sự vật, kiểm xét mình đúng hơn và do đó bớt đi cái mộng ước hão huyền. Tài năng đã hiếm, thiên tài lại còn hiếm nữa. Thành ra, hết khóa học, chàng vui lòng nhận bằng tốt nghiệp hạng ưu, nhập vai một nhà giáo và định hướng tương lai trong khuôn khổ nghề nghiệp.


Như thế là chàng đã nhờ khoa học mà xây dựng nhân cách mà khắc phục những nhược điểm chàng nhiễm phải từ cha chàng. Nhưng quá trình này còn quá mới mẻ, thói xấu thành kiến trong chàng còn chưa được gột rửa và môi trường chàng sống thì còn thiếu điều kiện an toàn cho những kiếu năng lực làm chủ bản thân như chàng.


Đã thế, hoàn cảnh riêng của chàng lại không thuận lợi. Cha chàng, bậc Á thánh của chàng đã làm chàng thất vọng. Ông đã tự hại ông. Thấy con là một tài năng xuất chúng, ông nghĩ mình cũng vậy. Tới khi gần hết đời, lập ngôn không xong, trước tác không nổi, nhà văn hóa này đã xử sự một cách vô văn hóa là phá bĩnh đời mình. Trên đời thiếu gì kẻ vỡ mộng. Nhưng vỡ mộng rồi sinh hư đốn thì không nhiều. Bảy mươi tuổi, ông tung mình vào cuộc chơi; không theo được chí làm trai của Nguyễn Công Trứ thì tranh thủ nỗi gót thi nhân, quan điền sứ, ở sự hưởng lạc trần tục.


Thuật tới đòi cha cuốn Larousse mượn của Tự lúc ông đang sống với một mụ nạ dòng buôn sách. “Tao bán uống rượu rồi!”- ông đáp thản nhiên. Thuật hỏi: “Có còn ai tệ hơn ba không?”. Ông đáp: “Có! Mày!”.


Chả lẽ ông là Á thánh thật vì ông đã tiên tri về sự phát triển nhân cách, tài năng của Thuật? Sau khi không trúng tuyển kỳ thi nghiên cứu sinh lần thứ hai, trên thực tế, chàng đã bắt đầu suy đốn. Lúc này cùng với các thói xấu sổ lồng, trí thông minh tài xét đoán của chàng biến thành một kẻ ngông ngạo, khinh bạc và độc địa.


Tuy vậy, chàng vẫn chưa phải là một đống phế thải. Chàng có vẻ liều lĩnh, bất cần, nhưng bên trong chàng là nỗi xót xa ngấm ngầm. Có lẽ chỉ có Tự hiểu tâm trạng chàng. Giữa chàng và Tự, kẻ lận đận khốn khổ trên trường đời vạn dặm, còn một quan hệ cảm thông và trọng nể tài năng của nhau.


*


Tự nghĩ, chắc là Thuật sẽ tìm đến với anh. Sau cơn chấn động tâm tư. Thuật muốn có nơi nương tựa, giãi bày. Còn anh, lúc này có nhu cầu được san sẻ.


Dự đoán của Tự là đúng.


Lúc đó ngả chiều. Phượng như những tảng than trong hầm lò. Ve rền rĩ nhức óc. Mất điện lại bặt gió. Mồ hôi rịn ra, sền sệt, như mỡ chạt trên da. Trời xanh lờ lờ. Không khí vây ép dồn nén, bí bức. Các giáo viên tay cầm bút chấm bài, tay phành phạch cái quạt nan, quạt giấy, kêu than trách oán ông trời, chỉ mong một cái gì đó quái lạ bất thần xịch đến, chuyển đổi hoàn toàn khung cảnh tù hãm này.


Đang chấm nốt những bài cuối cùng của thí sinh ở vòng một. Tự bỗng nghe thấy tiếng Thuật nói ở ngay sau lưng mình:


- Hừ, lôgic là đại lừa bịp. Kinh thánh, các thứ chủ nghĩa và văn chương thì cũng vậy. La Phôngten đặc biệt là ngu ngốc, phản khoa học. Ve sầu kêu ve ve. Suốt mùa hè. Đến kỳ gió bấc thổi. Nguồn cơn thật bối rối 2. Cái con côn trùng gọi là ve này chỉ có tuổi thọ là bốn mươi hai ngày. Làm sao mà nó lại có thể ca hát suốt mùa hè, lại đến tận kỳ gió bấc thổi được? Thức ăn của nó là nhựa cây chứ đâu có phải là ruồi bọ như tác giả viết...


Tự biết, không phải Thuật muốn khoe khoang sự thông thái của mình.


Những tri thức vì con ve sầu Thuật phát hiện là hoàn toàn chính xác về mặt khoa học. Và Thuật thừa hiểu, tuy vậy bài thơ vẫn xứng đáng là giai phẩm trong kho tàng thơ ca của nhâloại.


Buông bút, Tự đứng lên, quay lại.


Quả nhiên, chỉ chờ có vậy Thuật đã hất hàm rất tự nhiên, tưởng như việc Thuật tới đây tìm Tự chỉ là chuyện thường tình.


- Chấm xong chưa?


- Còn một số hài nữa. Toán thế nào? Hôm nay liệu có xong được không?


- Có gì mà chẳng xong! Lâu nay vẫn gặp Kha?


- Thi thoảng.


- Lại những chuyện của một thời trẻ dại?


- Có cái đẹp của một thời hồn nhiên một đi không trở lại. Và, đã biết thế nào là hơn?


- Ôi, thiếu một điểm tựa khoa học. Như “Ve sầu và kiến”. Như kinh thánh và các lý thuyết.


- “Ve sầu và kiến” thì tuân theo một quy luật khác. Còn kinh thánh và các lý thuyết... vẫn có cái phần bất tử của nó, cái hạt nhân hợp lý của nó.


- Ông vẫn tin vào những cái gọi là bất tử? Ít nhất thì cũng như đã tin: cho tôi một điểm tựa, tôi sẽ nâng quả đất lên.


- Lời và lẽ đều tuyệt, ông luôn luôn là một phát súng lặng lẽ. Thành thực đấy.. Tự ạ. Nhưng có lẽ nên dời thường hơn nữa


- Cũng có nghĩa là phải vượt lên trên cấp độ tam đoạn luận thông tục.


- Học sinh thật có diễm phúc nên mới được học ông, Tự ạ. Mình không mảy may lỡm cợt, mặc dầu gần đây, mình nhiễm thói xấu đó vô cùng nặng nề... Thấy học sinh ông chúng cắm cúi làm bài mà mình tủi cho mình.


Giọng Thuật chợt lặng im. Khuôn mặt rửa sạch những nét ngạo ngược, tàn ác. Chỉ còn lại những nét nhăn già nua, khổ ải, cũ nát. Tự bỗng thấy cần phải hạ mình:


- Cũng chua được như ý mình mong. Dấu hiệu của sự chín muồi về thẩm mỹ chưa rõ. Ngay cả ở những bài xuất sắc.


- Đòi hỏi hơn thế nào dược. Vả lại, chúng sẽ làm được cái quái gì, giả dụ chúng là những tài năng thật sự? Hút đi. Tự!


Từ chối điếu thuốc Thuật mời. Tự bỗng lại nghi ngờ cảm giác của mình. Thuật đã lại như một cái túi vừa lộn trái ra.


- Mình quên là ông không hút. Mình bây giờ một ngày một bao rưỡi.


- Không ích gì!


- Còn gì vui nữa?


Lặng lẽ, hai người chuyển dịch ra ngoài hành lang vắng vẻ. Cẩm từ văn phòng đi tới, rẽ vào buồng nhóm Hóa. Nắng ngoài sân chợt nhợt thếch. Những cành phượng đang im phắc bỗng dật dờ rung động


- Thì ra ông đã lên văn phòng ở với Thống lý Pátra?


- Điện đóm ở nhà kém quá!


- Sống thế nào?


Bình thường!


- Stresse. Lục đục? Ỉ eo? Đói khổ? Bán sách? Thế đấy! Cái cuộc đời kỳ lạ này! Chẳng chết ngay một lúc. Sống dở chết dở! Thoi thóp! Ngoắc ngoải! Vì nghi kỵ, trấn áp, đói rét... vì các lực cản. Phải nói rằng chúng ta đã bị lừa. Làm gì có cái chung, như lợi ích chung, chẳng hạn. Một xã hội như ý là một xã hội trong đó mỗi cá nhân đdược sống hạnh phúc. Chứ không phải...


