tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20185178
Tiểu thuyết
22.03.2017
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy



VI


       Long trở mình có đến vài chục bận mà vẫn không sao ngủ được. Chiếc giờng bằng sạp nứa thỉnh thoảng lại rít lên những tiếng ọp ẹp dưới sức nặng của anh. Anh quấn tròn chiếc chăn ngựa vào mình mà vẫn không sao tránh khỏi rét. Cái rét của đêm cuối xuân ở núi rừng sao mà còn tai hại thế. Nó len từ đâu dưới đất lên rồi những làn sương đục lờ len qua phên nứa lọt vào hút theo từng cơn gió lạnh. Long nổi gai ốc. Thoạt đầu anh còn thò tay xuống chiếu giết những con rệp quái ác. Anh đã sờ soạng trong bóng tối gần một chục con như vậy. Ngón tay anh gí rệp lên vách nứa đã bốc lên một mùi tanh nồng. Nhưng rồi anh cũng không thèm để ý đến rệp nữa. Anh biết giết không thể hết được. Anh lót một nửa chiếc chăn ngựa xuống chiếu, một nửa quấn lên người như tự bó giò lấy cả thân mình, quả nhiên cái cách ấy có đỡ được rệp thật. Tuy vậy rệp vẫn cắn ở cổ, ở sau gáy, sau tai. Nhưng Long không còn tay để giết nữa, hai tay anh đã bó gọn trong chiếc chăn mỏng. Thò ra thì lạnh lắm. Long để yên như vậy, thỉnh thoảng lại cựa mình, cố ngủ. Anh đã tập trung trí não vào một vật, một hình ảnh, anh đã đếm từ con số một đến một trăm và đếm ngược lại. Nhưng sự xúc động từ chiều vẫn quay trở lại trong óc, cắt đứt cả dòng số đếm của Long: mười chín, hai mươi, hai mốt, hai hai, hai ba… Đêm đi tù đầu tiên trong đời mình. Khổ thế! Đi chơi với tên Tòng! Họ gọi mình là Việt gian. Cái thằng Kếu khốn nạn còn tố thêm mình nữa… Chết chửa, mình đếm tới đâu rồi nhỉ? À, tới khoảng hai mươi, hai mốt, hai hai, hai ba, hai tư, hai năm… Khốn khổ khốn nạn. Giá mà Vân còn sống mà biết mình nằm tù ở đây thì… hai sáu, hai bảy, hai tám, hai chín… Bên phía rừng núi xa xa bỗng có tiếng vượn hú lên một hồi dài. Tiếng hú nghe như tiếng còi tàu xe lửa, nhưng là một thứ còi tàu nhỏ, run rẩy, và cái âm thanh của nó nghe rờn rợn. Một cơn gió mạnh bỗng thổi tạt qua mái nhà nghe như tiếng cái mái nhà đầu hè nhà bị thổi lật ngược lên. Long hé mắt nhìn ra. Không, không có gì cảm hình như ngoài phên nứa mờ mờ có ánnh trăng. Một tiếng vượn hú nữa lại nổi lên, lần này nghe càng não ruột, rùng rợn. Long chợt nghĩ tới tiếng gọi hồn. Anh rùng mình, nghĩ tới hình ảnh một người bị chết chém: cái đàu lăn lông lốc với đôi mắt dính đầy đất bụi, máu ở cổ phụt lên. Chợt Long thấy Hanh cựa mình rồi ngẩng đầu dậy kéo cái chăn lót một mảnh lên đầu làm gối ngủ. Nhưng cái cách ấy nghe chừng không ổn vì chăn vừa hẹp vừa ngắn, ông kéo nó lên đầu thì chân hụt một mảng lớn lạnh buốt. Hanh lại lổm ngổm đặt chăn lại như cũ, mồm lẩm bẩm mấy câu. Long thầm thì hỏi:


       - Cậu cũng không ngủ được à?


       - Ngủ sao được mà ngủ, nó vô nhân đạo quá.


       Long đoán là Hanh nói cách đối xử của Việt Minh đối với ông. Quả như vậy, ông không ngủ được chủ yếu là vì bị lạnh, vì cái chăn ngựa mỏng, hôi và ngứa, vì mùi ẩm mục của sạp nứa và vì rệp. Thật ra thì những đêm không ngủ đối với Hanh đã là việc thường ngay từ khi còn ở nhà. Hanh không trằn trọc như Long, ông chỉ tập trung ý nghĩ vào một tư tưởng: căm thù cái bọn ngu độn đã ngược đãi ông, đã đối xử với ông một cách không có chút nhân đạo nào. Ai đời, chiều qua, lúc bốn người tù đã đói mềm, mà học chỉ đưa ra một rá sắn kèm thêm một ít cơm đã nguội, rời rạc từng hột, hơn nữa còn bốc lên một mùi hôi, mục khó chịu. Bốn người ăn những thứ ấy với một dúm muối nhỏ, bốn quả ớt và một chậu bành “nước ruốc” (mắm tôm). Cái tên Kếu ấy vừa mới vào ăn đã nhai ngấu nghiến một miếng sắn lớn rồi chừng như nghẹn, hắn đã bưng cái chậu nước ruốc chung ấy đưa lên mồm húp một cái soạt. Hanh chỉ mới trông mà đủ kinh tởm. Ông nhấm nháp qua một miếng sắn nhỏ, sau khi đã cẩn thận gạt hết những hạt cơm hôi dính ở đấy. Ấy là vì ông cũng thấy đói lắm đấy. Đấy cũng là lần đầu tiên trong đời ông ăn sắn. Lần đầu tiên biết được rằng trong củ sắn có cái tim mà Kếu đã mách cho ông là không ăn được. Ăn thì như thế. Ngủ thì như thế này đây: một cái chăn ngựa mỏng, ngứa và hôi hám, một cái sạp nửa khập khểnh như muốn chặt ngang lưng người ta, như muốn cứa vào đầu vào cổ người ta, nhất là khi người ta lại không có một cái gối nào để kê cả. Ở nhà, Hanh vốn quen gối một cái gối khá dày, khá cao và quen nằm đệm. Ông thấy mình không thể sống lâu hơn trong cái cảnh nhà tù ghê tởm này, dù chỉ là thêm một ngày nữa.


       Long lại nói:


       - Cậu ạ… cháu chắc… điều kiện ở chiến khu có lẽ cũng chỉ hơn thế này tí thôi. Có lẽ họ không chủ tâm đối xử riêng như thế này.


       - À, ừ, cũng có thể. Nếu thế thì tại sao chúng nó lại bắt chúng ta lên đây. Chúng đã không nuôi nổi thân chúng thì sao còn bắt chúng ta lên đây chịu cực hơn cả chúng để đầy đọa làm gì, chúng có quyền gì?


       - Thì cháu tưởng mình đi với… ông Tòng, người ta bắt là phải chứ. Thật là tai hại. Khi không mắc vạ. Cháu ức nhất là mình không làm gì mà cứ phải đeo tiếng Việt gian. Làm sao cho người ta tinh mình được. Cậu có nhớ cái hôm chém Việt gian ở Nong không… À, hôm ấy cậu không đi xem. Cậu ạ, bị chém mà lại còn bị dân chúng vòng trong vòng ngoài người ta phỉ nhổ cho nữa, không ai thương cả.


