tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19358340
Tiểu thuyết
20.03.2017
Ma Văn Kháng
Đám cưới không có giấy giá thú


CHƯƠNG 17


Thầy Tự kính mến.


Chị Phượng ngày ấy đã yêu thầy. Và bây giờ, thầy hãy tin ở em: chị Phượng vẫn đang chờ đợi thầy. Điều này nói ra, không hiểu có gây nên bất lợi gì cho thầy không? Nhưng, có lẽ, một sự phòng bị điều bất trắc như vậy cũng chẳng có ý nghĩa gì cả. Từ lâu, thầy đã bị người ta làm tình làm tội rồi. Bây giờ, muốn hại ai, người ta có cần gì phải nhọc mình kiếm cớ! Nghệ thuật dựng chuyện vu cáo và thói quen áp chế con người, có thể quy tội tày đình cho bất cứ kẻ nào hành động trái ngược với quan điểm của mình, của chúng ta cũng có thể trở thành đề tài nghiên cứu lý thú của các nhà xã hội học rồi đấy còn gì!


Hai mươi năm qua rồi, nhắc lại những gì đã xảy ra nếu không là để cho tương lai khỏi phải mắc phải sai lầm thì chỉ là gây nên một nỗi buồn hủy hoại đơn thuần. Em nhận ra, con người ta luôn luôn mắc một thiếu sót gì đó trong cuộc đời mình. Nó là món nợ của họ với tạo hóa. Một món nợ rất khó trả.


Em không có ý trách thầy. Em chỉ muốn đạt tới độ sâu cần thiết như tư duy lý luận kết hợp với hình ảnh chân thật thôi. Như vậy thì em làm sao quân được buổi chiều thu mưa rơi tầm tã ấy. Cái buổi chiều thầy lên tàu ra mặt trận, dưới cái lốt vinh quang của người chiến sĩ, là một nạn nhân khốn khổ của một mưu mô đê hèn. Thầy có để ý không khi nghe “tiếng còi tàu như xé đôi lòng” nhiều đứa chúng em đã thét lên đau đớn. Và không ít bạn đã nguyền rủa âm thầm, rồi sau đó gửi đơn kháng nghị lên cấp trên, vạch mặt kẻ gây ra cuộc đọa đầy đểu giả. Thầy có để ý không, khi tàu đỗ ở ga P. cách ga chính chúng em tiễn đưa thầy hai cây số? Trong màn mưa dầy nặng lúc chiều buông tím sẫm không gian, trên sân ga vắng vẻ, có một bóng thanh nữ cô đơn, mắt đẫm lệ, lặng lẽ để cái nhìn trôi theo con tàu chuyển bánh về cõi xa. Chị Phượng không dám gặp mặt thầy, không dám cùng chúng em chia tay thầy ở sân ga chính trên này. Biết làm sao được! Ai là người có lỗi trong cuộc chia tay này?


Thầy đi rồi, chúng em, lớp học sinh của thầy tản mát đi bốn phương. Chiến tranh đến với thị xã nhỏ. Trường học sơ tán vào rừng xa. Nơi trường cũ, sau cuộc hỏa hoạn khủng khiếp và bí ẩn, chỉ còn là một đống hoang tàn: Hoang hóa tràn lấn đó dây. Mỗi bận qua thị xã, em không khỏi chạnh lòng ngơ ngẩn, vì nghĩ tới những ngày qua cũng giống như những con tàu đi biển xa, đang biến mất khỏi tầm nhìn, trở thành hư vô trong tâm trí mọi người. Có nghĩa lý gì đâu một thân kiếp lẻ loi. Thế kỷ này quen tính hàng vạn hàng triệu, lắm khi quên hàng đơn vị.


Trách ai bây giờ? Đó là chuyện phải bàn. Phải ngồi lại với nhau để bàn cho ra nhẽ. Vở kịch còn đang tiếp diễn và không chỉ là cá biệt, là mỗi mình thầy. Việc này có quan hệ với tất cả. Mỗi người trong tất cả, hãy cất tiếng nói của mình từ thực nghiệm của chính mình. Tìm kiếm chân lý không phải là độc quyền của riêng ai. Phát ngôn nó cũng không phải là đặc quyền của ai hết.


Tới đây thì em cần phải giới thiệu với thầy về em rồi. Em là phó tiến sĩ hàng hải, làm chuyên viên trên một con tàu lớn, đi biển xa, đã dọc ngang trên sóng nước tất cả các đại dương, đã quen thuộc với mỗi bến cảng quốc tế, giao tiếp với đủ các loại người trên nhiều châu lục.


Em khoe khoang trước thầy điều ấy thật đúng là hơi lố. Vì thực ra có cần phải có một môi trường rộng đến thế đâu khi nghiên cứu thực nghiệm! Một nhà trường. Một thị xã nhỏ. Một con tàu. Có lẽ cũng đã đủ lắm rồi. Một con người là một cá thể hữu hạn, nhưng cũng là cái vô hạn, vô cùng. Trong tôi, có ta.


Một con tàu, vài chục thủy thủ, một thuyền trưởng, một bí thư đảng bộ, có lẽ cũng như một nhà trường, nó là một xã hội thu nhỏ. Con tàu của em. nó bé nhỏ, nhưng nó cũng phản ánh và mang trong nó đủ mọi vấn đề xã hội.


Thưa thầy, cứ theo cách chia của em thì cái con tàu xã hội của em có ba phái chính đáng cùng nhau tồn tại và hàng ngày tranh luận gay gắt với nhau trên tất cả mọi vấn đề.


Câu chuyện có mùi vị Quylive lưu lạc đến Nước Tý hon. Ở đó, có hai phái tranh chấp nhau: phái đi giầy cao gót, phái đi giầy thấp gót! Nhưng thầy đừng cười em nhé, vì đây là chuyện có thật. Phái thứ nhất em gọi là phái duy tín, gồm những người lấy lòng tin của mình làm căn cứ, cái gì trái với điều mình vẫn tin và cho là thiêng liêng thì không thể chấp nhận. Phái này có câu nói cửa miệng: “Căn cứ vào... thì...”. Phái thứ hai là phái duy lợi, gồm những người luôn lấ lợi ích là căn cứ, cái gì trái lợi ích của mình hay của những người chung với lợi ích với mình thì không chấp nhận. Phái cuối cùng là phái duy


lý, phái này lấy trí thức, khoa học làm căn cứ, cái gì trái với quy luật khách quan mà mình nhận thức được thì không chấp nhận. Tất nhiên, các khái niệm trên đây, cũng như lập luận tiếp sau, là do em đặt ra và tham khảo ý kiến của một người thầy nữa của em, phó tiến sĩ X.T. hiện công tác ở Viện Khoa học Việt Nam. Do vậy, có những khái niệm không trùng hợp với khái niệm có sẵn của các nhà khoa học hay triết gia, ví dụ khái niệm duy lý của Đêcác (Rene Descartes (1596-1650) nhà triết học, toán học, vật lý học Pháp).


Tiêu biểu cho phái duy lợi là trưởng tàu, một người đàn ông béo nhờn. Ông ta dùng lợi ích để tập hợp lực lượng. Vừa thực dụng, ông ta vừa lý sự ra trò. “Tôi bất biết nguyên tắc chính sách, đạo đức gì ráo, lợi ích là cái thúc đẩy tiến hóa, cứ thế mà theo, đỡ phải mệt óc mà lại kết quả rõ rành tắp lự”. Tất nhiên, ông ta là đối tượng tranh luận và khống chế giáo dục của đồng chí bí thư năm mươi nhăm tuổi, một người xuất thân dân chài, hoạt động du kích, bị Mỹ - ngụy bắt tù ở Côn Đảo, năm 1973 được trao trả cho ta. Ông luôn phê phán ông trưởng tàu là vụ lợi, là vô nguyên tắc. Người ta sống, hoạt động là do có niềm tin. Niềm tin là sức mạnh lớn lao. Niềm tin đó thể hiện ở sự chấp hành các nguyên tắc, chính sách... Còn phái duy lý? Thưa thầy, phái này, em tự xưng là thủ lĩnh.