- Thuật!


Cần phải nói mà Tự cảm thấy mình như buột miệng. Có cái gì đó rất kì quái vừa xuất hiện. Bầu không khí dồn ép quanh anh như vừa bị đánh tơi, rãn ra. Từ công trường, một đám bụi óng ánh như vàng xoáy tròn theo hình một cái phễu đang lặng lẽ di chuyển vào sân trường. Trong giây lát, cơn oi nồng như một bình khí ngưng đọng bịt kín bỗng như bật nút. Và những cành phượng rẫy lên nổi hứng bất thần khi cơn lốc nhỏ tới sân trường và bốc dần lên cao. Cơn lốc, có hình một con gió cụt đầu.


- Đời người thì có bò bến hạn định, mà cái cần biết thì vô bờ, Thuật ạ.


- Rất hay!


- Có những lúc cần hết sức tỉnh


- Tôi đang nói chuyện với một nhân vật lớn.


- Mọi câu chuyện đều cần có một véctơ giới hạn, Thuật ạ.


- Tôi hiểu chứ.


- Tagor nói: Nếu anh khóc mặt trời, anh sẽ mất các vì sao.


- Mình hiểu ý ông. Nhưng, Tự a, ông có cảm thấy là đang phải sống như một nghệ nhân xiếc, tức là phải cố vươn tới cái bất khả?


- Làm sao cưỡng lại được cái dòng chảy mạnh mẽ tự nhiên của chính mình?


- Vở kịch bắt đầu từ đó. Tự ơi, đừng ngắt lời mình.


Thuật bước sát tới cạnh Tự, riết róng bồn ngộn:


- Cách đây hơn mười năm khi đến thăm một giờ dạy của ông, mình đã nói gì, ông còn nhớ không? “Tự ơi, người thay đổi kiến trúc tâm hồn tôi…”. Đến nay những lời đó đối với mình, vẫn đúng. Hình ảnh ông ám ảnh mình. Ông là nhân vật lớn của một bi kịch lớn. Bi kịch của một bữa tiệc giang dở, một đám cưới không thành, một cuốn sách hay để lầm chỗ. Ông đẹp cao cả trong buồn đau. Mình mến mộ ông, tôn quý ông. Nhưng nói thật, mình không thể theo ông được. Trí thức Việt Nam hèn đi rồi, hèn từ Nguyễn Trãi kia. Đã về ở ẩn rồi lại ra làm quan. Nghĩa là dùng dằng giữa xuất và xử. Lạ thật, sao từ xưa tới nay không ai nói lên điều này nhỉ? Mình cũng hèn. Hèn vì không thoát ra được dục vọng. Nhưng, Tự ự có thấy không, hàng ngày chúng ta lên lớp, chúng ta làm một việc cao cả, nhưng lại hết sức vô lý. Trong một lớp học, có ba trình độ: giỏi, trung bình, kém. Chúng ta lấy số trung bình và kém làm đối lượng để từ đó đề ra nội dung, phương pháp giảng dạy. Chúng ta nghĩ rằng như thế là hợp lý, là nhân đạo. Nhưng mà như thế thì bao giờ mới đến cái thời mà mọi người sống, làm việc học hành không ai ngăn cản ai, không ai bị ai ngăn cản? Không ai bị ai gây sức ép, kể cả sức ép về tâm lý?


Chính Thuật mới là một nhân vật của bi kịch Sêchxpia đang cất cao bản độc thoại. Thuật là cơn lốc, là cơn gió cụt đầu. Thuật vừa tỉnh vừa rối loạn. Thuật xót xa và bất lực. Thuật không chỉ đáng khinh. Gạt đi cái bề ngoài nhiễu sự, cái hình sắc ma mãnh, thiếu thiện tâm, có thể tìm thấy ở ngôn ngữ, cử chỉ, hành vi của con người này một khát vọng nhân văn.


Cơn gió cụt đầu ngoài sân trường đang mở rộng vùng quyền lực. Cái phễu vàng óng ánh lớn dần, ném rào rào cát bụi ra xung quanh, cây rung đảo trong một vũ điệu dị thường, hỗn mang. Cơn lốc ấy chính là tín sứ thiêng liêng của một trận giông gió và mưa rào từ hôm nay sẽ xuất hiện đều đều vào các buổi chiều.


Thấy cây trong sân trường ào ào nổi gió. Cẩm từ buồng chấm thi của nhóm Hóa bước ra cửa, đi dọc theo hành lang, mặt hoan hỉ khác thường.


Không thể ngờ đã xuất hiện một trạng huống éo le lúc đó. Quái gở thật! Chính lúc ấy, Thuật giật mẩu thuốc lá khỏi môi, trong một cử chỉ buồn nản tột cùng, vứt nó qua vai mình ra phía sau. Cẩm vừa bước tới. Mẩu thuốc lá đỏ lòe đã đóng trọn vai một mồi lửa ngẫu nhiên. Nó đáp trúng mặt Cẩm.


- Đồ chó! Đồ khốn


Xô cả tấm thân chắc nịch như chiếc cối đá lỗ tới. Cẩm giống như một con giông bất thần. Thuật quay lại, thần mặt lặng đi mấy giây. Cuộc đối mặt giữa hai người thật tình lúc này ngoài ý muốn của Thuật, thế nhưng nhất định là không thể tránh khỏi. Nó là hệ quả của những va chạm nhiều lần trước đây giữa họ. Nó là tiền định, là tất yếu.


- Mày bảo ai là đồ chó, hở thằng mõ?


- Mày! Mày là đò chó! Đồ chó đểu!


Tự bị đẩy sang một bên. Thuật chấp nhận đối đầu. Và Cẩm như đã có sự chuẩn bị, mặt càng đỏ, răng nghiến chèo chẹo:


- Đồ khốn! Cả một năm trời dạy dỗ bố láo, chỉ nhăm nhăm kiếm tiền làm giàu, gây bao tiếng xấu tổn hại đến thanh danh nhà trường. Làm khổ từ lãnh đạo đến học trò. Gây ai oán cho bao gia đình học sinh. Đã không biết điều, lại còn giở trò càn rỡ thế à!


Đó là lời kết tội Thuật đầy đủ nhất, thể hiện thật rõ tâm trạng Cẩm lúc này. Thuật, với kết quả bi đát của môn toán thi, rõ ràng là một tên tội phạm mà Cẩm không thể tha thứ. Cẩm có quyền trừng phạt Thuật và Thuật không được phép chống án.


Không thể ngờ lời kết án của Cẩm lại đạt dược hiệu quả đúng như Cẩm mong muốn. Đang hung hăng chống trả, Thuật bỗng sựng lại, thả nắm tay, co rúm lại. Rồi vừa yếu đuối, vừa hèn hạ, rên khe khẽ như van xin, để mặc Cẩm áp tới, túm lấy cổ áo, chẹn cổ họng bằng hai nắm đấm lớn và du giật một h


Từ văn phòng, không kìm được cơn tức hứng trước sự chuyển hóa của bầu không khí chiều hè, ông Thống nhảy ra sân, reo toáng:


- Cùng tắc biến. Biến tắc thông! Giông giải nhiệt rồi, bà con ơi!


Giữa tiếng gió giật, dập thoàng thoàng những cánh cửa tôn. Tự là một cơn giận dữ thật sự. Anh phắt lại, thét một tiếng và dùng đôi tay với toàn bộ sức lực, đẩy Cẩm, tách cái xác thịt nồng nặc ý muốn trả hận ra khỏi gã nạn nhân hèn hạ của nó.


Nhận ra sự quá trớn của hành động, Cẩm vội buông tay, quay đầu đi ngược trở lại phía văn phòng.


Lắc lắc cái đầu rối bù rũ rượi, Thuật khặc khừ, nhưng khi nhận thấy Cẩm đã bỏ đi, mối đe dọa đã không còn, liền chồm tới huơ hai cánh tay khẳng kheo trên không. rít khe khẽ:


- Cẩm! Cẩm! Thằng mõ! Mày dám hành hung ông hả? Mày chết với ông! Ôi anh em ơi! Bắt hộ tôi thằng mõ kia với!