       Hanh đột nhiên dằn giọng, tuy vậy ông cũng không dám nói to hơn lúc nãy:


       - Việt gian là cái gì mới được chứ. Nếu Quốc dân Đảng của chúng ta(từ lâu Hanh nói với Long thường như thế, ông vẫn yên trí Long là người của đảng ông), phải nếu chúng ta nắm chính quyền thì chúng ta sẽ gọi bọn Việt Minh là Việt gian, anh hiểu chưa. Ừ, cũng có thể có những đứa vong bản cam tâm làm tay sai một cách hèn hạ cho quân đội Pháp, bọn ấy gọi là Việt gian thì đúng lắm. Nhưng Việt Minh là cái gì mà có quyền chém người. Đấy, khủng bố đỏ là như thế đấy. Nhưng tôi nói thật, tôi hoàn toàn coi khinh cái đó.


       Long thấy không thể đồng ý với cậu anh được nữa. Anh thấy rõ cái vô lý và mâu thuẫn trong luận điệu của Hanh. Nói Việt Minh không có quyền gọi người khác là Việt gian, thế sao nếu Quốc dân Đảng nắm chính quyền thì lại có quyền gọi Việt Minh là Việt gian, và Quốc dân Đảng của Hanh thì đã làm được cái gì hay chỉ là những vụ như Ôn Như Hầu mà Long đã biết. Nói những đứa làm tay sai cho Pháp là Việt gian, thế thì tên Tòng, và ngay cả Hanh nữa, không làm cho Pháp ư? Long chợt thấy lo sợ. Nhưng còn mình, mình thì có làm cho Pháp không? Anh tự an ủi: không mình chỉ đi dạy học và cũng là vì tình thế bắt buộc mà phải đi dạy học. Chỉ như thế thôi mà bị chém thì cũng oan thiệt. Anh đã định thôi không hỏi Hanh nữa, nhưng giấc ngủ khó đến quá, im lặng một lúc anh lại hỏi:


       - Mai đây cậu định thế nào?


       - Tôi ấy à, tôi không bao giờ chịu khuất phục bọn chúng. Tôi sẽ tôi trốn ngay.


       Long rùng mình, nghĩ đến đôi chân nhỏ bé gày guộc với những bước đi tập tễnh của Hanh trên con đường mòn dẫn lên chiến khu. Cậu anh nói cái gì ghê gớm vậy. Trốn. Dễ chưa. Lính gác như thế, chỉ cần thấy bóng mình thoáng qua họ đã thọc cho một lưỡi lê chết ngắc. Chán như Hanh thì chạy sao nổi?


       - Thế cậu định trốn đi đâu?


       - Còn đi đâu nữa? Về Huế, về nhà ông bà cha mẹ tôi chứ đi đâu nữa. Tôi đã tự nguyện với mình là trừ phi chết thì thôi chứ nếu còn sống là tôi phải thoát khỏi tay chúng. Tôi mà trốn được thì bọn Việt Minh hãy coi chừng. Tôi sẽ tố cáo tất cả cái dã man của chúng và dư luận sẽ lên án chúng. Tôi sẽ tập hợp những người thượng lưu trí thức vào đảng. Cuộc chiến đấu giữa chúng ta với Việt Minh sẽ là một mất một còn. Anh phải vững lòng tin mới được.


       Long thấy hơi lạnh người đi trước những lời lẽ cuồng tín của cậu anh. Anh như sống lại những ngày đầu cách mạng, lúc anh còn thấy cách mạng chỉ là chuyện tranh chấp đảng phái. Trong một thoáng, anh thấy hơi nghi hoặc những điều mà anh mới suy nghĩ thời gian sau này. Có thật như thế chăng? Nhưng cậu anh là như thế nào mà nói như thế? Long chợt nhận ra một điều là từ khi về Huế, mặc dù đã trải qua nhiều lần suy nghĩ về thời cuộc, anh vẫn chưa khi nào chịu khó xét đoán về con người của cậu anh một cách tường tận. Con người gầy yếu mảnh khảnh, xa thực tế như thế, con người chỉ biết sống với chồng sách cũ như thế mà kiên quyết đến thế kia ư? Long nhớ lại cả khoảng thời gian từ khi cách mạng bùng nổ cho tới nay. Phải, chính cậu anh đã gọi anh tới, đã nói với anh về vấn đề Việt Minh với tri thứ, đã cho anh biết ông là lãnh tụ Quốc dân Đảng thành phố Huế. Nhưng điều ông nói rất phù hợp với những điều Long đã nghe Phượng nói trên tàu hỏa khi anh đi ra Hà Nội. Nhưng rồi một hình ảnnh chua xót lại hiện ra trong tâm trí anh là cuộc cãi vã giữa anh và Thiện và cuộc chia tay đau đớn giữa anh và Vân, cuộc chia tay không ngờ lại là lần cuối cùng, chia tay vĩnh viễn. Lãnh tụ gì mà không làm cái gì cụ thể. Long tự thấy mình hơi hỗn xược với cậu khi nghĩ đến đó. Nhưng vấn đề đã rõ quá, anh không thể thấy khác được. Rõ ràng Hanh chỉ nói trên cửa miệng, ông không có khả năng làm được việc gì thực tế. Chỉ riêng cái việc ông không chịu tản cư rồi sợ hãi chui xuống gậm giường cái hôm nổ sứng đầu tiên cũng cho Long thấy tính chất con người cậu anh. Không, cậu anh chỉ có ngồi viết sách thì may ra còn được việc, Long nghĩ như thế. Long dần dần trở lại bình tĩnh, anh thấy hoàn toàn không thể tin được những lời Hanh nói. Cái chết đau đớn của Vân đã từng là một gáo nước lạnh giọi lên tim anh, anh không thể cho rằng đi kháng chiến chống Pháp như Vân mà lại là bọn Việt Minh vô nhân đạo được. Và chính mình cũng đã từng tham gia kháng chiến chứ không đâu, tuy chỉ mới là một buổi đào công sự. Có làm mới biết công việc thực tế khó khăn đến nhường nào. Long nhớ tới Út, người công nhân đã giúp anh đào những nhát cuốc chắc nịch và mới hôm qua đây lại là người áp giải tên Kếu và đã gặp anh trong lúc anh là một tên Việt gian. Long khẽ thở dài, anh trở hẳn mình, nhất định thôi không nói thêm với Hanh một câu  nào nữa.


       Bên ngoài trời đã dần dần hừng sáng. Và chỉ một lát sau, những tia nắng đầu tiên đã lọt qua cái lỗ hổng trên trần nhà, rọi lên trần nhà thành một màu đỏ rợ như màu máu. Long thấy cơn buồn ngủ đột nhiên kéo đến làm mi mắt anh nặng trĩu và nhức nhối. Anh nhắm hản mắt lại, đưa hai tay luồn xuống gáy và ngủ thiếp đi.


       Nửa giờ sau, người lính gác đêm qua đã vào thức họ dậy. Long chưa tỉnh hẳn, anh khẽ cựa mình rên rỉ, hai tay thấy tê dại như khi vừa được cởi trói chiều qua.


       - Đi rửa mặt – Người lính gác ra lệnh.