Đã xảy ra chuyện gì mà sinh ra phe phái dữ dằn vậy? Thưa thầy, đúng là đã có chuyện. Và bây giờ, viết thư cho thầy đây, chỉ có thể tự hào mà báo cáo với thầy rằng: chính em, thủ lĩnh tự phong của phái duy lý đã góp phần công sức không nhỏ để đưa con tàu vượt qua cuộc khủng hoảng vô cùng nghiêm trọng, như vượt qua phong ba giữa đại dương, cập bến an toàn.


Số là đã có một âm mưu phiến loạn!


Gã trưởng tàu, sau khi lừa bắt giam được đồng chí bí thư, đã kêu gọi tất cả các thủy thủ, thợ máy cùng các chuyên gia, các nhà khoa học “đoàn kết” xung quanh hắn, đưa con tàu đến một cảng lớn của một nước tư bản, nhập quốc tịch hay xin cư trú chính trị, bắt đầu một cuộc làm ăn mới. Bởi vì, gã bảo, suy cho cùng, như Mác nói, con người ta trước hết là phải ăn, ở, nghĩa là tồn tại đã...


Tất nhiên gã trưởng tàu đã thu phục được một lực lượng khá đông đảo. Nhưng, cuối cùng thì thế cờ đã lật ngược. Bởi vì em, chính em đã khôn ngoan lật tẩy gã, thuyết phục những người bị lợi ích vật chất trước mắt mê hoặc, bí mật giải thoát đồng chí bí thư và sau một hồi xô xát, vật lộn, lực lượng phản phiến loạn đã tóm cổ được gã trưởng tàu phản phúc!


Ôi! Chuyện ly kỳ như truyện “Cuộc phiêu lưu của thuyền trưởng Blood” của nhà văn Anh E. Xabatini. Em mà viết lại được, không cần thêm bớt, chắc chắn bán chạy hơn cả tiêu thuyết tình báo, món hàng đắt khách nhất hiện giờ.


Nhưng điều em muốn nói với thầy không phải là câu chuyện ly kỳ nọ. Sau sự kiện động trời nọ, để đảm bảo cho con tàu tiếp tục vận hành trong hành trình đã định của nó, một vấn đề đặt ra hết sức cấp bách và có tính chất quyết định:


Ai sẽ đảm nhận vị trí người chỉ huy con tàu?


Muốn hay không thì cũng phải có một người chỉ huy? Muốn hay không thì cũng phải hành động dưới một sự chỉ huy thống nhất tập trung. Nếu không thì trống đánh xuôi kèn thổi ngược, mãi mãi lênh đênh ngoài trùng khơị, rồi hết nhiên liệu, cạn nguồn thực phẩm, rồi cắn xé lẫn nhau và làm mồi cho bọn cướp biển hoặc thức ăn cho cá mập.


Phải có một người lãnh đạo con tàu! Phiền cái, bỗng dưng không muốn, em và đồng chí bí thư, một người tiêu biểu cho lực lượng khoa học, một người đứng đầu một sức mạnh chính trị, bỗng dưng trở thành đối đầu nhau. Vậy thì lãnh đạo con tàu là em, hay là đồng chí bí thư nọ. Thoạt đầu, theo thói quen trách nhiệm, đồng chí bí thư giơ tay xin đảm nhận chức trách trưởng tàu. Nhưng, hình như thấy ít người vỗ tay, nên đồng chí ấy liền rụt tay lại và tươi cười: “Không sao! Không sao! Ta cứ trao đổi cho hết lẽ đi. Ai nào?” Không ai nói. Bầu đồng chí bí thư thì anh em không muốn, vì đồng chí ấy mới học hết lớp bốn, hiểu biết khoa học quá ít. Mà bầu em thì anh em lại ái ngại làm phật lòng đồng chí bí thư. Vì thực tình anh em rất quý mến con người đã cống hiến mình cho cách mạng và rất mẫu mực này. Xin thầy tin ở em, con người này không thuộc type bí thư Lại. Thật là bế tắc! May thay, chính đồng chí bí thư đã có sáng kiến hòa giải. Đồng chí nói:


- Vậy thì nhà khoa học có dám chỉ huy con tàu không? Có tin là mình chỉ huy được không? Xin mời phát biểu. Anh em khác nữa. Tất cả, ai có ý kiến xin cứ trình bày. Rồi ta lựa chọn bằng phiếu bầu. Được không?


Tất cả mọi người vỗ tay ran ran.


Thưa thầy, hai hôm sau trong một cuộc họp đại hội toàn thể cán bộ, thủy thủ con tàu, em đã đọc một bài viết trong đó em trình bày quan điểm của riêng em. Gọi nó là tuyên ngôn tranh cử cũng được. Em xin phép được chép lại bài đó gửi thầy. Toàn văn như


“Thưa các đồng chí! 1


Thực tế xã hội trên con tàu đã khiến chúng ta chia anh em thành ba phái: duy tín, duy lợi và duy lý. Cách chia như thế dẫu thế nào cũng là cực đoan. Vì thật ra, đó chỉ là ba mặt thống nhất trong một con người: quyền lợi, lòng tin và tri thức.


Tuy nhiên, phân lập là một cách thức để nghiên cứu. Vả lại nếu suy xét kỹ càng thì con người ta trong hoạt động của mình, cũng thường hay thể hiện sự nặng nhẹ về một mặt nào đó. Ví dụ, ta thường nói: anh này là một người có trình độ khoa học, bác kia là người có niềm tin vững chắc, ông nọ là người tiêu biểu cho quyền lợi giai cấp. Vì thế, phân chia như vậy cũng có thể chấp nhận được. Mặc dầu rằng chúng ta ao ước có một nhà lãnh đạo lý tưởng kết hợp được cả ba yếu tố đó trong mình. Một con người của giai cấp (duy lợi), có lòng tin (duy tín), có trình độ khoa học (duy lý).


Nhưng ta hãy giả sử là không có con người lý tưởng đó! Vậy thì trong hoàn cảnh cụ thể của con tàu chúng ta, tôi nhắc lại là trong hoàn cảnh cụ thể của con tàu chúng ta, khi sóng gió đấu tranh chính trị đã qua, thì con người cần thiết cho chúng ta, theo tôi, đó phải là con người mang đặc tính duy lý thật rõ.


(Xin các đồng chí chớ hiểu lầm tôi: Khái niệm con người mang đặc tính duy lý thật rõ không trùng hợp với khái niệm nhà khoa học thuần túy. Và nếu nói riêng về tôi thì xin các đồng chí nhớ cho, tôi cũng là một đảng viên cộng sản, và tôi vô cùng tự hào về lý tưởng, niềm tin đó của tôi).


Bởi vì trong ba mặt của con người thì dức là tri thức, là sự nắm bắt các qui luật khách quan, là căn cứ xác đáng để xem xét các mặt khác; do đó nó chấp nhận, bao dung được cái duy lợi, duy tín hợp lý. Ngược lại, khi chủ nghĩa duy lợi hay duy tín làm chủ cuộc sống thì nó không chấp nhận nổi cái duy lý.


Đã có một thời lịch sử con người cố tạo ra sự hài hòa giữa duy lý và duy lợi. Ấy là khi Các Mác nêu khẩu hiệu: “Kết hợp chân lý khoa học và quyền lợi của giai cấp công nhân”. Các Mác rất coi trọng vấn đề lợi ích giai cấp. Nhưng là nhà khoa học, Các Mác xuất phát từ góc duy lý mà tiếp cận duy lợi.