Ông Thống đã cản được Thuật, Thuật rẫy:


- Buông tôi ra, ông Thống lý! Tôi quyết liều chết với nó đây. Chính nó và thằng Dương đã hại đời tôi. Lãnh đạo gì chúng nó. Chúng nó là Hitle, Pinôchê, Pôn Pốt, Sômôsa, Chun Đô Hoan, Xađát. Đuáctê. Vì chúng nó đầu cơ chính trị, phê xấu vào lý lịch tôi mà tôi hai lần trượt nghiên cứu sinh. Để bây giờ tôi thảm hại thế này. Ôi giời ôi, bọn lưu manh khoác áo đạo đức!


Ông Thống đẩy Thật, cao tiếng quát:


- Thày Thuật, thầy ngộ dại hay sao thế?


Thuật hơi lùi lại, vằn mắt, miệng nhễu bọt:


- Ừ, ngộ dại đấy! Điên đấy! Cụ Thống, cụ nhìn mắt tôi hộ xem. Mắt tôi hay mắt mượn, hả? Cụ Thống ạ, mua chó giống phải biết chọn con khôn, con thần cẩu. Tôi dùng mắt nhìn ra con thần cẩu. Huống hồ người. Cụ Thống ơi, chiếm hữu quyền lực là chiếm hữu khôn ngoan, tinh tế bằng mấy chiếm hữu tư liệu sản xuất ấy chứ.


Từ các buồng chấm thi, nghe tiếng Thuật gào và tiếng mưa rơi, các giáo viên ùa ra hiên. Nhưng, tất cả lại thụt vào, rồi thập thò nhìn ngó.


Mưa nặng hạt, ném chéo góc lạch tạch một đợt vào hàng hiên. Rồi như hẫng hụt, không gian im phắc.


Trong văn phòng hắt ra tiếng quay máy điện thoại như khoan vào không khí. Tiếp đó tiếng Dương ráo riết: “Công an quận đâu? Công an quận đâu?”.


____


(1)Perey Shelley: Nhà thơ Anh, 1792-1822.


(2)"Ve sầu và kiến", thơ La Phôngten.


CHƯƠNG 13


Mưa sầm sập cùng giông gió trằn mình một hiệp âm oà oà rừng rú. Mưa như một giai điệu phát lộ từ vô thức của thiên tài tạo hóa - chàng phó cả tài tình đã biết đáp ứng nhu cầu phá vỡ sự im lặng căng thẳng và dìm chết nghỉm thói ngông ngược của người đời.


Chiều qua cơn giông kèm mưa lớn đã khiến con người quên cả bản thân mình. Cuộc dụng độ xấu xa giữa vị chủ tịch hội đồng và gã giáo viên toán học trở nên một chi tiết nhỏ mọn vô nghĩa giữa cuộc vần vũ vĩ dại của tự nhiên.


Còn bây giờ, náu mình trong căn gác xép giữa mưa trong không gian ba chiều nghĩ về những gì đã xảy ra, Tự nhận ra đời sống hư đốn và phồn tạp một cách lạ lùng. Anh bỗng thấy thèm muốn một đời sống yên bình, giản dị. Một ngày mệt bã, sau cuộc săn bắn thú rừng và hái lượm cây trái, vợ chồng bầy đàn người nguyên thủy kéo nhau về hang động. Lửa đốt bập bùng. Hình con bison, con tuần lộc trên vách hang chập chờn sáng tối như một ý tưởng thần linh.


Có lẽ vì thấy Tự ngước mắt ngờ nghệch nhìn cái cửa sổ nơi đầu hồi đã bị thu hẹp như một lỗ thông hơi, cái Hoạt phải lên cao giọng, át mưa, để anh phải chú ý:


- Bố ạ, lúc đầu chú Quỳnh chú ấy còn định xây cao nữa kia. Nhưng sau mẹ không cho, thế là chú ấy phải hạ bớt năm hàng gạch. Bố ơi, bây giờ, cô chú Quỳnh được tất cả các bác trong căn hộ này quý mến lắm cơ. Cô ấy đi buôn Sài Gòn ra, biếu mỗi gia đình một quả dưa to bằng cái ấm giỏ, bố ạ. Cô ấy trông buồn cười lắm. Mà lại già hơn chú ấy nhé!


Mắt Tự vẫn chưa rời lỗ cửa sổ, như đang đo đại khoảng trời vừa bị tước đoạt.


- Bố ạ, mẹ gom tất cả tiền bố bán xe, bán lốp, cả tiền chú học sinh gì gửi biếu bố nữa, được đâu hơn hai mươi nghìn. Mẹ không mua vàng. Mẹ bảo để góp vốn chung với chú Quỳnh. Kìa, bố có nghe con nói không?


Lần này thì Tự để hai con mắt in vào khuôn mặt con gái. Anh nhận ra giọng nói của nó chứa đựng một ẩn ngữ.


- Bố vẫn nghe đây! Nói đi con! Có chuyện gì lạ không?


- Không có gì đâu, bố ạ.


- Thế là con không học thêm toán nữa à?


- Có chứ, bố!


- Sao bảo mẹ không cho đi?


- Lúc đầu thôi. Sau mẹ lại đồng ý! Vì chú Quỳnh chú ấy nói. Nhưng, con không đến lóp học đâu, bố ạ. Con học ở ngay nhà này thôi. Có ba đứa bạn với con là bốn. Mở một lớp chính chú Quỳnh chú ấy dạy. Chú ấy là kỹ sư đấy, bố ạ.


- Nhưng, đến lớp có thầy chuyên vẫn tốt hơn, con ạ.


- Nhưng, như thế lại phải đi xa. Lại tốn tiền. Bố ạ, một hôm con ở nhà một mình thì chú Quỳnh vào. Chú ấy bảo: cho chú xem cái gác xép một tí. Rồi chú ấy trèo lên. Xong, chú ấy xoa tay, bảo: Sau này chú và mẹ cháu hợp tác sản xuất ủng cao su, cái gác xép này dùng làm kho chứa thì tha hồ tiện. Con bảo: Không được đâu. Thư viện của bố cháu quý gấ trăm lần ủng cao su của chú ấy chứ!


*


Tự có cảm giác mình trở lại trạng thái xác định, khi cái Hoạt đột ngột rời căn gác xuống nhà đi chợ. Cảm giác ấy có lẽ là do phong thái u trầm của căn gác khơi gợi. Cũng là do sự tĩnh mặc và mùi hương xưa cũ tỏa ra từ những cuốn sách xếp trên giá không một chút vô tri, lặng lẽ một tiếng gọi rủ rê anh về nguồn.


Sau những giờ phút ồn ã, tất bật, được lĩnh lặng, Tự mới nhận ra con người ta thật là giàu có, và chẳng khi nào có thể bị tước đoạt hết sạch dược. Người xưa nói: Chính thì tĩnh, tĩnh thì sáng. Điều đó hoàn toàn đúng với anh lúc này. Cơn mưa gột rửa bầu trời. Sự yên tĩnh lau rửa hồn anh. Anh như gương soi cho mọi người, như gương soi cho chính anh. Làm sao anh lại kinh sợ cuộc sống hôm nay, muốn trở lại cái đời sống thô giản của loài người nguyên thủy khi xưa?


Dẫu có thế nào thì anh vẫn yêu cái ngày hôm nay. Cái ngày hôm nay là anh, chính là cái quả của muôn cuộc vận động, từ thời xưa con người còn ăn lông ở lỗ đến bây giờ. Bởi vì, đã có một thời con người sống trong hang động, sống thành bầy đoàn. Có cả một nền văn hóa hang động. Ấy là nền văn hóa vật chất, là những điệu vũ quanh ngọn lửa, là những bức tranh khắc trên vách hang. Có nhiều điều lý thú khi nghiên cứu nền văn hóa tinh thần thời này. Trước hết, đó là ý thức bầy đàn biểu hiện rất rõ ở bức tranh một cộng đồng người hình thành thế bao vây con thú. Sau đó là sự hiểu biết về sức mạnh tâm linh của con người. Người nguyên thủy vẽ con tuần lộc lên vách hang, không chỉ là để tập ngắm lao vào bắn tên nỏ. Người nguyên thủy vẽ con tuộc được tức là chế ngự được con thú, họ tin ở sức mạnh không chỉ là cơ bắp của mình.