       Họ cùng líu ríu đi xuống bờ sông Ô Lâu. Trên mặt sông, làn sương trắng đục hơi bốc đầy. Hơi lạnh như châm kim và da thị. Nước sông như đóng băng. Lần đầu tiên, họ rửa mặt bằng tay, vực nước sông lên súc miệng. Long nhìn sang bên kia sống đúng là cái bến hôm qua họ đã giải anh lội qua để đến đây. Long chợt thấy cái cọn nước bên kia đang từ từ quay, từ từ quay, múc từng ống nước lên giội xuống một cái máng bằng ống bương dài đắp nép theo bờ đất cao ngất bên kia sông. Cái cọn quay gợi cho Long cảm giác về một vùng cổ sơ hoang dã, cảm giác đứng trong một vùng không người, chỉ có sức nước làm quay những vòng nứa gổ, một cái vòng quay quanh quẩn. Hanh cũng chú ý nhìn qua bên kia sông. Phải, bên kia, ngay trên bờ bước lên, là một bãi lau sậy rậm rạp. Chỉ cần lội qua được mấy chục thước ở đây là chui luôn được vào cái bụi rậm ấy, và thế là thoát. Nhưng Hanh chợt thấy sau lưng ông một lưỡi lê sáng chói, lạnh ngắt. Ông quay lại: đôi mắt của người lính gác đục ngầu vẫn chăm chăm nhìn vào ông như theo dõi từng cử chỉ của ông. Họ lặng lẽ bước về trại giam.


       - Ăn cơm. – Người lính gác lại ra lệnh cho bốn người tù sau khi đã vứt đánh soạt một cái rá cớm lên sạp nứa giữa nhà, và thận trong đặt chậu “nước ruốc” xuống bên cạnh.


       Vẫn là những thức ăn như chiều qua. Long chợt để ý nhìn mặt người lính gác. Đấy là một khuôn mặt gầy nhom, nước da tái mét, xanh bủng, đôi mắt vàng khè xì sốt rét. Anh rùng mình, nghĩ tới cái thân phận mình nếu cứ bị giam ở chốn núi rừng đầy muỗi độc này. Anh nhìn rá cơm với chậu nước ruốc mà thở dài. Nhưng hôm nay, anh thấy đói cồn cào trong bụng, anh đã ăn ngấu nghiến những củ sắn mà phần xơ đăng đắng đã thấy nhiều hơn phần bột. Anh chợt thấy ngon miệng, cảm thấy trong những đám xơ của củ sắn những dòng bột nhỏ rữa ra trong mồm anh ngòn ngọt. Không hiểu sao, tự nhiên Long nhớ lại cái đêm anh cùng Vân đi ăn xôi thịt ở chợ Đông Ba trước Cách mạng tháng Tám chừng vài ngày ấy. Hình ảnh những em bé trần trụi thò tay bốc những miếng xương sường đã gặm hết thịt hiện lại trong trí anh. Anh tự nhủ: Lúc ấy Vân đã tỏ ý thương hại mấy đứa bé ấy, còn mình thì kinh tởm. Sao ở đây, ăn uống như thế này mà mình cũng ăn được. Nhìn sang Hanh. Cậu anh vẫn chỉ ăn chừng lưng cơm, cẩn thận rưới một ít nước ruốc trước khi tên Kếu bê bát lên húp, và ông buông đùa đứng dậy, lẩm bẩm: “vô nhân đạo”. Long không thể bắt chước như vậy được. Anh cảm thấy cơ thể anh đòi ăn nhiều, nhiều nữa, anh chỉ đứng dậy khi rá sắn trộn cơm đã hết nhẵn, và anh cũng không thấy ngại ngần chan nước ruốc vào bát sau khi Kếu và Tám Lạng đã bưng chậu lên húp soàn soạt.


       Trưa hôm ấy, họ đã ngủ một giấc say như chết. Lúc tỉnh dậy, họ đều thấy đau nhừ cả mình mẩy và nghe ngây ngấy lạnh trong xương sống.


       Hai ngày nặng nề trôi qua. Và họ đã dần dần quen với cảnh nhà tù.


      


       Sáng ngày thứ ba, sau khi họ đã rửa mặt và ăn cơm xong, còn chưa biết sẽ phải làm gì thì một cán bộ của Ty Công an bước tới. Cả bốn người tù đều tưởng là sắp đến lúc mình bị tra hỏi. Nhưng không, anh cán bộ công an chỉ hỏi:


       - Anh nào tên là Hanh?


       - Tôi đây. – Hanh bước ra một bước, trả lời, trong bụng chắc mẩm họ gọi mình đi để xử chém trước.


       - Anh được Ty Công anh cho phép sang phòng bên này để gặp em ruột anh công tác ở đây là bác sĩ Thắng. Phải nhớ rằng trong kháng chiến, lại ở chiến khu như thế này mà được như thế là một đặc ân, chứng tỏ chính quyền cách mạng rất rộng lượng đấy nhé.


       Hanh chưa kịp ngạc nhiên cũng như chưa kịp mừng rỡ về cái tin sắp được gặp Thắng, đã nhăn mặt về câu nói của người công an. Hanh không còn thấy mừng rỡ gì cả, trái lại, trong người ông bỗng thấy nổi lên một niềm tự ái lớn. Hanh thầm nghĩ: Hắn là người cửa kháng chiến tới thăm mình là Việt gian đây. Hắn có thể dương dương tự đắc với anh hắn. Hanh căm giận nghĩ tiếp: Việt gian, sao lại gọi là Việt gian được. Không chắc ai chứ Thắng thì không thể dám coi mình là Việt gian. Tự nhiên, Hanh thấy trong lòng dịu lại. Ông chợt ngạc nhiên tự hỏi: Chú ấy ở Vinh kia mà, sao bây giờ lại ở đây? Ra gặp Thắng cũng hay. Nhưng nếu là nói chuyện tình cảm hay hỏi thăm chuyện gia đình thì được. Nếu hắn nói chuyện chính trị, ta sẽ gạt ngay. Phải cho hắn biết rằng mình không phải là hạng người dễ lung lạc. Phải, trước ngày hắn ra Vinh, hai anh em đã nhạt nhẽo với nhau đến mấy tháng chỉ vì chuyện chính trị. Nay thế là hắn theo hẳn Việt Minh. Nhưng ta không thể để cho hắn có thể lên mặt với anh được. Trong gia đình, người anh bao giờ cũng đúng hơn, nhất là bố mẹ ta đã mất, đúng là phải “quyền huynh thế phụ”. Hắn mà thuyết phục ta, ta sẽ thuyết phục lại hắn. Không thể cho phép chú ấy hỗn xược với ta.


       Với những ý nghĩ ấy, Hanh bước sang phòng bên gặp Thắng.