Còn chúng ta, những kẻ sau Các Mác, có được như thế không?


Trong Bút ký triết học, Lênin viết câu này: “Người ta không thể hiểu được Tư bản của Mác và đặc biệt là chương đầu của bộ sách đó, nếu không nghiên cứu kỹ và hiểu toàn bộ lôgich của Hêghen. Vậy là sau Các Mác nửa thế kỷ, không một người mácxít nào đã hiểu Mác!”


Không hiểu Mác! Cả một chuyên đề lớn cần phải hội thảo, bàn luận. Tiếp thu, thực hiện cái đỉnh cao nhất của tri thức nhân loại ấy đâu có phải là chuyện đơn giản. Bởi vậy, nếu như chúng ta có hiểu Mác một cách thô thiển, vụ lợi, rồi vô tình xa rời Mác, phản bội lại Mác thì cũng có gì là khó hiểu?


Chỉ cần là chúng ta dám can đảm nhận lỗi lầm. Hiểu biết càng ít thì tính duy lí càng ít, càng dễ thành duy lợi cực đoan, thậm chí biến chủ nghĩa thành một thứ duy tín, một thứ tôn giáo. Và như vậy thì đã và sẽ có bao nhiêu thảm họa, khi duy tín và duy lợi làm chủ đời sống?


Ngày xưa, các giáo hội La Mã đã thiêu sống các thiên tài khoa học, các hoàng đế ngu xuẩn của nước Trung Hoa xưa đã phần nho khư, tức đốt sách, giết nhà nho. Vừa qua, những Hồng vệ binh, những nông dân mù chữ Trung Quốc và bọn lính Pôn Pốt, vỗ ngực là những môn đồ của Mác, đã hành hạ, tróc nã trí thức dân tộc mình. Nhiều danh nhân văn hóa Liên Xô là nạn nhân của các vụ bạc đãi. Trí thức là một trong những đối tượng của Cách mạng Xô-viết Nghệ Tĩnh: trí, phú, địa, hào; đào tận gốc, trốc tận rễ.


Nhưng cái mà người ta quen mồm gọi là “cực tả” ấy, thực chất là gì, nếu như không phải là sự ngu dốt, sự mù lòa trước thực tế lịch sử tiến hoá của nhân loại? Bởi vì lịch sử tiến hóa của nhân loại chính là quá trình hoàn thiện công cụ, quy trình, kỹ năng, phương pháp quản lý sản xuất - tức là quá trình gia tăng các trí thức của con người về các quy luật của tự nhiên và xã hội.


Dòng gia tăng tri thức xã hội của loài người là cái lõi, phản ánh bản chất của sự tiến hóa và tồn tại mãi mãi cùng loài người.


Còn cách mạng xã hội? Đó chính là kết quả của sự cạnh tranh giữa hai thế lực lãnh đạo xã hội, tiêu biểu cho hai nấc thang và trình độ tổ chức xã hội, ứng với hai trình độ phát triển khác nhau của khoa học, tri thức của loài người. Thế lực lãnh đạo nào có trình độ cao hơn thì sẽ thắng thế lực kia.


Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và công nhân, Mác cho rằng giai cấp công nhân là lực lượng lãnh đạo có trình độ cao hơn, nhưng Mác đặt ra một điều kiện: đó phải là giai cấp công nhân đại công nghiệp. Cũng có nghĩa rằng, đó là một giai cấp công nhân trí thức.


Lênin làm sáng tỏ hơn luận điểm trên của Mác, Người nói: “Chỉ có thể đem toàn bộ kho tri thức của nhân loại làm giàu cho bộ óc của mình, chúng ta mới có thể trở thành người cộng sản”. Cũng có nghĩa rằng, chộng sản và chất trí thức phải trùng khít làm một.


 


Chẳng những thế, Lênin còn chỉ rõ: việc xây dựng xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa không thể không dựa trên cơ sở công nông liên minh và tri thức cách mạng. Người viết: “Trước sự liên minh của đại biểu khoa học, giai cấp vô sản và giới kỹ thuật, không một thế lực đen tối đứng vững được”.


Thử hỏi: chúng ta đã coi trọng thỏa đáng sự liên minh đó chưa?


Thưa các đồng chí. Tiếp thu cho đầy đủ các quan điểm khoa học của các nhà kinh điển thật không dễ. Theo tôi, điều đó có căn nguyên từ tính chất đặc biệt của xã hội ta - một xã hội đã trầm tích rất lâu dài một nếp sống có cơ sở lý thuyết là nho giáo. Trong tâm thức của rất nhiều thế hệ người Việt Nam chúng ta, luôn in dấu một xã hội mô phỏng theo hình ảnh một gia đình con cái thuận hòa, dưới sự che chở của một ông cha uy nghiêm và thương con.


Trong xã hội ấy, kẻ nào có cá tính, có bản lĩnh độc lập sẽ là lạc loài hoặc bị vấp váp, tiêu vong, hoặc phải mài mòn mình để hòa hợp. Xã hội đề cao con người thuần, chứ không phải con người sắc sảo. Xã hội ấy đề cao con người chịu khó tu thân, tự giác làm nghĩa vụ, chứ không phải là con người có trí tuệ, tài năng, phẩm chất. Đại thần trước hết là quan trung nghĩa, chứ không phải là quan có tài.


Hết gạo chạy rông lại Nhất nông nhì sĩ. Câu ca dao ấy dẫu thế nào cũng phản ánh trạng thái tư duy thô sơ của một bộ phận xã hội.


Đấu tranh giải phóng dân tộc liên miên lại là cái môi trường bó buộc sự phát triển trí tuệeo một nẻo riêng, khó tránh khỏi biệt lập.


Trên cái nền ấy, nói riêng về phạm vi tổ chức, mới phát sinh chuyện dùng các tiêu chuẩn khác, không cơ bản, để đánh giá con người.


Kết quả là chúng ta muốn xây dựng một hệ thống phát triển thì là thu được một hệ thống trì trệ, cản trở sự phát triển. Người chỉ huy không đủ tri thức, lòng lại đầy ham muốn thì dễ sa vào vòng duy ý chí, đối lập với tri thức và trở thành độc tài. Thế là muốn xây dựng một hệ thống tiêu biểu cho chủ nghĩa nhân văn thì lại thu được một hệ thống phương hại tới quyền con người. Động tác chính của một cuộc cách mạng là nâng cao năng suất và đời sống không thực hiện được là vì thiếu tác động của tri thức, khó khăn cứ tiếp tục kéo dài.


Đã nhiều lần tôi kể cho các bạn nghe về số phận hẩm hiu của người thầy giáo của tôi, thầy Đặng Trần Tự. Cuộc đời ông ám ảnh tôi bao năm nay. Vở bi kịch riêng tư ấy không hề là câu chuyện đơn lẻ. Nó quan hệ đến tất cả chúng ta, sự nghiệp của chúng ta. Đối tượng tôi muốn lên án không phải chỉ là tên Lại càn rỡ. Ta không nên gọi những tên như tên Lại là cán bộ. Chúng làm gì có chính trị. Chúng là những tên lưu manh, những thằng điên làm ô danh Đảng ta. Chúng ta cũng không chỉ nhằm đích phê phán cho hả giận những người hiện thời đang mang danh cán bộ nhưng trên hành động thực tế lại vô chính là bậc nhất,. vì ít học hành, tự thị về lý lịch và chức phận một cách lố bịch, chỉ biết tôn thờ một mớ tín điều, coi lý thuyết cách mạng như những giáo lý cứng nhắc, độc tôn hơn cả giáo chủ nhà thờ, sẵn sàng truy chụp, vùi dập, cho lên dàn lửa thiêu kẻ nào tỏ ra khác với quan điểm của mình.