Anh là con cháu người nguyên thủy. Anh đã vượt xa tổ tiên về cả hai phương diện. Cộng đồng người của anh là tập hợp của những cá thể có ý thức và bản lĩnh riêng. Anh và người khác vừa cố kết, vừa phân ly, vừa nương tựa, vừa phủ định nhau. Sức mạnh cơ bắp của anh có thể là thua kém bậc tổ tiên. Nhưng tinh thần, tư tưởng, tình cảm, tâm hồn anh là một thực thể mạnh mẽ. Nó là của báu của anh, của riêng anh. Nó chỉ mất khi anh chết. Không một kẻ nào có thể khống chế, giành giật, mua bán được nó. Gamzatốp nói: nó nặng gấp trăm lần thể xác là muốn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải cưu mang. đoàn kết giữa người và người. Còn anh, anh nói: nó không nặng, không nhẹ, nó vô hình vô ảnh, nó mù mịt với những kẻ nào muốn bắt nó phải phụ thuộc, muốn nắm giữ nó, cai quản nó, biến nó thành trâu ngựa, thành mèo bắt chuột, chó giữ nhà. Nó cần phải thế vì con cháu của lớp người tiền sử còn có một thế hệ người mang giống máu sát nhân, luôn luôn muốn bắt nó làm nô lệ.


Cái thú thẩm mỹ cao cấp của tuổi bốn mươi ba nơi Tự là sự hướng nội. Anh nhận ra mình: một chủ thể độc lập và tự do.


Tiếng lăn lịch kịch của hai chiếc vành bánh xe cải tiến đã khiến Tự bỏ lại cuộc tâm giao với chính mình. trở về với cảnh huống hiện thực xung quanh anh.


Cánh cửa.kẹt một vệt quệt nặng nề.


Ngoài sân phơi phới nắng, một chiếc xe kéo bánh cao su vừa hạ hai cái càng bóng như cặp sừng voi. Trên xe, nằm trên hai thành vách, kềnh càng một chiếc tủ ly hình chữ nhật, bốn chân tiện thắt quả bồng, bóng lộn và sáng choang ba mặt kính


Mắm môi mắm lợi đẩy khẩu độ cánh cửa một lần nữa cho nó mở hết cỡ, mặt Xuyến đã hồng như mặt con gái trên tranh Tàu. Chưa bao giờ Xuyến có hình sắc, diện mạo lạ lùng như lúc này. Chiếc áo thun màu lam sọc trắng cộc tay, cổ tròn, ôm rịt một khuôn ngực nở như sắp bung nứt cả làn vải. Cái quần âu, chưa bao giờ Xuyến mặc quần âu cả, có làm Xuyến hơi xệ xuống, thấp đi, nhưng lại cho Xuyến nét vẽ thiếu phụ phố phường. Xuyến còn trang điềm bằng phấn son. Có lẽ là lần đầu và hơi tham như tính Xuyến, nên quầng mắt bôi hơi thẫm và đôi môi tô quá đỏ. Khuôn mặt lòe loẹt biểu hiện một biến động sâu xa trong đời sống Xuyến. Xuyến đang muốn mình đẹp lên, trẻ ra, kể từ giọng nói. Giọng Xuyến nhí nhảnh, thanh trong:


- Này, các chú! Đều tay hộ chị.


- Chị cả cứ yên trí!


- Nhè nhẹ lay! Cái mặt kính... cẩn thận!


- Yên tâm, bà chị. Ai chứ người của anh Quỳnh em...


- Rõ lém cái chú này!


- Hị hị!


Tiếng cười tắt. Nổi lên tiếng thở è è. Tiếng bước chân dò dẫm thận trọng. Rồi kịch một tiếng động gọn như một dấu chấm. Chiếc tủ li dài thượt trên tay bốn gã trai ngộc nghệch, xù xì lọt qua khung cửa, xoay ngang, chuyển dọc, loay hoay một hồi đã được đặt xuống, chễm chệ đứng giữa căn buồng.


Gã traiứng ở đầu tủ, trụt mũ Lơvit trà vào mặt, nhe hàm răng sún:


- Gớm, dài rộng y sì cỗ hậu sự!


- Thỉ thui mồm cái chú này! Nào, cho nó sát vào tường nhé. Tay đặt xuống đáy tất cả hộ chị, nào!


Xuyến lườm gã sún, giục cả bọn, nhưng vừa cúi xuống đã buông tay, ngẩng lên, mặt son phấn tươi như hoa. Quỳnh xì xịt mặt rượu, cổ tay phải ngoắc ví da, áo may ô trắng, quần soóc bò hoa ôm hai bắp vế rắn chắc, nâu sẫm, bước vào buồng, liếc cái tủ và đưa mắt nhìn quanh, tự nhiên như chính mình là chủ nhân căn buồng và cái đồ vật quý giá nọ:


- Hãy khoan, để xem kê ở đâu cho đẹp.


Ngoài cửa ló vào gương mặt mảnh như cái lá nón của cô Trình:


- Nhà này mạnh nhỉ!


Quỳnh nhằn nhằn môi:


- Tàm tạm thôi! Còn mệt mới bằng mình đuợc!


- Rõ dơ! Ai khiến mà cứ vơ vào mình nhỉ! Chị Xuyến này, trên mặt tủ để cái Samsung màu bảy hệ với cái JVC hai cửa, năm gạt, ba cục nữa thì hết ý đấy!


Xuyến dẩu môi:


- Cứ làm như hót được của không bằng ấy! Mua chịu đấy, cô


- Theo anh Quỳnh là đâu khắc có đó. Là xong hết!


- Ăn với nói, cái cô này!


- Này, đừng hòng giấu con này nhé!


- Rõ nặc nô!


Mặt Xuyến bừng men nắng. Quỳnh tảng lờ, trong vai ông chủ ngó ngàng ngang ngửa mải tìm thế kê tủ.


Cô Trình nhe răng đắc ý:


- Ai người ta làm gì mà phải chối! Này, ra đây em hỏi cái này.


Xuyến đi ra cửa. Nghe thấy tiếng hai người lầm thầm. Quỳnh quay ngoắt lại:


- Định họp hội gì thế? Cho mình tham dự một suất có được không?


- Có gì đâu. Bà xã nhà anh chọn địa điểm này...


- Ơ kìa! Cái bà Xuyến này! Lại tông tốc khai ra hết đấy!


Xuyến cười, lẳng một cái nhìn cảm thông qua Quỳnh, rồi réo rắc:


- Nào, kê vào chỗ ấy được chưa? Các chú, hộ chị cho nó gọn nhà, gọn cửa nào!


Tự rơi vào một tình cảnh khó xửằm im, giấu mình trên gác xép thì không đành. Việc của gia đình mình lẽ nào mình lại như một kẻ ngoài cuộc. Nhưng, xuống cùng tham gia kê dọn thì lạc lõng, giữa những kẻ xa lạ từ quan hệ đến lời ăn tiếng nói. Không khéo chỉ tổ làm cho Xuyến bực mình.


Hóa ra, Tự cứ như một cuốn sách hay nhưng để sai chỗ, một kẻ có tâm hồn cao đẹp, rất đáng tự hào nhưng sống lầm thời, lỡ cỡ.


May mà bọn người nọ không ai ác ý xem Tự có ở trên gác xép hay không. May mà cả dám người nọ ào cái xong việc, rồi như những bóng ma, kéo nhau biến mất ngay lập tức.


Căn buồng chỉ còn lại mình Xuyến.


Xuyến đứng trước cái tủ mới, hai tay đặt trước ngực, cảm động như thiếu nữ đứng trước gương, thảng thốt và nao nức ngập tràn:


- Đẹp quá! Cái tủ của mình đẹp quá là đẹp!


*


- Ối dào, gần nhà xa ngõ, giờ mới biết nhà chị giáo đây!


- Chào chị Xuyến nhé.


- Có phải chồng chị Xuyến này là anh giáo gì gầy gầy như cò hương không?


- Giáo học cấp ba đấy,


- Úi, cái tủ ba buồng!


Nghe thấy tiếng đàn bà lao xao ngoài khuôn cửa. Xuyến vội quay lưng lại cái tủ ly, chạy ra, đon đả. Có đến bảy tám bà, đều ở cỡ tuổi hồi xuân, mặt hoa da phấn, mỡ màng, no nê. Chẳng bà nào chịu gầy lép cho. Bà thì là cái thùng tô nô. Bà là cái bồ. Bà giống cái chuông. Giống đặc nhau cả ở điệu bộ. Vừa vào tới nhà, đã ngó nghiêng, đánh giá các đồ vật theo giá vàng, mặt vừa háo của, vừa dị hợm.