       Thắng đã ngồi chờ Hanh trong phòng bên từ lâu. Thấy Hanh, Thắng đứng dậy, tự nhiên thấy trong lòng xúc động. Anh nhìn khuôn mặt vốn đã gầy của Hanh, mới qua mấy ngày bị giam càng trở nên hốc hác. Những kỷ niệm xa xưa từ hồi niên thiếu giữa hai anh em bỗng hiện lại trong khoảnh khắc. Thắng như muốn chạy vụt lại ôm lấy anh để tỏ cái tình cảm đang dội lên trong anh. Nhưng không hiểu sao, anh vẫn đứng lặng, chân như bị đóng đinh. Anh chỉ ngước đôi mắt nhìn kỹ Hanh, từ khuôn mặt cho tới bộ quần áo mặc đã bị nhàu nát bẩn thỉu, cặp kính trên sống mũi trễ xuống, cặp mắt tuy cận thị nhưng vẫn sáng, thì nay có vẻ mệt mỏi lờ đờ. Không, quả là trước mặt anh cán bộ Ty Công an nọ, Thắng không thể chạy lại ôm Hanh được. Anh cảm thấy dù sao thì giữa anh và Hanh hiện giờ cũng khác hồi ở Huế, bây giờ anh là người hoàn toàn tự do, còn Hanh là một người tù. Anh tự nhủ: Mình phải hết sức khéo mới được, không anh ấy cho là mình vồ vập chỉ vì thương hai, còn người công an nọ thì cho là mình không phân biệt giữa tình anh em với vấn đề chính trị. Thắng khẽ chào một tiếng: “Anh” với một giọng không được tự nhiên lắm rồi cứ đứng sững, bao nhiêu lời thuyết phục Hanh mà anh đã chuẩn bị sẵn bỗng bay đi mất sách. Hanh cũng không kém phần lúng túng, ông cũng chỉ nói một tiếng: “Chú” rồi im bặt.


       Cũng may, anh công an dẫn Hanh ra tới nơi rồi chào Thắng:


       - Thôi tôi đi để bác sĩ nói chuyện.


       Thấy anh ta sắp quay ra. Thắng hỏi với:


       - Đồng chí không ngồi đây à?


       - Không ạ. Tôi còn bận chút việc khác. Bác sĩ cứ tự nhiên.


       - Chúng tôi được nói chuyện với nhau bao lâu đây?


       - Dạ, bao lâu cũng được ạ.


       Anh công an đi rồi. Thắng tự nhiên bình tĩnh lại, anh mời Hanh ngồi lên chiếc ghế nứa bên chiếc bàn cũng bằng nứa rồi ngồi đối diện với Hanh. Anh cất tiếng nói:


       - Trông anh gầy đi và già hơn trước. Dạ, chị và hai cháu Anh, Nga vẫn ở Huế chứ, có khỏe mạnh không ạ?


       - Vẫn bình thường. Chú vào đây hồi nào? Thím ấy và hai cháu cũng ở đây à?


       - Dạ không, thưa anh, nhà em và hai cháu vẫn ở Vinh. Em thì mới vào đây được hơn hai tháng.


       - Chú đi bằng đường nào?


       - Dạ, đường thượng đạo, băng qua dãy Trường Sơn.


       - Thế ư! Thế mà tôi tưởng… Chú ở đây thì làm việc gì? Ở đây cũng có bệnh viện à?


       - Ồ, thưa anh có chứ ạ. Ở đây, em còn làm được nhiều việc hơn hồi ở Huế. – Thắng chợt nhận ra là mình vừa nói hơi quá sự thật. Nhưng anh nghĩ rằng điều đó không hại gì, vì có thể tuyên truyền cho Hanh thấy sự lớn mạnh của kháng chiến bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Anh đã say sưa thuật lại cho Hanh nghe về đoạn đường mình đi từ Vinh vào đây và về sinh hoạt cũng như việc làm của anh ở chiến khu. Rồi anh nêu ra nhận xét:


       - Anh ạ, hơn một tháng đi đường ấy làm em thấy rõ kháng chiết thật là vĩ đại và nhất định sẽ thắng lợi. Hai tháng làm việc ở đây làm em thấy rõ những người cán bộ thật là đáng quý. Họ thật là những người coi trọng trí thức và coi trọng phẩm giá con người.


       Một nụ cười cay độc, mỉa mai nở trên môi Hanh. Hắn bắt đầu tuyên truyền mình đây, Hanh ngắt lời Thắng, nói dồn một hơi:


       - Chú bị một vài người trong bọn họ tuyên truyền nhiều quá rồi đấy. Nói cho chú biết rằng trước sau tôi vẫn không công nhận Việt Minh, nếu không muốn nói là tôi kiên quyết chống lại bọn chúng. Chú muốn nói chuyện tình anh em, chuyện gia đình thì được, đừng nói chuyện chính trị với tôi.


       Lời lẽ đột ngột của Hanh như một nhát dao chặt thẳng vào mặt thớt. Thắng ngây người ra, lặng đi một lúc, cảm thấy như có ai chạm tới tự ái của chính anh. Một phút im lặng nặng nề trôi qua. Hai anh em ngồi bên cạnh nhau mà không dám nhìn thẳng vào mặt nhau. Thắng lấy tay miết miết lên mặt bằn bằng nứa, anh nghĩ cách gỡ khỏi tình trạng khó chịu ấy. Rồi anh cảm thấy không có con đường nào khác là phải tranh luận cho ra lẽ. Nhưng anh tự nhủ: ta phải nói cho mềm mỏng, phải tự kìm mình lại, không được nổi nóng. Nhưng phải kiên quyết bảo vệ chân lý. Anh từ tốn nói:


       - Anh ạ, em có muốn nói chuyện… chính trị gì đâu. Chẳng qua em thấy thế nào thì nói thế. Vâng, chính là vì tình anh em mà em vừa nghe tin… có anh ở đây em đã vội xin tới ngay để được gặp anh mà…


       Thái độ mềm mỏng của Thắng làm Hanh cũng phải dịu giọng lại. Ông ngước mắt lên nhìn Thắng, cũng vừa lúc Thắng đưa mắt nhìn ông. Hanh chở đợi một đôi mắt thương hại hay một cái nhìn  khiêu khích. Nhưng không, đôi mắt của Thắng ánh lên một sự thẳng thắng, một sự quý trọng tình nghĩa anh em, đồng thời cũng là một niềm tin không lay chuyển ở nhận xét của mình. Hanh nói:


       - Được, tôi rất cảm động về tình nghĩa của chú. Tôi biết chú không phải tới đây như một người ái quốc thắng trận tới với một tên Việt gian bại trận. Chính vì thế mà tôi đã chịu ra tiếp chú và đã chịu khó nghe chú kể cả đoạn đường đi của chú. Nhưng chú đã nêu ý kiến của chú về Việt Minh, tôi cũng sẽ nói cho chú rõ ý kiến của tôi.


       Vô tình, Hanh đã khơi lên chuyện tranh luận về chính trị mà chính ông đã định từ đầu là sẽ không nhắc tới. Ông cố bình tĩnh nhớ lại những lời lẽ của Thắng, cố sắp xếp ý mình cho mạch lạc rồi bẻ Thắng từng điểm một:


       - Được, chú bảo kháng chiến là vĩ đại và nhất định sẽ thắng lợi. Đấy là nhận xét của chú, lòng tin của chú, tôi không có ý định can thiệp vào. Nhưng thử hỏi nước ta hẹp như thế, nghèo như thế, lạc hậu như thế, dân trí thấp kém như thế thì lấy sức đâu mà đánh lại với một cường quốc như nước Pháp. Đấy là chưa kể Pháp còn được Anh và nhất là Mỹ giúp sực. Không nói đâu xa, cái đất Thừa Thiên này chú còn lạ gì. Cái thế thất bại nó sờ sờ ra đấy. Chú không ở đây, những ngày vỡ mặt trận chú không biết. Quân đội thì chạy dài, cán bộ thì mất tinh thần, dân chúng thì như ong vỡ tổ. Lựu đạn của Việt Minh đúc thì quả nổ quả không, chính mắt tôi trong thấy có anh chỉ nghịch lựu đạn mà chết cũng chỉ vì dốt cả. Đánh đấm gì. Dốt nát đến nỗi đem rơm lên định hua khói quân Pháp thì có khác gì các cụ ta ngày xưa đánh trận mù u không? Chú biết trận mù u chứ? Ấy là cái trận Pháp lên chiếm Huế, các cụ ta đem rải quả mù u tròn tròn xuống đường, tưởng là họ sẽ ngã quỵ để mình đánh. Các cụ của thế kỷ trước làm thế còn tha thứ được và tinh thần của các cụ là đáng quý, chứ ở thế kỷ này mà Việt Minh họ làm thế thì khác gì đem máu xương của đồng bào ra làm trò thí nghiệm. Chú bảo kháng chiến là vĩ đại? Vĩ đại đâu ở cái chỗ khắp nơi đã bị quân Pháp chiếm cả, còn giữ làm gì một mảnh rừng hoang nhỏ hẹp này để kéo dài thêm những ngày đau khổ của dân chúng. Nếu kháng chiến là vĩ đại thì chú đi từ Vinh vào đây phải đi bằng máy bay hay ít ra cũng bằng ô tô. Leo rừng, leo núi, lên mãi tít tận biên giới Lao như chú vừa nói, chui rúc khổ sở như thế thì vĩ đại cái gì? Và lấy đâu ra mà gọi là thắng lợi được. Tôi cho rằng kháng chiến là thất sách và do lỗi ở Việt Minh. Đúng ra là phải khôn khéo điều đình với người Pháp, dựa vào cái tình thế sau Đại chiến thế giới thứ hai mà xin lấy một cái tự trị, rồi từ đó mà tiến lên bằng cách nâng cao dần cái dân trí. Việc ấy phi giới thượng lưu trí thức đứng ra đảm đương thì không ai làm được cả. Nhưng Việt Minh đã phạm một tội lớn, họ đã phá hoại mất cái khả năng ấy và bây giờ là hết cả. Tôi nói như thế, chú có hiểu rõ hay không?


       Thằng bình tĩnh trả lời:


       - Em làm gì mà không hiểu rõ ý anh. Nhưng cái vĩ đại của kháng chiến chính là ở chỗ nước ta hẹp, nghèo, lạc hậu mà cầm cự nổi với nước Pháp đệ tứ cường quốc đấy. Và trước hết là tại ai mà nước ta nghèo và lạc hậu? Có phải tại chính thằng Pháp không? Nhật Bản cũng ở Á Đông, vậy mà không bị đô hộ, họ cũng tự cường được. Anh ạ, anh ở Huế nên không rõ, Thu Đông năm ngoái, quân Pháp đánh lên Việt Bắc bị thua to, tài chiến của chúng bị đắm ở sông Lô. Khu căn cứ Việt Bắc gồm hàng vạn cây số vuông ta vẫn giữ được, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi, Bình Định là vùng tự do mà quan Pháp đánh tới không nổi. Trận Hà Nội dược người ta coi như trận Sta- lin- grat. Ở Khu 3, tức là vùng đồng bằng Bắc Bộ ấy, tỉnh nào cũng có chiến khu, làng nào cũng có du kích. Ngay ở Bình Trị Thiên này, mặt trận bị vỡ như thế mà bây giờ cũng có du kích khắp nơi. Anh chẳng bị người ta bắt ngay ở gần đồn An Hòa là gì? Nào phải kháng chiến chỉ còn có mảnh rừng núi nhỏ hẹp này. Kháng chiến có gốc rễ rất sâu rộng trong nhân dân chứ. Anh bảo cán bộ là dốt. Đúng, nhân dân ta bị đô hộ đã lâu, làm sao mà tinh thông kỹ thuật chiến tranh ngay được. Thử hỏi ngay những người trí thức như chúng ta thì đối với vấn đề ấy cũng chẳng giỏi gì hơn cán bộ. Những cái ấu trĩ lúc mới kháng chiến, em cho là chuyện tất nhiên. Cái vĩ đại là ở tinh thần quật khởi và nhất là sự tham gia của nhân dân, có thể nói là của toàn dân…


       Hanh ngắt luôn lời Thắng một cách thô bạo:


       - Chú nói như thế không được. Ai cho phép chú nói là toàn dân. Thế dễ chúng tôi đây, những người không kháng chiến chỉ vì không thể chịu đựng nổi Việt Minh, lại không phải là dân nước Việt hay sao? Cái lối nói nhân dân ấy là cái lối mượn danh nghĩa của Việt Minh. Họ chỉ là một dúm, chú biết chưa. Thế hàng vạn dân hồi cư về Huế, trong ấy có những người trí thức tiêu biểu, chú đều cho là Việt gian cả hay sao?


       Hanh nhấn mạnh hai chữ Việt gian một cách nặng nề, tưởng chừng như chính Thắng đã xúc phạm tới ông và gọi ông như vậy. Nhưng Thắng vẫn bình tĩnh. Anh vẫn kịp thời nhận ra cái chỗ vô lý trong lập luận của Hanh. Anh nói luôn:


       - Đấy, cái chỗ khác nhau giữa em và anh chính là ở chỗ ấy. Nhà nước là thế nào, ai là nhân dân. Theo em thì nhân dân là số người đông nhất của nước ta, là nông dân, là thợ thuyền, là những người lao động, những người tiểu tư sản ở thành thị, những người trí thức và nói chung là những người yêu nước đánh Pháp. – Thắng lấy giọng hết sức quả quyết rồi nói tiếp – Em nói anh đừng giận ngay như anh em ta, nếu không đứng vào hàng ngũ chiến đấu thì cũng không thể gọi là nhân dân được. Anh hẳn nhớ thầy chúng ta làm quan to trong triều đình. Làm quan ngay hồi trước cũng gọi là phụ mẫu chi dân, không ai gọi là dân được.


       Hanh cảm thấy mình bị Thắng dồn vào một bức tường. Ông thấy nổi tự ái lên, không kìm được, ông quát to, không còn có lập luận gì nữa:


       - Chú không được nói động đến thầy. Nói như thế là phạm tội bất hiếu.


       Hanh tái mặt đi, lời nói nghẹn đi trong cổ họng, tưởng chừng như ông có thể đứng thẳng người dậy cho Thắng một cái tát. Nhưng Thắng như không để ý tới điều đó. Anh cũng cảm thấy máu trong người anh sôi lên bừng bừng, một sự giận dữ bốc lên làm anh không thể kìm lại được. Anh nói tiếp, quên cả việc mà chính anh đã tự nhủ mình ngay từ đầu là phải mềm mỏng.