Bi kịch là hệ quả của việc làm trái quy luật.


Thù ghét đối xử tàn tệ với người trí thức là làm trái quỵ luật là dã man, sơ khai, vô văn hóa, là cản trở bước tiến của xã hội.


Chính trị là một khoa học lớn. Lãnh đạo chính trị đúng đắn là sự đảm bảo chắc chắn cho sự phát triển của văn minh. Sự lãnh đạo của Đảng về chính trị là tất yếu, khỏi phải bàn.


Chính trị chân chính không dị ứng với trí thức, với sự tự do trong tìm tòi nhằm tiếp cận chân lý. Các Mác là nhà khoa học vĩ đại. Các Mác đã nêu tấm gương lớn về sự tự hoài nghi. Người không thể chấp nhận danh hiệu mácxít cho những ai muốn biến Người thành thần tượng bất khả xâm phạm. Huống hồ từ khi Người mất đến nay, đã hơn một thế kỷ trôi qua, thế giới đã có bao nhiêu biến đổi lớn lao.


Mong các đồng chí hiểu cho, tôi không hề có ý định nói xấu cá nhân đồng chí bí thư của chúng ta. Chỉ huy con tàu, nếu không có được một năng lực toàn diện thì dứt khoát phải là một con người duy lý. Tất cả chúng ta đều có chung một gia tài duy nhất, đó là khoa học, là trí tuệ. Không được để phí phạm. Phí phạm là có tội. Với tinh thần đó, tôi xin ứng cử chức vụ chỉ huy con tàu. Tôi sẽ thực hiện lý thuyết trên đây của tôi, một khi nhận được sự tín nhiệm của các đồng chí. Xin cảm ơn các đồng chí.”


Thầy Tự kính mến.


Cuộc bầu cử người chỉ huy con tàu chưa kết thúc. Cuộc tranh luận còn đang tiếp diễn. Một tháng nữa mới tiến hành bỏ phiếu. Không chắc em đã giành được thắng lợi. Tất nhiên em đã và còn sẽ “đăng đàn” nhiều lần nữa. Người hoan nghênh em không ít. Nhưng, những mũi dùi đả kí cũng khá nhiều. Định kích động ai? Định mỵ dân chắc! Thật là vô chính trị! Đặc sệt quan điểm tư sản! Mất lập trường! Không, em không sợ. Cùng lắm thì em cũng chỉ bị đối xử tệ như thầy và thầy đã vượt lên được thì em cũng sẽ noi theo thầy.


Thôi, em miên man dài dòng quá rồi. Giờ em xin trở lại câu chuyện tình yêu của thầy.


Thầy đi B. Bặt vô âm tín. Chúng em bảo nhau săn lùng tìm thầy. Vô hiệu quả. Thằng Tuẫn đã vào ngành công an, mặc áo cảnh sát, đến nhà chị Phượng khoe: đã làm giám thị, phạm nhân phải gọi là ông, xưng là con. Rồi tin ông bí thư Lại đánh tiếng hỏi chị Phượng cho nó. Chúng em sống trong mông lung.


Rồi đột ngột chị Phượng tìm đến em.


- Có thư của bạn Phiêu gửi cho mình.


Em vồ lấy lá thư. Thư Phiêu gửi cho chị Phượng kể lại cuộc gặp gỡ của hai thầy trò, chuyên thầy bị thương ở Trường Sơn. Nhưng sao Phiêu lại gửi thư cho chị Phượng? Phiêu học hết lớp 9 thì đi bộ đội, chỉ quen chị Phượng sơ sơ. Hẳn là có một ức đoán gì vui vẻ lắm nên chị Phượng với miệng cười và mắt đẫm nước.


- Mình đến chào bạn đây!


- Chị đi đâu?


- Mình đi B!


Đi B. B! Đi B! Một hành trình thần thoại. Nơi ước hẹn của bao lớp người thuở ấy. Cuối cùng thì hầu như tất cả chúng em đN bị cuốn hút vào cơn lốc vĩ đại của chiến tranh, chúng em đều nối gót thầy và chị Phượng.


Cái bản đồ gây cho ta một ảo tưởng thú vị vì sự bé nhỏ có thể bỏ túi được của nó. Nao nức sao khi nghĩ tới một trưa nắng vàng lồng lộng đang mơ màng bên bờ suối, bỗng bồi hồi đứng dậy, với tiếng reo ầm vang vách đá: “Ơ, thầy Tự. Kìa, cả chị Phượng”. Hai người, hai cái mũ tai bèo nghiêng nghiêng. Xung quanh là chúng em, những miệng cười ngạo nghễ: Bọn đê hèn! Chúng bay thua bọn ta rồi!


Phải hơn mười hai năm sau, chậm quá, cái ước ao kia mới đến một phần. Hơn mười năm sau, bãi biển nọ mới vang vọng tiếng em reo: “Kìa, chị Phượng”. Thầy Tự ơi, đó là một ngày tháng năm rất gần đây thôi, tàu em neo lại bất thường vì sự cố và em phải lên bờ.


 


Rủi ro bất ngờ lại gặp may mắn quá sức. Một chiều vẩn vơ bên bãi biển, đang dõi theo cái hành tung lăng xăng bí ẩn của con dạ tràng, em bỗng thấy một chấm khăn đỏ rực rỡ màu hoa phượng vơ vẩn bên mép nước. Cái thú thẩm mỹ của cuộc gặp trên sóng nước phủ một áng mây lãng mạn, thúc giục em dấn bước. Lạ sao, mỗi bước tâm cảm một trỗi dậy những xúc động nao nao. Cuối cùng là những nét dáng giữa trời của người nọ chập làm một với những nét ghi lại trong bộ nhớ. Và em đã reo to.


Chị Phượng kể: đi bộ đội, sáu năm ở Trường Sơn, sau đó bốn năm học quân y, giờ là bác sĩ điều trị ở trạm điều dưỡng bên bờ biển này.


Ai cũng trở thành một nhà thơ, một triết gia khi đối diện với biển cả. “Chị Phượng ơi có lúc nào nhìn ra khơi, chị nghĩ tới một con tàu rẽ sóng tiến vào...?”. Em hỏi. Chị Phượng ứa lệ: “Có những người càng xa lâu càng ớ”.


Bãi biển ấy tên là Thịnh Long, thầy Tự ạ.


Một học sinh cũ của thầy


___


(1)Ý tưởng và nhiều câu văn trong chương này tôi đã vay mượn với sự đồng ý của tác giả, người bạn thân thiết của tôi - Phó tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ.


 


CHƯƠNG 18


Kha nói:


- Ông Thống hôm qua xuất viện, về quê rồi Tự ạ. Vẫn chưa nói được. Nhưng, nhiệm vụ cứu chữa của cái bệnh viện dành cho hạng người xoàng như chúng ta đến đây là hết. Tuỵ vậy, theo tớ nghĩ, vẫn còn có thể hy vọng. Đông y có cái huyền bí của nó. Có thể, đời sống tâm linh con người vẫn còn là vùng chứa đầy bí ẩn.


Ngừng một lúc, Kha tiếp:


- Theo mình đoán, ông Thống bị sốc mạnh. Mình có một ông chú. Một đêm ra sân đi tiểu. Mới kịp thét lên một liếng “Ma!” đã lăn ra bất tỉnh vã cấm khẩu luôn từ đó.


Tự gập xong cái màn võng tôm, ngồi ống giường, rùng mình. Cảm nhận của Kha tinh vi, sâu sắc. Một lần nữa, Kha lại diễn đạt hộ Tự một ý nghĩ mà Tự đang nung nấu.