Xuyến chạy vào sau cái riđô hoa che chiếc giường đôi, ôm ra chiếc chiếu, mặt tươi hơn hớn:


- Mời các chị ngồi đây ạ. Dạ, nhà em không có đồ đạc gì nên trông nó rộng thế thôi ạ.


Chiếc chiếu hoa đỏ in một chữ “Hỉ” kiểu triện tròn ở giữa,. trải ngay ngắn trước cái tủ li lập tức như mọc lên mấy đụn thịt sống.


Xuyến lại chạy vào sau cái riđô. Trở ra với chồng bát sứ còn chục chiếc và một cái âu đồng trên tay thì ngoài cửa cô Trình vẹo người, văng chân dệch vào, theo sau là một người đàn bà to xệ, vai u, đầu nhỏ như quả dừa, tóc lơ xơ, hai mắt ti hí lại lác xệch lác xẹo, lút giữa cái mặt nạc những thịt là thịt.


- Chào chị ạ! Em chào chị ạ! - Thật không thể ngờ được người đàn bà dị dạng nọ lại được hưởng sự cung kính và chào đón niềm nở của đám dàn bà đến trước thế. Tất cả các đụn thịt sống đều đứng cả dậy. Quá nhân viên với thủ trưởng. Người đàn bà dị dạng ấy chính là vợ Quỳnh.


Vợ Quỳnh ngồi xuống chiếu lập tức kéo cái âu đồng vào lòng rồi đưa hai con mắt lác lên ngưỡng thiên, rạch ngang rạch dọc, kiểm soát của chìm của nổi ở căn buồng. Cuối cùng, ả dừng lại ở cái gác xép:


- Cái gác quý nhẩy!


Xuyến như thuộc hạ, vội khép nép:


- Dạ, may mà hồi ấy em nhanh tay thuê được.


- Giờ, nguyên hoa hồng, phải ba cây.


- Ba cây em lấy ngay.


Cô Trình lên liếng. Năm sáu cái mặt cùng nghển nghển với những cái mũi tẹt dí hênh hếch:


- Nhà đang xuống giá rồi, chị ơi.


- Gớm toàn sách là sách. Nhà trí thức có khác.


- Chuyện, ông giáo không có sách thì lấy cứt mà dạy à.


- Kín đáo nhỉ. Bồ bịch mà kéo nhau lên đấy hú hí thì còn gì bằng!


- Cho bà thuê đấy!


- Dễ tao sợ! Đã chơi thì gầm cầu, nhà xí tao cũng đ. s


- Thật tôi không ghét ai bằng ghét sách. Trí thức với lại trí ngủ. Vợ chồng trí thức ở cạnh nhà tôi ấy à, chí chóc suốt ngày vì túng đói thì có.


Xuyến bật cười cùng bà vừa nói. Nhưng, vừa cười chị vừa ngượng nghịu thanh minh:


- Trí thức gì đâu. Giáo viên quèn, bán cháo phổi chẳng đủ ăn đâu, chị ơi.


Vợ Quỳnh từ nãy vẫn im, giò vuốt mép, kẻ cả:


- Thế nhà anh đã có nơi nào kiếm thêm chưa?


- Giờ ai người ta học văn, hả chị?


Khe khẽ lắc nhẹ cái đầu quả dừa, vợ Quỳnh thủng thẳng:


- Cũng có đấy, cô ạ. Để tôi giới thiệu cho một chỗ. Nhà này có hai cô con gái đẹp như tiên giáng thế, năm tới thi vào ngành ngoại giao. Ôi giời, nhà người ta ấy à, còn hơn nhà bộ trưởng nhé. Thầy bước vào đã sẵn bao ba số đặt trên bàn. Thầy ra, phong bì đựng một thiên đưa liền tận tay.


- Ôi giời, một nghìn!


- Chứ còn gì.


- Vô lý! Vô lý!


- Đúng thế. Chị em mình ngược xuôi vất vả, liệu có buổi nào được một thiên không? Đây, mưa không đến mặt, nắng không đến đầu.


- Tiền đâu dễ kiếm thế! Dễ có là vỏ hến chắc!


Giữa cơn phẫn nộ nổi dậy đùng đùng, bà ghét sách là người to tiếng hơn cả. Bà toang toác:


- Thật tôi không ghét ai bằng ghét các lão giáo học. Thà là cầy cuốc, culi poóctê cho nó cam, ít ra thì cũng phải đổ mồ hôi chứ. Đằng này vốn liếng một trinh một chữ cũng không mất. Chỉ có nói không mà ăn tiền! Đúng như người ta chê cười đấy, quân này là quân dài lưng tốn vải...


Trên gác xép Tự như bị cầm tù. Bịt tai lại thì không nổi. Nhảy xuống chỉ mặt họ mà tranh cãi thì vô nghĩa. Chỉ có cách nằm nghe mà cười thầm, mà buồn cay đắng. Ra cái “dân trí” của dám các bà buôn, cái đám người đang đông lên, đang ngày càng có thế lực ở nước ta là vậy. Nghĩ mà thương thay cho thân phận mấy anh giáo quèn, giáo khổ! Nhưng mà chẳng lẽ với đám người kinh doanh một giây là một cơ hội làm giàu, mà họ lại bỏ cả một đống thời gian chỉ là để lên án mấy anh giáo quèn và chuyện trò nhăng cuội?


*


Thắc mắc của Tự đã được giải đáp. Vợ Quỳnh đằng hắng rồi trịnh trọng:


- Bây giờ tôi có ý kiến thế này. Trước hết, tôi giới thiệu cô Xuyến từ nay tham gia hội bát họ của ta. Địa điểm từ nay đặt ở đây, kín đáo lại sạch sẽ. Tôi trông giỏ bỏ thóc chứ không ạ đâu bỏ đấy đâu. Hôm nay chị em ta họp để bỏ tháng đầu. Có ai có ý kiến gì không?


Không ai có ý kiến. Vợ Quỳnh thọc tay vào cái âu đồng bốc lên một nắm toàn tiền nhôm, loại một đồng, loại hai hào, loại năm xu. Mua rượu sắm bầu, đi câu sắm giỏ. Việc nào đồ nghề ấy. Việc này đồ nghề là nắm tiền nhôm và bát, giản dị vậy thôi. Vừa chia cho mỗi người một bát, vợ Quỳnh vừa nói vậy. Xong đâu đấy, ả đánh lưỡi tặc một cái rồi nhìn vòng quanh một lượt:


- Luật bát họ, các chị biết cả rồi. Cần nhất là giữ cái chữ tín với nhau. Sau nữa, đẻ con nào cắt rốn con đó. Tháng nào gọn tháng ấy. Không nợ nần dây dưa sang tháng sau. Ngày rằm thu tiền xong là họp để mua. Như hôm nay đây, ai muốn lấy tháng đầu, là do mình tự quyết định.


Thấy Xuyến chớp chớp mắt chưa hiểu, vợ Quỳnh liền đằng hắng tiếp:


- Có nghĩa rằng... ai mua cao hơn tất cả thì người đó được lấy tháng đầu. Cô hiểu chưa?


Xuyến gật đầu. Bà ghét sách, ghét giáo viên ra cái điều hiểu biết, lừ mắt:


- Thế còn nhà cái?


Vợ Quỳnh toét hai cái môi dầy:


- Ấy đấy, xuýt lại quên. Em giữ chân nhà cái thì em được quyền lấy tháng thứ hai, không mất tiền mua.


- Đúng rồi


- Luật từ thời Tây vưỡn vậy mà.


Vợ Quỳnh gật, đoạn chỉ tay qua cả chục cái bát đang ngửa tênh hênh trên chiếu:


- Bây giờ, các chị úp hết bát xuống đi! Rồi các chị bốc tiền ở cái âu đồng này. Em nhắc lại nhé: Đồng một đồng ta coi là hai ngàn. Đồng hai hào là một ngàn, năm xu là một trăm. Nhà quân nào đặt giá bao nhiêu cứ theo đó mà bốc, rồi cho vào bát úp lại. Xong, ta sẽ mở bát. Nhà quân nào đặt giá cao nhất là thắng! Nào!