       - Không, em không bất hiếu. Sự thật là như thế nào thì em nói thế. Anh bảo rằng kháng chiến là lỗi ở Việt Minh. Sao lại có thể như thế được. Kháng chiến là công lao của họ và của toàn dân. Kháng chiến là thần thánh. Anh nói rằng phải điều đình với Pháp để xin tự trị. Nói anh tha lỗi, đó chỉ là đầu hàng. Nó đem hàng vạn quân với đầy đủ súng ống sang đây rõ ràng là để cướp nước ta mà xin nó cho tự trị sao được. Tự trị ấy chỉ là ảo tưởng nếu không nói chỉ là nô lệ. Luận điệu ấy chỉ là của những người trí thức ươn hèn. Anh ạ, anh hãy tỉnh ngộ lại. Em nói thật đấy, anh em ta mang trong người dòng máu không trong sạch gì đâu. Em hoàn toàn không bất hiếu, em vẫn công ơn sinh thành của thầy mẹ. Nhưng cái việc làm quan thì không thể nói là tốt được. Anh hẳn nhớ chính chúng ta cùng biết những lần thầy ăn của dân, của tổng lý bao nhiêu là tiền. Sao ta không can đảm thấy đấy là bẩn thỉu. Nhưng chưa muộn anh ạ, nếu anh thật có lòng yêu nước thì…


       Một tiếng đập bàn đánh rầm một tiếng ngắt ngang lời Thắng. Hanh đứng phắt người dậy, ông run lên vì giận. Đôi kính trên mũi ông trễ như tụt hẳn khỏi sống mũi. Mắt Hanh vằn lên những tia dữ dội. Giọng ông lạc hẳn đi, ông hầu như quên rằng ông và Thắng là hai anh em ruột. Ông quát:


       - Im ngay! Đồ bất hiếu bất mục! Cút đi! Khốn nạn! Tôi thề ra đây là lần cuối cùng tôi gặp mặt anh! Tôi từ anh, anh biết chưa, không còn anh em gì với anh nữa. Tôi không thể cho phép trong gia đình, em có thể dạy anh như thế. Yêu nước! Tôi đã biết mà… Thà rằng anh cứ gọi tôi là Việt gian, thầy đẻ ra anh là Việt gian cho xong. Cộng sản đã biến anh thành đồ vô luân. Tôi nói cho anh biết một câu chót: chính anh mới là đứa vong bản, đi làm tay sai cho cộng sản để chửi lại ông cha. Thôi, cút đi, tôi không thể nghe anh nói thêm một câu nào nữa. Anh không được phép quay lại đây một lần nữa. Nghe chưa. Cút ngay, nếu anh không muốn tôi phải cho anh vài cái tát…


       Thắng lộn ruột, anh cũng không kìm được cơn nóng giận đã bốc lên từ lúc nãy. Anh cũng quát to:


       - Thế thì quả anh là người không còn chút lương tri nào nữa. Được, tôi cũng không cần gặp mặt anh một lần nào nữa. Có người anh như anh chỉ thêm nhục. Đúng, anh quả là đồ Việt gian phản quốc, người ta nói đâu có sai.


       - Đồ khốn kiếp!


       - Anh không được phép mắng tôi với cái giọng ấy… Thế mà gọi là thượng lưu trí thức đấy.


       Tháng quay ngoắt người đi ra, đầu óc anh quay cuồng, mắt anh không còn nhìn thấy cái gì nữa. Anh bước vội ra khỏi cửa nhà giam đi thẳng, chân bước đi mà không còn biết là mình cần đi đâu bây giờ.


       Bên ngoài cổng trại giam, người lính gác thấy anh đi ra, khẽ gật đầu chào anh rồi chạy vội vào đưa Hanh trở về phòng giam cũ.


       Thắng đi được chừng hơn trăm thước thì thấy lòng dần dịu lại. Lần đầu tiên trong đời anh thấy chua chát, một sự chán nản, buồn bã dâng lên làm anh không còn cất bước nổi. Anh cảm thấy đổ vỡ, nghĩ lại cái lúc cam đoan với Thân là nhất định sẽ thuyết phục được Hanh. Anh dần dần bình tĩnh lại và suy nghĩ về những câu nói với Hanh. Anh vẫn thấy những luận điểm anh nêu ra là đúng, không có gì sai. Anh chỉ thấy có lẽ anh đã nói về thành phần gia đình anh một cách sớm quá. Nhưng ở đây, ở chiến khu này, cũng như ở Vinh, người ta nói về thành phần xuất thân một cách bình thản biết bao. Người ta nhìn lại như thế để hiểu rõ về con người của chính mình, để thấy căn nguyên sâu xa của những khuyết điểm của chính mình và do đó mà đặt phương hướng tự cải tạo. Như thế thì tốt thôi chứ có gì mà Hanh gọi là bất hiếu. Thắng mỉa mai lẩm bẩm một mình: Bất hiếu! Có dễ như vậy thì có hiếu nghĩa là thấy bố mẹ, anh em giết người hay làm việc gì ám muội, người ta cũng cứ phải làm lơ hay a tòng theo hay sao? Hay tại ta nói anh ấy là người trí thức ươn hèn, đầu hàng. Nhưng người đâu mà dễ tự ái một cách vô lý như thế. Trước đây ở Huế anh ấy có như thế đâu. Thắng đến bên một bờ suối, anh ngồi lên một phiến đá to, soi mình xuống dòng nước. Dưới dòng nước, khuôn mặt anh với món tóc xõa trước trán và một đôi mắt to, yêu đời, nhìn ngược lại anh. Anh chợt muốn mỉm cười với bóng của mình, anh vốn là người dễ nóng giận như thế nhưng cũng dễ dịu ngay đi như thế. Một cái lá rơi ngay trên đầu anh rồi rơi xuống nước, làm tan ngay cái bóng của anh trên dòng nước. Trở lại chăng? Phải, hay ta trở lại với anh ấy một lần nữa? Thắng cầm một viên cuội ném xuống nước. Một tiếng “bụp” nhẹ nổi lên, nước suối đang chảy bỗng tan ra thành những vòng tròn và rồi những vòng tròn ấy cũng theo dòng nước chảy mà vòng dần hình bầu dục và những mép nhăn của nó đập vào hai bên bờ suối mà ta dần. Không được. Thắng cảm thấy lòng tự ái của anh đã bị tổn thương, không thể trở lại ngay bây giờ được. Cũng phải để ít lâu nữa. Khi nào cuộc sống đã mở mắt cho anh ấy, mình gặp lại có lẽ tốt hơn. Không cho phép quay lại đây một lần nữa. Câu nói của Hanh trong cơn nóng giận vụt trở lại trong trí óc Thắng. Gớm, làm như mình cần đến anh ấy không bằng. Ai cần ai nhỉ? Cái khó bây giờ là mình báo cáo lại cho các đồng chí ở tỉnh ủy thế nào đây? Thôi, chẳng báo cáo gì cả vậy. Không lẽ nói rằng tôi đã thất bại. Không lẽ lại thế. Thôi, về bệnh viện làm việc cái đã, chỉ có cách ấy là tốt nhất.


       Thắng lủi thủi một mình trèo qua ba cái dốc lớn lên CK7, bước chân cảm thấy không được nhanh nhẹn như mọi khi. Lần đầu tiên, anh thấy rõ ba cái dốc này quả là cao và trèo lên thật là mệt nhọc.