Buồn thay, cuộc sống chẳng lẽ là một bà mẹ ghẻ, một vại dưa muối hỏng, lại còn đầy ma quái.


- Thôi, đứng dậy, xuống văn phòng trả chăn màn và thanh toán viện phí đi. Tự! Tớ có đến nhà, nhưng cái Hoạt đi chợ với mẹ nó rồi. Tớ sẽ nhắn nó sau vậy. Thôi, đi nhanh, kẻo nắng!


Tự vẫn ngồi im.


Lá thư thứ ba không thể ngờ lại trở thành cái cớ ngụy tạo cho cuộc vỗ nợ ái ân ra cái điều vô cùng đoan chính của Xuyến.


Lại cũng là dịp may trời sai quỷ khiến để Cẩm thực hiện trò ném đá giấu tay, thanh toán một kẻ thù vô cùng nguy hiểm của y. Với Dương, lá thư là một bằng chứng cực kỳ giá trị cho bản luận tội đã viết sẵn của ông. Tên bạch vệ thế là đã lộ toẹt mặt - đúng như ông vẫn ngầm phán định - ông tài thật như thần. Hai cái dục vọng thấp kém gặp một thói chuyên quyền tầm thường. Cả ba chung sức khai thác một cơ hội, hợp lực chơi đòn hội chợ. Tự làm sao mà không qụy!


Lá thư, sợi thòng lọng, quàng vào cổ Tự, cái ngõ cụt của đời anh. Nhưng, lá thư cũng lại là liều thuốc trợ sức cho Tự. Thế là, trong cuộc sống, anh đã nghe được một lời đồng vọng. Anh không cô đơn. Lòng anh, không ngờ lại có cả dấu hiệu một buổi sáng đẹp trời.


Kha có biết những sự việc đã xảy ra và tâm trạng Tự lúc này? Có lẽ là


Lật manh chiếu rách, ngó xuống gầm giường kiểm tra một lần nữa, xem Tự còn để quên gì không. Kha mới vòng hai tay ôm cả đống chăn màn, đứng lên.


- He he... Hóa ra là gặp anh chàng nhà báo kiêm văn sĩ ở đây.


Nghe như tiếng Thuật. Kha vội đặt ôm chăn màn của Tự xuống giường, quay lại. Thuật vừa từ ngoài cửa, lộp khộp đôi giày đá bóng buộc dây gai, chạy tới, đập khe khẽ vào vai Kha:


- Này, bỏ nhau đi lúc này là không nên đâu nhé. Bộ ông định bán rẻ thằng này cho Hítle, Pôn Pốt, Xômôsa, Chun Đô Hoan? Thôi, thôi, đừng thế!


Kha xua xua hai hàn tay:


- Thuật này, mình...


- Không không! Lỗi là ở mình. Tại sao mình lại ly khai các cậu nhỉ? Ôi, cái gác xép. Một thời trẻ dại một đi không trở lại. Tớ đã đánh mất tất cả rồi, Kha ơi, Tự ơi. Thương tớ với. Cho tớ trở về với các cậu đi. Ta sẽ sống lại với nhau, cái gác xép, vương quốc tự do, hang động trốn lẩn.


Kha đứng dịch lại, che chắn cho Tự. Anh nhận ra Thuật đã trượt hẳn sang trạng thái tâm thần rồi. Mắt Thuật choắt choeo, hai con mắt phồng lồi như mắt người thắt cổ, và đã thất lạc hết ý thức.


- Thuật à, hôm qua mình rẽ vào thăm ông. Nhưng cô y tá trực nhất định không cho vào.


- He! Thiên thần đáo để của tôi đấy!


- Ừ, thiên thần đáo để bảo: đang là giờ làm thuốc!


- He! Thiên thần mà cũng nói vậy. Hư hỏng hết cả rồi. Thuốc không có. Nếu có thì chỉ là thuốc rởm thôi.


Lui lại một bước, bụng Thuật thót lại và lưng anh cong như lưng của người gù; toàn bộ sự thiểu não và bệ rạc của anh thế là đã hiện lên trọn vẹn:


- Nhà báo kiêm văn nghệ sĩ ơi! Đừng tin gì hết. La Phôngten và lôgic đều sai bét và bịp bợm cả! Bệnh viện cũng hành hạ con người độc ác không kém gì phòng thẩm vấn của công an. Nhưng mà không phải tớ điên đâu nhé. Mẹ sư con vợ tớ chứ! Nó mà còn nói tớ điên thì tớ sẽ bóp cổ nó. Mẹ cha thằng Cẩm, nó chẹn quả đấm vào cổ tớ. Hiệu trưởng gì nó. Nó và thằng Dương phải cút khỏi nghề. Ill cút, Vous cút, Nous cút. Chúng nó cút. Các anh cút. Chúng ta cút!


Ngoài cửa buồng rộn rã mấy tiếng guốc cao gót. Một cô hộ lý chút chít như một cô búp bê, chón vón trên dôi guốc cao vời, bước vào:


- Anh Thuật ơi, nghe em bảo cái này.


- Thiên thần đáo để hả? Thiên thần cũng cút.


- Anh bảo cút cái gì.


- Cút ra khỏi đây. Bệnh viện phải ra bệnh viện. Bệnh nhân phải ra bệnh nhân. Giường ra giường. Chó ra chó.


- Anh nói kỳ vậy?


- Này, Thuật ơi! - Kha nắm tay Thuật lắc lắc - Tớ với Tự ra đằng này một tí nhé. Mai tớ sẽ đến thăm cậu, được chưa nào?


Cô hộ lý khoác tay Thuật, ngọt ngào:


- Anh Thuật ơi, anh đi ra dằng này với em, em nói cái này hay lắm!


- Nói cái gì?


- Thì ra đằng này cái đã.


- Này. Tình yêu cao thượng hay ái tình cóc nhái, đây cũng không màng tới nhé. Đây chán tuốt. Cả người. Cả chó. Cả toán học. Cả văn chương bác học cũng như văn chương cống rãnh. Cả tư bản lẫn vô sản. Đây chỉ mê có Tam Quốc thôi.


- Tam Quốc là cái gì, hở anh?


Thuật vằng, vượt ra khỏi vòng tay của cô hộ lý, bất đồ cười sằng sặc:


- Tam Quốc là ba cái cuốc. Mácxít là Các Mác cộng với Xíttalin. Mác Lê là một người đàn ông có râu. Nhưng không sao, không sao! Này, tôi hỏi, gia đình cô thuộc thành phần gì? Tiểu thương hay tiểu chủ?


- Bố em đạp xích-lô. Mẹ em bán cháo lòng.


- Tuyệt!


- Sao


- Em sẽ làm bệnh viện trưởng. Hé hé...


Thấy Thuật đã ra tới cửa buồng. Kha vội ôm đống chăn màn, kéo tay Tự:


- Thôi, lợi dụng lúc địch đang hưu chiến, rút nhanh. Rút nhanh về nhà mình!


*


Tự ôm bọc quần áo ngồi sau xe. Kha guồng đều đều, chốc chốc lại quay về phía sau:


- Tự, ăn lục tào xá không?


- Không!


- Uống chè bát bảo vậy?


- Thôi!


- Nghe giọng nói của cậu, thấy còn mệt lắm.


- Ừ, hơi ra cả đằng tai. Nhưng, Kha này.


- Gì thế?


- Phải giúp Thuật. Phải giúp ông Thống. Phải cứu họ. Thuật tiêu biểu cho một kẻ bị chà đạp rồi sau đó tự mình đánh mất mình luôn


Kha gật:


- Ừ. Sẽ bàn. Nhưng, Tự này. Trước hết, mình sẽ thay ông Thống nói cho cậu hay cái điển cố vì sao người ta lại nghỉ hè vào tháng sáu. Rất thú! Chỉ bực vì… tra cứu vài chục cuốn sách mới ra, viết được hai chục dòng, định đăng báo vào mục Bạn có biết, thì cha tổng biên tập cả đời chưa hề cắp sách đến trường phổ thông kêu: phù phiếm, gạt phắt!