Bảy tám bàn tay múp míp vàng chóc nhẫn vàng, lóng lánh mặt ngọc xanh đỏ lập tức tiến ngay tới mép cái âu đồng. Thành thạo và tợn tạo, chúng thọc vào lòng âu. Xu hào, đồng, kêu loạng xoạng. Toàn những nhà quân đang khát vốn để kinh doanh hàng xa xỉ phẩm lậu từ Thái Lan, Hồng Kông bí mật tuồn về.


Rụt rè, e sợ khéo chỉ có Xuyến.


Tay Xuyến mân mê cái bát úp. Mắt Xuyến lúc hấp háy háo hức, lúc lóng lánh, nghi ngại.


Cô Trình hé bát, dúi một nắm tiền lớn vào, quay lại, thúc khuỷu tay vào sườn Xuyến:


- Mạnh dạn lên! Tiền ở trong nhà, tiền chửa. Tiền ra ngoài cửa, tiền đẻ. Lo gì mà lo!


Được khích lệ. Xuyến thẳng người dậy, dò dè đưa bàn tay về phía cái âu đồng. Nhưng, chưa chạm tới vành âu, bàn tay Xuyến đã rụt trở về.ợ Quỳnh phát tẹt một cái vào đùi Xuyến:


- Cô này hay nhỉ? Sợ cái gì nào! Hay là cô chưa cần? Chưa cần thì thôi!


- Em muốn có ít vốn để…


- Thế thì mua đi! Hai nghìn! Ba nghìn! Ba nghìn rưỡi! Đâu có phải bỗng chốc có được bát họ từng ấy tiền. Dài áo dễ mua, lắm tiền dễ buôn, cô ạ. Vừa rồi, tôi trượt một món cũng vì cái mỏng vốn quá.


Bà ghét sách, ghét giáo ôm cái bát úp, rung đùi, cười he he:


- Ăn nhau là ở chỗ dầm vốn, cô Xuyến ạ!


- Thời buổi này có tiền là có tất cả…


- Thì vưỡn là vậy. Kim ngân còn phá cả luật lệ nữa cơ. Tư bản, cộng sản, anh chó nào chả thích tiền!


- Tiền và bướm, bà ạ.


- Có tiền khắc có cả bướm.


- Hí hí!... thật thế.


- Để tôi bốc hộ chị giáo nhé!


- Cứ bốc bừa đi, cô Xuyến. Khắc chơi rồi khắc có kinh nghiệm mà. Nó cũng như ngủ với giai ấy. Hé hé...


- Chứ còn gì. Ai người ta dạy bà hai chữ ngoại tình nào!


- Ăn quà, ai mà chả thích.


- Hí hí...


Xuyến thò tay vào chiếc âu đồng. Những đồng tiền mát rượi tay Xuyến, truyền về tim Xuyến những dòng điện đê mê.


*


Một trích đoạn văn học phong tục miêu tả sinh hoạt của đám các bà ký, bà phán, cô giáo... nơi phố phủ, phố huyện tỉnh nhỏ mà Tự dã đọc trong các văn phẩm viết trước cách mạng của các nhà văn trong Tự lực Văn đoàn?


Không! Đó chỉ là đôi ba nét đời thường ngày hôm nay mà Xuyến còn chưa quen. Địa hạt này bề bộn, pha tạp mà Xuyến lại quá đơn so. Dẫu đã tập tành, Xuyến cũng chưa vượt qua được cấp binh nhất ở mặt trận kinh doanh trục lợi nhà nghề, gồm toàn những tay đàn chị tướng sĩ tượng sừng sỏ này.


Xuyến vẫn còn bỡ ngõ lắm!


Tự thấy thương Xuyến hơn bao giờ. Tự không xa lạ với đời thường, anh gần gụi với cái nghèo, cái khổ, điều oan nỗi ức, cảm thông với mỗi hơi thở, mỗi nhịp tim, mỗi ước muốn nao nao trong ánh mắt người. Anh hiểu cái tục lụy trong đời sống. Anh không phải là một kẻ cứng nhắc, đN tôn giá trị của mình đến mức phủi tuột những giá trị khác. Giữ vững cá tính nhưng không đặt hàng rào ngăn cách, đó là quy tắc của nghệ thuật sống chung mà anh đã thực hiện với mọi người, trong đó có cả Xuyến. Ôi, Xuyến, người vợ của anh! Người mà ngay khi ký tên vào mảnh giấy kết liên hai mảnh đời đơn chiếc lại cùng nhau, anh đã hiểu cô, như hiểu chính bản thân anh, dẫu rằng sau này những biến dạng của trạng thái tinh thần cô vẫn làm anh vô cùng buồn phiền.


Với Xuyến, Tự không hề lý tưởng hóa.


Anh quen Xuyến khi anh đã ngoài ba mươi tuổi và Xuyến đã hăm bảy, vừa từ nông thôn lên, sau mấy năm bế con, nội trợ cho vợ chồng một người anh họ, học qua một lớp sơ cấp, về làm nhân viên thư viện ở một khu phố. Anh hay đến đấy mượn sách và đọc sách. Vừa nhận ra tính tình bộc trực và vẻ đẹp thôn nữ thuần phác của cô, anh cũng nhận ra cô là một phụ nữ quê kệch. Đi xem phim, cô tựa vào vai anh ngủ ngay trong rạp. Tan phim, anh mời cô đi ăn phở. Ăn xong, cô khen ngon rối rít, rồi nói: “Lương em ít lắm. Cả đời chỉ ai mời ăn phở em mới dám ăn thôi”. Có một xác phụ nữ chết trôi vớt được ở bờ song, cô rủ anh đi xem. Về, cô bảo: “Cô này người nhà quê, anh ạ. Anh biết vì sao em đoán được không? Vì cô ấy như em hồi mới lên thành phố, không mặc xilíp bao giờ. Ngay bây giò em cũng ghét mặc cái của nợ ấy, anh ạ”. Thoạt đầu, nghe vậy, anh sờ sợ. Nhưng ngẫm ra, lại phì cười. Cô thô mộc, xù xì, chẳng được mài rũa, đẽo gọt bao giờ. Dung tục như bản thể tự nhiên, đã vậy lại còn chanh chua, đáo để.


Đã mến nhau, anh theo cô về thăm bà mẹ thân sinh ra cô. Trên ôtô, cô mồm năm miệng mười, tranh giành chỗ ngồi, cãi nhau với tất cả những người ngồi gần. Rồi hếch mắt lên nghe một gã răng vàng kể chuyện tục, khi chia tay còn nói địa chỉ, mời gã tới chơi. Làng quê cô có lẽ là một làng quê nghèo nhất nước Việt. Độc một cái nhà ngói. Còn toàn lều rạ. Ao tổi bọt khí đặc sệt rêu bẩn. Lối đi bập bõm lốt chân trâu. Nhà cô chỉ là cái lều vịt. Mẹ cô đi vắng, cô đẩy cửa vào, gọi anh theo. “Gãi hộ cái lưng một tý nào”. Anh tiến đến. Cô quay phắt lại, trắng nẫn: “Vú bánh dầy đấy, không thích à”. Dẫn anh đi thăm họ hàng. Ở đâu cô cũng bô bô: “Tháng sau chúng cháu cưới, thế nào cũng gửi thiếp về mời”. Quay trở về nhà, bà mẹ già đi chợ, cô kéo anh ngã theo cô xuống ổ rơm của bà mẹ. Cô cười khinh khích: “Đêm qua em mê thấy anh hủ hóa với em!”. Và tự động trút bỏ quần áo của mình và cởi hộ quần áo của anh. Không một chút xấu hổ, cô kích động thú nhục dục ở anh. Anh là ngọn lửa được khơi. Cái ổ rơm nhặm nhuội rối bời, nhầu nát trong cuộc quần thảo do chính cô khởi xướng. Anh lưu giữ mãi cái cảm giác vừa bị chiếm đoạt vừa gắng gỏi để không hổ mặt đàn ông. Và cuộc ân ái đó bỗng có một khí vị đặc biệt, không thể nói là tầm thường. Xong cuộc, cô ngồi dậy gỡ rơm dính trên tóc. Anh nhận ra cô có một mái tóc dầy nặng, đầy sức sinh sôi, tiêu biểu cho sức sống của cô. Thấy anh bần thần, cô liền quát: “Này, khối đứa đòi mà người ta không cho, ưu tiên nhất đấy, lại còn làm bộ!”. Sắp đến ngày cưới, cô đi chơi với anh, thông thống kể, nào ai yêu mình mê mệt, nào ai định lợi dụng mình: “Có cả một thằng già có trăm cây vàng bắt nhân tình với em nhé!”. Đêm tân hôn, cô kêu: “Ối ông giáo ơi là ông giáo! Chửa sờ em nữ sinh nào bao giờ hả!”. Lại như cái lần ở ổ rơm nhà mẹ đẻ, cô là con thú, anh là con mồi nhưng cố hóa thân để thành con thú. Cô là đàn bà thật sự. Cô yêu thích nhục dục. Chuyện chăn gối, cô không bao giờ chán. Có thai, cô hào hứng bảo anh: “Em sẽ đẻ cho anh một tá con. Nhưng anh phải đảm bảo nuôi chúng”. Cô nói: “Em sợ, em chán cảnh nghèo lắm. Mẹ em nghèo quá, có bận về chơi, em thấy cả ngày mẹ em chỉ ăn ốc thôi”.


Sợ nghèo! Dân mình, ai cũng có nỗi sợ ấy ở trong máu từ khi mới ra đời. Huống hồ Xuyến sinh ra từ rơm rạ bùn lầy, khổ từ trong trứng, nghèo từ tam đại, tứ đại và bây giờ lấy anh là đứng trước một tương lai chưa xác định. Thèm khát vật chất, ao ước một đời sống no đủ sướng mà bị lên án, mà bị miêu tả một cách giễu cợt và khinh rẻ, thì thật là bất cận nhân tình.


Xuyến là đàn bà. Lo toan đời sống bản thân, gia đình là cái thiên chức của đàn bà. Tự không phải là kẻ giỏi giang gì trong cuộc mưu sinh thì Tự lại càng không được phép dè bỉu, chê trách Xuyến. Thế giới con người là đa dạng. Thế nào thì bao giờ cũng tồn tại một số đông sấp mặt xuống cốt chỉ để ấm no, giàu có. Huống hồ, Xuyến cũng chưa đến cái mức ấy. Ôi, nhìn Xuyến hân hoan trước cái tủ ly mới sắm mà tội nghiệp. Thấy Xuyến rụt rụt rè rè ở cái đám bát họ, một cái trò con trẻ của những kẻ dạn dày trên thương trường, mà thương quá! Tự mải mê trau chuốt bộ mặt tinh thần của mình, thì cứ việc. Nhưng sao Tự lại có quyền khinh miệt việc Xuyến sắm sanh đồ đạc tiện nghi. Tự nâng niu tâm hồn mình, coi đó là báu vật thiêng liêng của cả loài người, là vùng độc quyền sở hữu, kẻ khác bất khả xâm phạm. Thì Tự cũng không có quyền phép phỉ báng quyền được đam mê vật chất của kẻ khác, miễn là nó không phương hại đến quyền lợi của cộng đồng.


Bây giờ, đêm đã buông. Trong căn buồng ngời ngời ánh điện vắng vẻ. Tự lại bắt gặp một cảnh tượng hòa hợp với cảm nhận cởi mở của mình.


Xuyến đang có mặt trong buồng. Một mình, trên chiếc ghế nhỏ. Xuyến đang ngồi đối mặt với chiếc tủ ly mới đem về hồi chiều. Nhìn ở phía sau, Tự chỉ thấy đôi vai cân bằng của Xuyến phủ một làn tóc xõa ẩm ướt. Nhưng qua dáng ngồi im phắc, anh biết Xuyến đang mải mê đắm chìm. Trong nhà người ở, các đồ vật đều có linh hồn. Vì giữa chúng và người bao giờ cũng có cuộc giao lưu. Người phản ánh đồ vật và ngược lại. Hai bên hóa thân, ảnh hưởng tới nhau. Xuyến lúc này diễn dạt thành công nhất, tự nhiên nhất lòng yêu thích đầy chất thơ và sự si mê phàm tục của con người với các đồ vật sở hữu mỹ l của mình. Và thực tình, cái tủ ly ba buồng mới sắm của Xuyến rất đáng được hưởng sự khâm phục của con người. Hai cánh cửa tủ màu cánh dán bóng láng, mờ mờ ảo ảo vết xoáy hai vòng tròn đồng tâm như mây cuộn. Buồng giữa, ánh sáng hắt qua ba mặt gương, tạo nên một hiện tượng giao thoa rất lạ mắt. Những đường gờ, nét kẻ, cái nắm tay, bộ chân tiện bịt đồng... mỗi chi tiết đều hoàn hảo tới mức tối đa, khiến nó trở thành một tạo vật làm đẹp khung cảnh hơn là một tiện nghi thông dụng hàng ngày. Cái tủ tỏa ra một phong thái cao quý, sang trọng. Trong căn buồng xuềnh xoàng của gia đình Tự, nó là báu vật phát sáng. Nó lung linh một linh hồn ngà ngọc và thân tình. Giữa cuộc sống xám nhờ những lo âu, dằn vặt của Xuyến, nó là một hạnh phúc quá tầm, là cái ước ao mòn mỏi bất ngờ Xuyến được hưởng.


Nhìn Xuyến trong tâm trạng ấy, Tự bỗng thấy không chỉ là thương, là thông cảm, anh càng phải tha thứ và yêu quý Xuyến. Xuyến dẫu thế nào vẫn hết sức hấp dẫn anh. Xuyến là cái thơ ngây non xanh dại dột bên cái dạn dày trơ trẽn rất đáng thương xót.


Con người ta có họa điên mới tìm cái tuyệt dối. Mỹ cảm của con người vì vậy là một khoảng ôm chứa rộng rãi, nó không phải là mụ dì ghẻ cau có khắt khe. Con người ưa hòa giải. Miễn là đừng đẩy nó tới chân tường. Bóng hình Phượng cùng mối tình đầu cay đắng vẫn lưu dấu không phai mờ, nhưng không biến Tự thành gã đàn ông cố chấp. Công bằng mà nói, Xuyến có cái dẹp riêng của Xuyến. Vẻ dẹp của Thúy Kiều không phải là vẻ đẹp duy nhất trên thế gian. Xuyến mặn mà cái hương sắc đồng ruộng thôn xóm. Ngay bây giờ chị cũng vẫn vậy.


Chị khỏe. Thể chất không bao giờ hao mòn ngay cả lúc sống kham khổ. Ba mươi tám tuổi, chị nở nang hết độ. Mắt chị ngời sáng, lay láy đen như tóc chị. Tóc chị dày như một tấm thảm để lại trong Tự một cảm giác êm nhám không hao giờ có thể quên. Ngực chị căng và eo hông chàu có ý nghĩa phồn thực nguyên sơ. Đường nét khuôn mặt chị không thanh nhã, như cuộc sống thô mộc chưa hề qua bào rũa, nhưng óng ả cái hình sắc của tự nhiên phôi thai.


Xuyến là cái đẹp vừa sơ khởi, vừa pha trộn, lôi kéo con người nghiêng về phía nhục cảm. Và Tự, cũng như mọi kẻ đàn ông khác, cũng có nhu cầu về mặt này.


Tính nết Xuyến cũng như nhan sắc Xuyên thô vụng. giàu thực tiễn, nhưng biến động dồi dào. Chị chăm chỉ, tằn tiện, chi ly tính toán. Mang trong mình cái nghèo khó thâm căn, chị chỉ có một nguyện vọng là giàu có, sung sướng. Thua kém ai về mặt này chị cũng buồn. Bị thiệt một xu chị cũng cay cú. Có một chỉ vàng rồi, chị lại tích cóp để sắm thêm một chỉ nữa.


Thực tình ái tình lý tưởng kiểu Rômêô - Duyliét cũng chỉ có trong nghệ thuật hoặc là rất hiếm hoi thôi. Trong thi ca, ái tình bị tước đi tất cả những phiền toái hàng ngày. Yêu nhau, lấy nhau, sống chung với nhau, sinh con đẻ cái là những việc động chạm đến trăm thứ bà dằn, vô cùng thông tục. Người ta không chỉ sống bằng bánh mì đã đành. Nhưng cũng không sống thuần bằng tình cảm. Đi vào thực tế, hóa ra lấy vợ lấy chồng cũng là một việc giản dị - nó là một kiểu tồn tại tự nhiên của xã hội loài người. Hai người nam nữ sống chung với nhau, dẫu thế nào cũng chỉ ở trong thế hòa hợp tương đối. Bao giờ chẳng có mặt gần nhau và mặt hai người xa cách nhau. Cặp vợ chồng được gọi là thuận nhất cũng chỉ là cặp vợ chồng ở họ mặt gần nhau, tương đồng nhau của họ nhiều hơn mặt khác biệt mà thôi. Hai người không bao giờ là một cả. Chàng vẫn cứ nấu sử sôi kinh và nàng vẫn cứ bên thềm dệt vải quay tơ. Hàng thế kỷ nay không ai đòi hỏi sự hòa đồng tuyệt đối. Trong tình yêu vợ chồng với Xuyến, Tự thấy cả ái tình cao thượng và ái tình thế phàm. Con người là vậy, cái ổ rơm và cuộc tình sôi động trên nó, với Tự, vẫn là một nỗi nhớ xuyên qua mọi thời


*


Xuống hết bậc thang cuối cùng, đặt chân lên nền gạch hoa, Tự bỗng thấy mình lặng đi vì sợ hãi. Từ hồi nào nhỉ, gần đây hay xa lắm rồi, ôi cái thuở bình yên còn giang đôi cánh mềm ủ lên mái nhà nho nhỏ của gia đình anh, một đêm khuya soạn xong bài vở, cũng như lúc này anh từ gác xép bước xuống. Xuyến tràn trề sung mãn, giấu cái nôn nả sau cái lặng tờ bề ngoài, đang đón đợi anh. Đời sống vợ chồng kỳ diệu là thế! Nó là sự sống tự nhiên, luôn ở cái dạng chuyển đổi, trao nhận, bù đắp, cân bằng. Nó vừa rành rẽ, vừa bí ẩn muôn đời.


Còn bây giò?


Xuyến đang ngồi kia. Xuyến nồng nẫu đợi chờ? Hay Xuyến dửng dưng lãnh đạm? Và anh? Cô đơn là nỗi bất hạnh lớn nhất của con người; anh đã nhận ra và đang gắng gỏi để chống lại nó. Anh có cái cảm giác đang phải vượt qua ngàn trùng hỗn độn, để đến với sự an bằng của cái lòng riêng. Chỉ mươi bước chân là đến với Xuyến mà anh như đang phải vượt qua cả mấy mùa hè nóng nôi, oi ngột để đến với cơn mưa dông mát mẻ chiều tháng sáu này.


Lặng đi đến mấy phút anh mới nhận ra mình đã đứng sau lưng Xuyến. Xuyến là hiện thực đây rồi. Suối tóc dồi dào tuôn chảy một mạch sống không ngưng nghỉ. Làn áo lót dệt mịn màng trong cái cách mặc đêm quen thuộc không vết lằn của dải xu chiêng. Một khối hình ẩn chứa những khả năng bất ngờ, không thể suy đoán. Dâng lên trong Tự một nỗi niềm rất khó xác định. Anh không biết thực hiện cái bổn phận của mình bắt đầu từ điểm


Nhưng, thực tình cuộc sống không thể nào sáng tạo được cái gì tự nhiên hơn thế nữa đâu. Vẫn trong tư thế ngồi ổn định nọ, Xuyến bỗng đưa cánh tay trần lên ngang tai, vuốt nhẹ một sợi tóc mai. Cử chỉ ấy như lời giao đãi thân thuộc, khiến lòng anh hằn lên một cơn sóng nhẹ bồi hồi. Anh không bị chối từ. Và nhìn theo sợi tóc mai bị kéo dài ra óng ánh trong ánh điện, anh bỗng thót tim và nghe thấy tiếng chị tự nhiên cũng như cử chỉ nữ tính quen thuộc nọ:


- Tưởng cứ nằm lì trên cái gác xép ấy mãi!


Chao ôi! Thì ra Xuyến đã biết Tự trốn lẩn trên cái gác xép ấy từ sáng. Xuyến trách cứ. Xuyến hờn dỗi. Cả day dả nữa. Cả âu yếm nữa. Thì ra Xuyến biết Tự từ căn gác xuống thang, đi tới, và Xuyến cũng đang mong mỏi ngóng chờ. Mặn nồng mà đáo để làm sao. Tự bỗng thấy mình như một lá thuyền lênh đênh vừa cập bến đậu giữa những đợt sóng dồi.


- Anh phải tham gia Hội đồng thi. Hôm qua chấm xong. Hôm nay được nghỉ trước khi ráp phách, họp hội đồng xét duyệt kết quả cuối cùng. Công việc bận quá. Năm nay học sinh làm bài không tốt. Nhất là...


Tự tuôn tràn, cả một rừng thông tin. Nhưng nhận ngay là mình vô nghĩa nên im lặng giữa chừng. Bước lên một bước nhỏ, gần như ngang hàng với Xuyến, Tự thấy đã thật chân hơn. Giọng Tự cũng trở nên thật tiếng hơn:


- Cái tủ đẹp quá! Anh về từ sáng. Lúc mọi người khiêng tủ giúp cũng định xuống, nhưng...


- Sợ ngượng chứ gì? Mà cũng chẳng khiế


Trời! Xuyến hiểu đến tận gan ruột chồng. Xuyến vẫn giữ cái quyền quán xuyến đảm dang và chì chiết người thân. Xuyến không giấu giếm mình. Mặt Xuyến nói điều đó. Chị quay lại nhìn Tự, cái cầm hơi lệch hếch lên, tạo một vết xoải dài, mềm mại xuống cái ức trắng ngần.


Tự hơi cúi xuống. Xuyến đang tỏa ra quanh mình một làn hương quen thuộc quyến rũ. Tự thấy mình ngất ngây.


- Xuyến à... những ngày qua... anh thấy...


Tự thì thầm. Dưới tay anh, vai Xuyến hơi run nhè nhẹ. Chị co hai tay lên, vòng lại, đỡ ngang bầu ngực trĩu nặng đang trồi lên trụt xuống dữ dội.


Oái ăm, nhưng cũng là ngẫu hứng tài tình, vừa lúc ấy đèn điện phụt tắt. Nghe thấy tiếng kêu hoảng lên bực bội ở đám người xem tivi bên nhà Quỳnh, hai người cùng châng hẩng, ngẩng lên thấy mình đang lơ lửng ở đâu đó trong cơn mơ.


Nhận thức được tình thế đầu tiên là Xuyến. Chị khẽ cựa động, đoạn nhẹ nhàng nhấc bàn tay chồng ra khỏi vai mình, đứng dậy, từ từ tách ra khỏi vùng tối giao cảm của hai người. Sao hắt ánh mờ mờ vào khung cửa để ngỏ. Bóng Xuyến lờ mờ trong ánh sao rồi biến mất. Có tiếng cánh cửa chuyển động, ánh sao bị đẩy hẳn ra, bị cái chốt cửa hãm chặt lại. Rồi cùng tiếng cái công tắc ngắt điện kêu tách là tiếng Xuyến chép miệng:


- Tắt đi, không chốc nữa nổi hứng thình lình ông ấy lại cho điện thì cháy hết cả bóng.


ự hiểu cái điều không nói ra ở phía sau thông tin nọ. Không sao cưỡng lại được, anh sờ soạng trong bóng tối theo một lực hút vô hình, đi theo, đến sau cái riđô.


Không gian hẹp sực lên hơi thở nồng nàn và làn hương tươi mát của da thịt phụ nữ. Trong bóng đêm, anh đưa tay, chạm vào bắp tay chị. Chị hơi lùi ra. Ôi cái tấm thân đàn bà của chị, dẫu thế nào cũng cứ là niềm khát muốn dai dẳng và huyền bí đối với anh. Cái khí vị ái ân lần đầu tiên trong cái ổ rơm thôn dã mãi mãi nổi cộm trong anh như một cảm giác phức hợp không thể phân giải và không thể quên. Nó không hề đối lập với cảm xúc thánh thiện của anh và Phương đêm Nôen giá lạnh năm nào.


(còn tiếp)


Nguồn: Đám cưới không có giấy giá thú. Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng. NXB Lao động in lần đầu năm 1989. Các NXB in nhiều lần.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
xem thêm »