 


       Rô- giê La- gác đi đi lại lại trong căn phòng chật hẹp của hắn ở đồn Phong Thái, nên giày đinh cồm cộp. Trông dáng điệu hẳn như con thú dữ. Hắn vừa bị đổi về cái bốt nhỏ bé này. Chiều nay, hắn vừa nhận được thư của Mô- ních ở Huế gửi báo cáo cho hắn biết là Mô- ních đã theo đại tá Béc- na vào hưởng tuần trăng mật ở Đà Lạt. Thật là một bức thư láo xược, đểu giả. La- gác muốn gầm lên cho hả giận. Nhưng hắn nghĩ lại thấy hét to lên không lơi, bọn trong đồn mà biết chuyện này thì còn gì là uy tín của quan đồn trưởng mới. Hắn rít răng lại lẩm bẩm: “Con đĩ! Đồ khốn nạn. Dám viết cho mình là hắn không chịu được cái dòng máu lai của mình. Tao mà thấy mặt thì cả mày và cả thằng Béc- na sẽ ăn đạn hết”. Hắn giở bức thư của Mô- ních ra xem lại một lần nữa: “Đểu giả” – Hắn vùng vằng xé vụn bức thư thành trăm mảnh. Chợt trong thấy cái ảnh nhỏ hắn chụp chung với Mô- ních lồng kính đặt trên bàn, hắn nhấc lên nhìn qua một lượt rồi cười gần giơ cao lên ném mạnh xuống đất. Choang. Tấm kính vỡ tan làm trăm mảnh. Bên ngoài chợt có tiếng bước chân chạy tới. Nhưng không đứa nào dám ngó vào cả, chúng đều biết tính nết tên quan chỉ huy mới của chúng. La- gác đỏ ngầu đôi mắt, hắn cúi xuống nhặt tấm ảnh định xé vụn, bỗng lại lắc đầu, chỉ xé phần ảnh của Mô- ních sau đó vo viên ném thẳng ra cửa sổ. Hắn lại lẩm bẩm: “Bẩn thỉu! Nhưng chẳng tiếc làm gì đồ đĩ rạc ấy. Con ấy trước khi tới tay mình, nó cũng đã qua tay hàng trăm thằng rồi” – Chừng như hơi hả giận vì tìm được cái câu kết án Mô- ních. Mô- ních mà trước đây hắn đã gọi là “em yêu quý và mãi mãi trong sạch của anh ấy”, hắn thủng thẳng đi về phía bàn, kéo chiếc ghế ra ngồi phịch xuống, ôm đầu mơ màng nghĩ ngợi. Chung quy chỉ vì cái trận lùng tai hại ấy, chung quy chỉ tại bọn đỏ khốn kiếp. Đúng, nếu ta mà không bị giáng chức và không bị điều về cái bốt nhỏ bằng hòn dái này thì đâu có xảy ra chuyện gì. Trận lùng lên vùng Khe Me như diễn lại trong trí óc hắn. Hắn đang được tín nhiệm, được thăng lên hàm thượng úy, được về làm đồn trưởng đồn Mỹ Chánh, một đồn quan trọng nằm ngay trên đường số 1 giáp giới Thừa Thiên và Quảng Trị. Hắn đã về cái đồn này sau khi Tư “trán nhãn” bị mất hai tên thủ hạ là Tám Lạng và Kếu và đã mò về lại Quảng Điền. Rất nhanh, hắn đã đánh hơi thấy Việt Minh chỉ ở quanh quẩn cái vùng rừng núi của xã Phong Nguyên, ở những vùng Khe Me, Hòa Mỹ, Đất Đỏ v.v… Hắn muốn lập một chiến công thật lừng lẫy. Hắn muốn đánh ta được một số lớn quân chủ lực của Việt Minh, chiếm cứ cả vùng Khe Me. Hắn đã thầm nghĩ rằng đấy mới là chiến công thật sự. Hôm ấy, nghe báo có một tiểu đội Việt Minh áo xanh xuất hiện ở gần Khe Me, hắn đã đích thân đem sáu chục lính đuổi theo. Quân của hắn đi rất thuận lợi, chẳng gặp phải sự kháng cự nào cả. Bọn nó trông thấy ta chắc lủi như chuột cả rồi, hắn nghĩ thế. Những con đường mòn dẫn tới tận chân núi trông có vẻ hiền lành không có gì là nguy hiểm. Vùng này gồm phần lớn là đồi trọc với những đám sim, muồng dại và những bãi sắn xanh um. Hai trung đội của La- gác tiến gần tới dòng sông Ô Lâu, trên sông chỉ có lau sậy và dòng sông vắng ngắt, tiểu đội Việt Minh áo xanh không biết đã lủi đi đâu rồi. Lòng sôn chỗ này sâu lắm, không lội qua được. Bên kia sông, lẫn vào một góc rừng thấy có một làn khói nhẹ bốc lên, có lẽ là một trạm gác của Việt Minh. Làm thế nào nhỉ? Không lẽ lên đến đây lại quay về? La- gác sai một tên lính đi tìm tổ xích hầu. Tổ này cũng đã vượt qua suối. Một lát sau, tổ xích hầu tới báo cáo: không có bóng một tên Việt Minh. La- gác tức điên ruột. Hắn hạ lệnh cắm trai ngay bên này bờ Ô Lâu, đặt người cảnh giới và phái bốn tiểu đội đi lùng bốn phía. Nhưng các tiểu đội chưa kịp đi thì một cơn gió mạnh đột nhiên thổi ập tới. Rừng cây xào xạc. Đám lau sậy chung quanh hai trung đội của La- gác rạp xuống. Và chỉ ba bốn phút sau, trời mưa như trút nước. Thật là một trận mưa to không thể tưởng tượng được ở cái vùng rừng núi này. Nước mưa xối xả cứ như táp vào mặt vào mũi người ta. Lúc ấy mới khoảng ba giờ rưỡi chiều mà trời âm u như tối sầm hẳn lại. Cả hai trung đội ướt như chuột lột. Chúng tranh nhau đứng dưới những gốc cây thấp lè tè để tránh nước mưa. Lúc ấy, chúng lại thầm oán sao cây ở đây lại thấp đến thế. La- gác hạ lệnh cho cắm lại trại mấy lần không được đành phải thôi. Và cũng vì không có kinh nghiệm hẳng cũng tới núp dưới một cây con, hy vọng cơn mưa to sẽ dứt trong nửa giờ là cùng. Nhưng không, một tiếng sau, mưa vẫn không dứt. Bọn lính và cả La- gác run lên vì lạnh. Phải quay về thôi, La- gác thầm nghỉ. Hắn hạ lệnh cho bọn lính thu dọn hết những vải bạt để quay về. Năm giờ chiều thì cả đoàn quân đội mưa về tới bên dòng suối lớn. Chúng cùng rú lên, nước suối đã dân lên to như cả một dòng sông đục ngầu, cuồn cuộn chảy, bọt văng tung tóe, những đám rác bị cuốn băng trên dòng nước theo tốc độ đến vài chục cây số một giờ. Những hòn đá to mà bọn lính Pháp trông thấy lúc lội qua giờ đã bị ngập băng đi cả. Một tên lính định mạo hiểm thò chân xuống suối dò thử. Đi được hai bước, hắn bỗng thụt xuống, nước đã ngập gần rốn hắn. Hắn chới với, vơ vội lấy một cành cây lòa xòa gần đấy và thét rầm rĩ nhờ đồng đội kéo lên. Không thể băng qua suối được rồi. La- gác bèn cho cả đoàn quân quay lại chỗ cũ, vì chỗ gần suối này trống quá, không có một bóng cây nào để nấp. Rồi chính La- gác còn mò tới tận bến bờ Ô Lâu, hắn vẫn chưa bỏ qua cái mộng vượt qua bên kia sông săn đuổi Việt Minh. Nhưng dòng sông đã dâng lên cao, nước cuồn cuộn chảy như thác lỡ. Hắn thở dài quay lại. Thế là đành chịu đội mưa ở cái vùng thổ tả này, trên không có cây che, dưới không có chỗ nằm. Đêm hôm ấy vẫn mưa rào. Đoàn quân ra đi hùng mạnh như thế mà bây giờ không được nằm, đành ngồi bệt xuống hàu nước lòng bòng dưới các gốc cây. Thật là thảm hại. Chính La- gác cũng lựa mãi mà không có chỗ nào tương đối khô ráo để đặt đít, đành ngồi phệt ngay giữa dòng bùn ngập quá mông hắn. Như thế này mà Việt Minh đánh tới thì thật chết. Nhưng cũng chẳng có ma Việt Minh nào ở đây. Khổ nhất là bụng đối như cào và áo quần ướt đẩm, rét run như cầy sấy. Những tên lính mò trong túi áo xem có gì ăn được, những mẫu bánh quy đã nhão như hồ, những túi lương khô đã ướt rệu, đều đem ra nhấm nhấp một cách không có gì là thú vị cả. Cả đoàn quân không ngớt lời nguyền rủa trời đất và rủa La- gác. La- gác không lạ gì những lời rủa đó. Nhưng hắn cũng phải giả điếc. Sáng hôm sau nửa, trời vẫn mưa nhưng hạt mưa đã có nhẹ bớt. Ba giờ chiều hôm sau thì cơn mưa đã hơi tạnh, chỉ thỉnh thoảng còn những trận mưa ngắn. Nhưng nước suối vẫn tiếp tục dâng cao, hình như sau trận mưa còn dâng cao nhanh hơn trước vì nước trên nguồn đổ xuống. Chịu không còn cách gì vượt qua được. Lại qua một đêm khủng khiếp nữa. Sáng hôm sau đó, nước suối đã cạn nhiều nhưng vẫn chưa qua được. Trời đã tạnh. Bọn lính đi lùng quanh đã khám phá được mấy đồi sắn. Chúng dùng lưỡi lê bới sắn lên, dùng mũ làm nồi luộc và ăn những củ sắn một cách ngon lành. La- gác không phải đụng tới cái món ấy, làm quan chỉ huy, hắn có đồ hộp do một tên quân mang theo. Bọn lính háu đói, bốc sắn đầy ruột. Ăn xong, chúng đều lảo đảo say sắn vì chúng không biết ngâm sắn trước khi luộc và không biết bóc vỏ. Tên y tá đi theo không biết gì lại phát ký ninh cho bọn lính uống vì hắn cho là mọi người bị lên cơn sốt rét rừng. Và thế là hơn ba chục tên không đánh đấm gì cả ngã sùi bọt mép lăn quay ra chết. Gần ba chục tên còn lại, trong đó có La- gác, đã lảo đảo đào mấy cái hố nông choèn, vứt xác đồng đội vào đấy, vùi qua quýt, tưởng chừng như nếu có một trận mưa to như đêm hôm kia thì lại thói ra hết. Chôn xong đồng đội, cả bọn mệt lử, một vài tên nôn ọe. Vừa lúc ấy, tiểu đội Việt Minh bỗng đánh tới. Cái tiểu đội này cũng quanh quẩn ở vùng này và họ cũng ăn sắn như quân Pháp nhưng họ không say. La- gác không còn dám đánh nữa, hắn hô số quân còn lại chạy miết, sau khi đã bỏ lại chín xác chết nữa. Cũng may mà tiểu đội Việt Minh cũng mệt lử vì hai đêm mưa, họ không ham đánh mà chỉ lo chạy tới tước súng. Và khi mười mấy tên Pháp còn sống sót cùng La- gác chạy tới bờ suối thì cùng đã có thể lội qua được. Như vậy là hắn đã nướng mất hơn bốn mươi tên vừa lính vừa hạ sĩ quan, và mất hơn bốn mươi khẩu súng. Sau trận thảm bại không ngờ ấy. La- gác bị tước lon thượng úy giáng xuống thiếu úy và bị đổi về cái bốt Phong Thái nhỏ bé này.