Tự như lơ đãng:


- Có quen biết ai ở bệnh viện tâm thần không?


- Có! - Kha ngoái lại sau. - Bác sĩ trưởng bệnh viện Tâm thần ở Y là bạn thân. Ít lâu nay vẫn hay qua lại đấy, đang định làm một diều tra. Bệnh này quái lạ. Có ca vì tức giận mà liệt tay chân, mù mắt. Có trường hợp loét dạ dày mà chữa từ tâm thể. Hôm vừa rồi ông ta đã dùng thôi miên chữa cho một bệnh nhân khỏi cái bệnh nhai luôn mồm từ mười một năm nay, nhai cả lúc ngủ, nhai đến hỏng hết cả hai hàm răng...


Vừa đạp xe, Kha vừa sôi nổi: Căn bệnh lâm thần có nguồn gốc xã hội đấy. Phải giải trừ những chấn động, những stress gây nên những xáo trộn, xô lệch cả con người! Khổ lắm! Một khu phố, chỉ cần một anh tâm thần là đủ náo loạn rồi. Còn cả nhà năm người sưng phổi ba, viêm họng hai, vẫn cứ êm.


Lòng vòng một lúc. Kha lại quay về cuốn tiểu thuyết vĩ đại của Kha đang bắt đầu khai triển, nhất định sẽ tương xứng với căn buồng đẹp Kha mới có, mặc cho tổng biên tập đang rình mò, hễ thấy Kha cầm bút viết văn trong giờ, là lớn tiếng cảnh cáo. Theo quan điểm của Đốt, căn phòng đẹp, văn chương cũng sẽ đẹp, Tự ạ. Văn chương vốn tuyển chọn người đọc, nó không phải là cải lương, tivi. Đúng như thằng Thuật đã nói. Nhưng không lo. Trí thức đã đông lên vì tăng theo cơ số và tạo ra một tỷ lệ mới trong dân số. Nhất định sẽ có một chuyển biến từ lượng sang chất, chứ không phải như cái thời hai mươi năm trước đây, khi chúng ta mới ra trường..


Nhưng. đang say sưa Kha bỗng bóp tay phanh đánh két, dừng phắt xe.


- Gì thế, Tự.


Tự đã ôm bọc quần áo, nhảy xuống xe, bước lên hè bên phải đường từ lúc nào. Vỉa hè, một sạp sách chạy dài. Sách không phải là đáng ghét với cả giới thương nhân chuyên nghiệp. Sách dang trở thành một mặt hàng thu lời không kém quần bò Mỹ, áo phông Thái, giầy Tây Đức, cátsét Nhật Bản. La liệt sách mới, cũ, sách dầy sách mỏng, sách đứng, sách nằm, đủ hết các thể loại, ôm trùm gần như là toàn bộ tri thức của loài người. Tự vị, xếp theo bộ, đứng như các khối đá đúc. Tiểu thuyết cổ kim chia theo từng châu lục và các trường phái, xếp từng hàng.


Kha nhấc xe, theo Tự, lên vỉa hè.


Tự sà trên sạp sách, hai tay run lẩy bẩy, nhấc cuốn này, lại lấy tiếp cuốn khác. Bộ Larousse mới nhất. Từ điển Anh - Pháp - Đức, Từ điển Hán - Việt. Các bộ tiêu thuyết cổ điển Trung Hoa. Bộ lịch sử tư tưởng thế giới. Thơ chữ Hán Cao Bá Quát. Truyện Song Tinh... Kha tựa lưng khung xe, đón một cuốn Tự đưa. Một cuốn nữa. Một cuốn nữa. Kha vội đặt xe, ngồi xuống bên Tự, lật bìa một cuốn và giật thót người. Hóa ra là vậy! Một cuốn nữa. Cũng thế! Con dấu hình bồ dục của Tùng Thiện thư viện lồ lộ trên mỗi trang bìa lót. Mặt nhợt nhạt và đầy mồ hôi, Tự thở hổn hển.


Kha chống tay lên sườn nhìn chòng chọc gã bán sách đen sì hai thẻo ria trê.


- Này ông, ông mua những cuốn sách này ở dâu?


- Điều đó anh giai cho phép thằng em này miễn giả nhời!


- Ông anh mua sách của bọn ăn cắp!


- Ấy chết! Anh giai quá lời! Thời buổi này, biết ai là kẻ cắp, ai là không?


Chống tay vào gối, đứng dậy. Tự thở dốc, loang choạng:


- Thôi, Kha ơi. Về thôi. Về nhà Kha đi!


*


Căn buồng nhỏ nhắn mười bốn mét vuông của Kha chỉ có một chiết giường con trải chiếu rách làm nhiệm vụ cái giá sách. Một góc buồng là cái bàn viết kết cấu từ hai chiếc hòm xà phòng chồng lên nhau. Một bàn bề bộn giấy lộn, giấy trắng, cuộc sinh nở của văn chương thật cực nhọc, khốn khổ. Đối diện cái bếp núc văn chương ấy là cái bếp nấu ăn hàng ngày, luộm thuộm và đơn giản, lộ rõ dấu vết của lối sống độc thân và phóng tâm coi nhẹ mọi sự dời.


Ngồi xuống cái chiếu trải trên nền nhà, cạnh bàn văn của Kha, Tự đưa mắt mệt mỏi nhìn bốn bức tường trống


- Vợ đâu?


Kha xòe diêm, châm lửa vào sáu ngọn bấc bếp dầu, lé mặt tránh khói:


- Bay đi Đức rồi!


- Sao?


- Lao động xuất khẩu! Chủ nghĩa đến hay. Nó che đậy được cái cần giấu giếm. Lao động trờ thành hàng hóa đích thực. Thế mà còn mất bao công sức hội thảo: nó là cái gì nhỉ? Nhưng, còn một khía cạnh nữa: Chia tay nhau khi đã hết cả hơi sức để dằn vặt người thân. Vừa rồi, cô ấy viết thư về: “Anh Kha! Nhìn những người cùng di, em giật mình: tất cả lũ chỉ có một mục đích là... tiền! Em khóc cả đêm”.


Tự co ro:


- Sao dữ dội thế! Khắp nơi, chỗ nào cũng chấn thương!


Kha dụi mắt:


- Gần năm tỉ người trên trái đất, được bao nhiêu người sung sướng. Ngôi trường con con của cậu, chỉ một kỳ thi, mấy người gục ngã?


Tự lật bật đôi môi khô xác:


- Kha ạ, phải giúp Thuật và ông Thống. Thuật, mình tiếc và thương hơn là giận nó.


- Mình sẽ


- Một lần nó cứ xấn xổ đoán hậu vận cho mình, nó bảo, không ai lẩn trốn được, ai cũng phải lãnh đủ số phận của mình. Nó bảo mình: sinh ư nghệ, tử ư nghệ. Còn nó, sao hoá kỵ cư ở mệnh... Thế là nó mất cái đầu rồi.


- Nói gì thế. Tự?


- Thuật mất đầu rồi. Cái đầu của nó bằng đầu hai ông tiến sĩ cộng lại.


- Tự! Mê đấy à!


Tự nhoài xuống mặt chiếu, hai mắt lờ đờ, giọng mờ mờ xa xăm:


- Mệt quá… Kha... Kha à. Mười đêm mất ngủ rồi, kể từ hôm Dương đến...


Kha đặt đầu Tự lên chiếc gối mềm. Rón rén đi ra ngoài, lát sau Kha nhón từng bước chân trở vào, tay xách xô nước, rồi nhấc siêu nước sôi, nín từng hơi thở nhẹ và ghé thật sát vòi siêu nước vào miệng ấm chè.


Lặng yên cho Tự ngủ.


Lặng yên để Tự thoát ra khỏi nỗi u buồn. Lặng yên để Tự đi vào vòng quên lãng.


Tự nằm nghiêng, hai mắt nhắm nghiền. Mái tóc mềm, bạc phếch ôm một khuôn mặt hóp hép như mặt một ông già. Chân gập, hai bàn tay gầy gùa kẹp giữa hai đầu gối nổi u, co quắp như đứa trẻ ốm yếu ngủ trong cảnh thiếu chăn ấm. Kha tìm mảnh chăn đơn, rũ rộng, đặt lên người Tự, chợt quay đi vì kinh sợ. Tự ơi, lẽ nào đây là hình xác một con người đẹp nhất mà Kha tìm thấy ở cõi đời này?


Tự ơi! Lẽ nào số mệnh lại chơi khăm như vậy với Tự? Lẽ nào đời Tự lại truân chuyên, hẩm hiu, trầy trật vậy? Tự ơi, đời Tự, cái ẩn ngữ kỳ lạ trong ngữ pháp văn chương, đến bao giờ mới được đời thấu hiểu. Và bây giờ, chẳng lẽ... thế là hết? Tự đây, kẻ tuẫn nạn của một sở nguyền, tin cậy? Bị bạc đãi. Bị khinh rẻ. Bị đầy đọa. Bị ruồng rẫy. Bị chà đạp. Bị vây bủa bốn bề. Bị phản bội. Bị vu cáo. Bị tước đoạt. Bị cướp bóc mất hết. Tiền tài không. Quyền lực không. Một chốn yên thân không. Rồi đây một chỗ đứng trên bục giảng cũng không nốt. Chút ao ước định danh, cũng không được chấp nhận. Bị chặn các ngả dường. Bị bít các lối thoát. Có cuộc hãm hại nào triệt để đến thế! Nỗi đau này là nỗi đau nhân thế. Nỗi đau này là nỗi đau tâm thể sâu xa. Nỗi đau này có thể làm mất nhân tính. Nỗi đau này có thể làm mất lương tri. Nỗi đau này kinh động quỷ thần, nhân tâm. Nỗi đau này là nỗi nhục trần ai!


Kha run hết chân tay. Kha trào nước mắt.


Nhưng, Kha đã từ từ đứng lên, bồi hồi nghẹn đắng. Tự vừa thức dậy. Khuôn mặt Tự vừa mở ra một vùng tâm thái tĩnh tại, đầm ấm và nhân hậu biết bao nhiêu.


- Uống chè nhé, Tự. Ngủ được độ ba mươi phút. Tốt quá! Tốt lắm!


Kha lập cập. Chưa bao giờ Kha lập cập vì cảm động, sung sướng như thế cả. Nhưng, nhìn bàn tay Tự chìa ra đón ca nước chè xanh mét màu lá héo, Kha lại rưng rưng:


- Tự này,ớ cái hôm ở trên gác xép cậu nói về Nguyễn Du, qua Độc tiểu thanh ký. Thi sĩ đâu có buồn. Đội ngũ những người tài dẫu thế nào cũng vẫn cứ điệp điệp trùng trùng. Rủi ro họ chấp nhận. Những phường giá áo túi cơm có đổi cái may của chúng cho họ, họ cũng chẳng them. Lúc đó, cậu định dẫn một câu thơ. Câu gì thế? Lần trước, ở quán nước chè lão chủ quán đầu mốc, mình cũng đã hỏi. Còn nhớ không?


Tự đặt ca nước chè xuống mặt chiếu, nén một cơn ho bệnh tật:


- Phong vận kỳ oan khách tự cư. Cái oan của người phong nhã do chính người đó gây ra, chuốc lấy.


Kha kêu thảng thốt:


- Trời! Một nghịch lý vĩ đại!


- Một nghịch lý!


Tự nhếch khóe môi, chua chát như chính cái nghịch lý vĩ đại ấy. Kẻ xấu thịnh đạt, người tốt ôm hận và chỉ biết trách mình. Cuộc tình dang dở. Bữa tiệc dang dở. Cuốn sách để lầm chỗ. Cũng chỉ là do mình. Một lối giải thích ngược đời. Một cách hành xử yếm thế vô cùng tội nghiệp.


Kha nhìn Tự, săn đón:


- Tự ơi, nhưng, tại sao lại có nghịch lý ấy?


Tự bơ phờ:


- Mình mệt quá, Kha ạ. Mình muốn đi ng


- Cậu cần phải nghỉ dưỡng sức một thời gian.


- Kha à! Một lần, thằng Thuật xem tử vi... Nó bảo: mình là một đám cưới không thành... Đúng! Nhưng, có đám cưới không có giấy giá thú chứ!


Kha bật dậy:


- Tự, cậu nói cái gì thế?


Tự đứng lên, bước xiêu vẹo đi đến giường, nhấc bọc quần áo, quay lại, như bất chợt:


- Sao? Lạ à? Khi tôi yêu, tôi có quyền. Không một kẻ nào được quyền ngăn cản cuộc hôn phối của tôi. Tôi tự tổ chức hôn lễ cho mình.


- Nhưng mà cậu nói cái đám cưới nào?


- Cái đám cưới thằng Thuật nói là không thành ấy! Thầy quỷ cốc không thể đúng được, vì tầm nghĩ thấp lắm. Và mình nữa, mình cũng đã lầm. Mình không vượt được cái thường tình. Nguyễn Tiên Sinh, thi sĩ đâu có buồn. Dương tầm thường làm sao dám xưng tụng là đại diện cho cái đẹp. Thi nhân và lý tưởng, đó là một cuộc hôn phối của tự nhiên. Đám cưới ấy dẫu không có giấy giá thú vẫn cứ thành. Dương là con số không. Suy ra hành trình tâm hồn của mình là đi tới cuộc thành hôn này. Giống như một tình nhân yêu đắm đuối mãnh liệt người đẹp mình tôn thờ, mình bất chấp mọi thủ tục. Kha ơi! Tâm hồn mình, đó là cái giá trị của riêng mình. Dương đừng hòng hủy hoại nổi.


- Tự! - Kha kêu, sung sướng, như đứng trước một cái gì bất ngờ, quá tầm.


Tự cúi xuống, tay thọc vào túi quần áo. Ý nghĩ bỗng lại như nhảy cóc:


- Kha à, cả đời mình chưa một mùa hè nào đi nghỉ cả. Kha có biết bãi biển Thịnh Long?


Kha ngơ ngác, bước lại cạnh Tự, lấn lướt:


- Thịnh Long, bãi biển tuyệt đẹp. Năm ngoái mình đã đến đó, ở đó có một viện điều dưỡng của quân đội. Cậu phải đi nghỉ. Mình sẽ dẫn cậu đi. Tháng sáu là tháng nghỉ hè. Theo truyền thuyết Hy Lạp, tháng sáu là tháng nữ thần Duy-mông ngự trị. Bà vợ Duy-pi-te này có nhiều tính xấu: như hiếu thắng, đố kỵ, thù vặt. Nghỉ ngơi vào tháng sáu, người Hy Lạp muốn thoát ra khỏi ảnh hưởng của những thói tật ấy. Thế nào chúng mình cũng cùng nhau đi nghỉ nhé. Nhưng… phải nhất thiết là Thịnh Long, hở Tự?


Tự lấy từ trong bọc quần áo ra một phong thư, trở lại trạng thái hoàn toàn tỉnh táo:


- Đọc đi! Kha. Có lẽ thế hệ sau sẽ khá hơn chúng ta.


Kha đón lá thư:


- Nhưng chúng ta cũng tạo được hình ảnh của mình. Hình ảnh những nạn nhân. Hình ảnh những chú rể không có giấy hôn thú.


Kha kêu: “Một ý nghĩ tuyệt hay!” và giở lá thư.


Mười phút sau, Kha rời mắt khỏi lá thư, bàng hoàng


- Thật thú vị có một thế hệ đàn em như thế này! Chúng sẽ làm được nhiều việc có ích đấy. Chúng sẽ rất đẹp.


Nhìn Tự, thấy Tự gật đầu. Kha mới ngồi xuống và bảo Tự ngồi theo. Giọng Kha dò dè:


- Bây giờ cho chúng mình nói mấy suy nghĩ của mình nhé. Thế hệ chúng mình đẹp một lối riêng, phảng phất cái vẻ đẹp của ông cha. Chú học trò của cậu đã khơi lên một vấn đề lý thú đấy, Tự ạ. Phong vận kỳ oan khách tự cư. Cái kiểu ngẫm nghĩ sự đời này là một ví dụ. Chua cay, tự nhạo và thúc thủ, thở dài và cao ngao. Kẻ sĩ quân tử, nhà nho là thế đấy, Tự ơi. Chúng mình có tí chút hình bóng nào chung với họ không?


Kha hơi ngẩng lên. Tự khe khẽ:


- Ông cứ phát triển ý của mình di.


Kha nuốt nước bọt, cảm thấy tự chủ hơn:


- Theo mình, chúng ta chẳng phải chỉ là con cháu của người Bàn Cổ mà còn là con cháu trực tiếp của cái đẳng cấp nho sĩ rất gần gũi nữa, Tự ạ. Đẳng cấp này có một đời sống riêng, có vận mệnh khá độc đáo. Thử phân tích họ một chút nhé. Về vị trí xã hội, họ làm quan nhưng không phải là quý tộc. Họ là thầy và không phải là người lao động. Họ sống không bằng bóc lột mà bằng danh vị. Trên thực tế, những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du luôn dùng dằng giữa xuất và xứ. Đời họ, khi thì hành đạo, khi thì ở ẩn. Cho đến Nguyễn Công Trứ thì đẳng cấp này thêm một lóp nhà thơ tài tử. Lớp này tự do hơn, cá nhân hơn, phong nhã hơn. Họ đa tình và thị tài. Muốn làm cây thông đứng giữa trời mà reo không phải vì đạo nghĩa, mà chếu là vì thị tài. Nói chung, họ là lớp người vừa khiêm tốn vừa nghênh ngang. Họ đấu tranh cho tự do, bình đẳng nhằm giữ gìn phẩm giá chứ không phải để giành lấy phẩm giá. Họ vừa lười vừa không lười, theo cái nghĩa thà chịu nhịn đói chứ không đi chợ, nấu ăn, giặt giũ, nhưng siêng năng trồng cây, chăm hoa. Không bón phân bắc, phân súc vật mà tưới hoa bằng nước gạo. Thích được khen cây cam đẹp, hơn là được khen cây cam sai quả.


- Ông nói tiếp đi.


- Nói chung bản chất họ gắn với nông thôn, thích hợp với một xã hội tự nhiên, đơn giản, không phù hợp với một xã hội phát triển cao, phức tạp. Họ là kẻ bất lực ngây thơ, thiện chí mà bất lực, họ không có sức chiến đấu, hay chờ đợi dùng dằng, dễ cầu an, bối rối, phát sinh mặc cảm yếm thế.


- Thôi!


- Sao thế, Tự?


- Nhưng mà...


- Thôi! Đủ rồi. Đứng dậy, lấy xe đạp đèo tôi đi.


- Đi dâu?


Kha đứng dậy theo Tự, hơi ngơ ngác. Sao Tự đột ngột biến đổi thế. Tự vùng ra cửa, quát bất thần:


- Đừng hỏi nữa! Đi!


*


Ngày mỏi mòn trong nóng nôi. Mây chân trời dồn đống mung lung, lẫn lộn cảm xúc bình minh khai mở và hoàng hôn lụi tàn.


Bảo Kha đừng đợi. Tự dồn hết sức lực còn lại, leo qua cái cổng gỗ khóa vòng xích, nhảy xuống đất, bước vào sân trường.


Mới có ít ngày mà ở những đường nứt lở nơi chân tường và các bậc lên xuống thềm nhà, cỏ dại đã tua tủa đâm những chồi biếc nhọn như gai. Mờ mờ một làn rêu bạc trên mảng tường loang nước mưa tháng sáu nơi đầu hồi văn phòng nhỏ. Sân trường buồn tênh sắc lá bàng héo và phượng lặng lẽ buông những cánh hoa tàn.


Im lặng chạy suốt các hàng hiên.


Tĩnh lặng chết chóc tỏa ra từ hai vệt giấy niêm phong trắng như vôi dán chéo qua các cửa ra vào các lớp học. Ve bặt tiếng vì sợ hãi. Chỉ có tiếng rúc dè dặt của dế mèn, ngắn ngủi từng đợt giữa hoang vắng một ai khúc ly biệt.


Tự bước nhẹ nhưng không thật chân. Cảm giác xa lạ lướt qua anh rồi tan hòa. Anh thấy mình như một kẻ đi xa mới trở về. Anh như vừa qua cái mê cung hỗn độn, cái náo động nhộn nhàng, nhớ cái mãnh lực huyền bí của tình yêu tiếp sức đã trở về ngôi nhà yên ả, hiền hậu. đầy thương nhớ này. Nhà trường, lớp học, bục giảng, phấn trắng, bảng đen, mùi thơm trang vở mới, tiếng trống trường ấm áp tuổi hoa niên, rung vang nỗi bồn chồn cổ kính, mối quan hệ thầy trò, cái chức nghiệp thiêng liêng của ông thầy - bản hòa âm nơi trường ốc trang nhã và cổ điển - lại một lần nữa anh nhận ra, đó chính là âm điệu, là linh hồn sinh động vĩnh cửu, là tình yêthiên phú của đời anh.


Nhận ra mình. Tự đứng lặng.


Cho đến khi ngước lên, nhìn thấy nơi đầu hồi văn phòng, chỗ treo cái trống da quen thuộc, chỉ còn lại hai sợi dây da trâu buông hai nét vẽ ngoằn ngoèo, anh bỗng ôm chặt lấy ngực mình, và cảm thấy đã xảy ra một cơn hụt hẫng thật kinh khiếp, từ bên trong anh, khiến anh rơi vào trạng thái vừa đau đớn, vừa hoang mê.


Bây giờ, anh mới dám thú nhận với chính mình. Anh đền đây để thực hiện một cuộc chia tay lớn của đời mình.


Nhưng, chẳng lẽ anh lại có thể chia tay với mái trường thân thương này? Chẳng lẽ là anh có thể giã từ những kỷ niệm, những bóng hình thân thuộc cùng tất cả những mộng ước đẹp đẽ và lớn lao, những gì anh đã hết lòng yêu quý và tôn thờ suốt mấy chục năm qua?


Sao cuộc chia tay có vẻ bất đắc và buồn thảm quá thế, Tự ơi!


Mùa hạ đang đi những bước vội vàng. Mùa hạ đang bao bọc anh trong sắc đỏ của hoa phượng đã qua thời son trẻ. Trên cao, những vầng phượng già đỏ não đỏ nùng như nhưng vũng máu đỏ của một cuộc chiến bi thương và quyết liệt.


Hè 1988 – 1989


Hết.


Nguồn: Đám cưới không có giấy giá thú. Tiểu thuyết của Ma Văn Kháng. NXB Lao động in lần đầu năm 1989.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
xem thêm »