       Càng nghĩ La- gác càng căm thù Việt Minh. Cho đến lúc ấy, hắn vẫn không hiểu tại sao các đội tiền tiêu và xích hầu của hắn lại không tìm ra cái tiểu đội Việt Minh ấy. Hắn còn căm một nỗi là nghe đâu sau trận ấy, tên thiếu tá cấp trên của hắn hình như đã báo cáo về Huế rằng hắn là một tên lai ngu dốt tự tiện càn nên đã nướng một phân nửa số quân của đồn Mỹ Chánh. Đ… mẹ cha chúng bay. La- gác thầm rủa bằng tiếng Việt Nam như vậy. Ừ thì ông là lai. Đứa nào mà nói tới cái tiếng ấy là ông cho xơi đạn ngay. Trong một phút, hắn lại nghĩ tới cái nhục của hắn lỡ mang trong người dòng máu lai, do mẹ hắn truyền lại. Cái con mụ khốn nạn ấy, vì sao mà lại đẻ ra ông. Đồ chó chết. Nhưng cái con Mô- ních thì còn tệ hơn.


       Bắn, bắn cho chết hết lũ chó. Trong ý nghĩ của La- gác, bỗng đội lên một niềm căm thù man rợ. Hắn căm thù cả loài người trước hết là cái giống An Nam và nhất là Việt Minh. Hắn bỗng đứng lên quát:


       - Bồi!


       - Dạ.


       - Mau lên, đồ khốn nạn! Bữa ăn chiều đã sẵn sàng chưa!


       - Bẩm quan gần xong ạ. – Tên bồi run như cầy sấy đáp, chỉ chực rút lui ngay nếu La- gác sờ tay tới bao súng lục.


       - Có gì uống không? Lấy tao chai rượu trắng.


       - Bẩm chỉ còn bia và rượu vang đỏ.


       - Không lấy tao chai rượu trắng cảu thằng lý trưởng Phong Thái ấy.


       Khoảng tám giờ rưỡi tối, lúc La- gác đã say mèm thì lý trưởng làng Phong Thái lên đồn, thập thò đứng trước cửa buồng ăn của La- gác, lí nhí báo cáo rằng có hai người vượt chiến khu của Việt Minh tới làng hắn, hắn không dám tự tiện giữ nên phải đem ngay lên trình báo quan lớn đồn trưởng. Đang say, La- gác không nghe rõ gì cả, hắn quát lớn: “Ở chiến khu tới à. Đem giam ngay lập tức. Tí nữa cho về chầu ông bà ông vải. Đồ chó!”. La- gác đã nói câu ấy bằng tiếng Việt Nam, giọng sành sỏi như người Việt Nam thật thụ.          


       - Quan đồn trưởng bảo tạm giam hai ông cái đã.


       Hanh trố mắt ngạc nhiên:


       - Chết chửa! Ông nói thế nào mà lại giam chúng tôi. Tôi là ủy viên hội đồng chấp chánh Thừa Thiên, giáo sư trường Khải Định Huế đây mà.


       - Không biết! Quan đồn La- gác đây tính nóng lắm. Bây giờ thì chưa có thể nói năng gì hết. Được, nhưng hai ông cứ yên trí, tôi còn ở đây, tôi sẽ báo cáo lại cho quan rõ. Nếu quan nghe rõ thì không việc gì đâu.


(còn tiếp)


Nguồn: Huế ngày ấy. Tiểu thuyết của Lê Khánh Căn. NXB Quân đội nhân dân, 2011. Nhà văn Châu La Việt gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »