tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21042954
18.05.2017
Vũ Bằng
Nói có sách (1)



Nói có sách, mách có chứng.


       (Tục ngữ)


Biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe.


       (Tục ngữ)


Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri.


       (Luận ngữ)


LỜI NÓI ĐẦU


(Trích)


Trước đây trong kháng chiến chống Pháp ta có phong trào dùng danh từ mới bằng chữ Nho. Nói “mới” tức là nói rằng trước đây các nhà văn nhà báo, các chính khách, sinh viên, nghị sĩ… cũng đã có một thời kỳ đua nhau dùng chữ Nho, kiểu Phạm Quỳnh. Dùng như thế, có vẻ… nho nhã và hàm súc, tuy rằng có ích trong sự dùng điển, và câu văn đó ít lời mà nhiều ý, nhưng đồng thời cũng tỏ ra rằng người viết hay nói lười nhác, không muốn mất thời giờ tìm một chữ Việt tương đương để cho đại chúng đều hiểu được.


Đến thời báo “Đông Tây” ra đời, một số nhà văn trẻ đả kích kịch liệt những tác phẩm dùng nhiều danh từ chữ Nho. Trong một thời gian khá dài, văn viết đã thấy bớt danh từ chữ Nho, nhưng đến lúc dân ta nổi lên chống Pháp thì người ta lại thấy các danh từ mới bằng chữ Nho xuất hiện nhiều hơn bao giờ cả.


Đó là một nhu cầu, vì nói cho thực, lúc đó ta vẫn chưa đủ chữ để diễn tả những ý nghĩ cần dùng về mặt chính trị, kinh tế, xã hội v.v… nhưng đồng thời ta cũng phải nhận rằng có nhiều người lúc ấy cũng lạm dụng danh từ, thay vì nói một cách bình thường, dễ hiểu, thường ưa “xổ”danh từ mới ra, trước là để “cho oai” sau là vì họ tưởng rằng có dùng các danh từ mới ấy thì mới là “người thời cuộc”.


Đã đành rằng trong số ít người dùng sai các danh từ đó, cũng có nhiều người dùng trúng.


Theo ông Lãng Nhân, chữ Quốc ngữ dễ học, dễ đọc, nhưng không phải vì thế mà dễ viết, dễ nói. Là vì muốn nói hay viết cho rành rọt, cần phải có một ít vốn chữ Hán là thứ chữ đã thâm nhập vào tiếng ta từ lâu.


Điều đáng phàn nàn là có một số các chính trị gia, nghị sĩ, dân biểu, văn nhân, ký giả và sinh viên, trí thức đáng lý có thể dùng được những danh từ nôm na bình thường để diễn đạt tư tưởng, không chịu làm như thế mà lại sính dùng danh từ mới để nói hay viết vì thói quen cũng có, mà vì muốn tỏ ra vẻ mình thông thái, giỏi giang cũng có.


Nhất là một số chính khách thì lại càng sính dùng những danh từ mới lắm. Sính như thế là vì họ nghĩ rằng làm văn hóa, làm chính trị, hay làm kinh tế… mà dùng những danh từ tầm thường thì không được, phải dùng những danh từ mới thì mới tỏ ra là chính khách, là thông thái, là người làm việc dân, việc nước hạng… cừ!


Họ có biết đâu rằng chính ở nơi sản xuất ra những danh từ mới ấy, sau một trận “sốt rét danh từ”, người ta quay về tìm những chữ nôm na đại chúng để diễn đạt tư tưởng và bỏ được những danh từ khó hiểu được chừng nào càng hay chừng ấy. Một bài diễn văn hay, một lời tuyên ngôn giỏi, có phải hay, giỏi vì mấy danh từ như “đề cao cảnh giác”, “cao độ”, “đặc thù”, “tư liệu”, “ý đồ” đâu, nhưng hay vì tư tưởng, vì kết cấu, vì giản dị, vì có biện chứng, vì cảm hóa và đi sâu được vào lòng nhân dân.


Ấy là nói những danh từ trên dùng đúng nghĩa và đúng chỗ. Những người thường dùng lầm danh từ, hoặc dùng không đúng chỗ, không những đã không đạt được ý muốn của mình mà lại còn làm cho người hiểu biết nghe thấy mà phải tức cười và thương hại cho “hồn chữ”.


Chắc các bạn đọc còn nhớ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã viết một bài văn nói về chữ “kiện” xuống tới Diêm Vương những nhà văn đã “làm tình làm tội” chữ nghĩa, dùng lầm chữ, dùng sai chữ.


Câu chuyện ấy là “hài văn” nhưng thực ra cũng có một phần nào thực. Cái phần thực đó là chữ nghĩa không phải là vật vô tri, nhưng mỗi chữ đều có một đời sống, một cái hồn, thương lấy chữ tức là thương lấy mình, thương lấy văn hóa nước mình, thương lấy chữ tức là tự trọng.


Đã là người, ai mà lại không lầm lẫn. Có người lầm lẫn về hành động, có người lầm lẫn khi viết, có người lầm lẫn khi nói. Sự lầm lẫn ấy gần như không tránh được, duy có một điều cần biết là phải tự giác, nhận lấy lầm lẫn, học hỏi, để tránh những lầm lẫn, không để cho tái diễn.


Tôi không tán thành những người cố chấp, không chịu học hỏi, chủ trương cái gì của địch thì không dùng mà chỉ có cái gì của ta mới hay, mới đẹp. Nói riêng trong phạm vi nước ta, Bắc hay Nam cũng chỉ có một nền văn hóa mà thôi.


Điều cần thiết là không nên lạm dụng chữ ngoại quốc, nếu có thể dùng chữ của mình thì bao giờ cũng vẫn hơn. Nhưng nếu có những trường hợp mà tiếng ta không có hay chưa có danh từ để diễn tả một ý kiến, một cảm giác, một tư tưởng, ta có thể cứ dùng những danh từ của ngoại quốc hay những danh từ của những đồng bào khác ý thức hệ với ta, nhưng điều quan trọng là đã không dùng thì thôi, chớ đã dùng thì cũng nên dùng cho đúng nghĩa và đúng chỗ, kẻo “hồn chữ” lại phải “tả oán” ở nơi âm phủ!


Soạn cuốn sách này, chúng tôi không dám có ý tưởng sửa sai hay bắt bẻ bất cứ ai. Đây là những điều chúng tôi học hỏi được, sưu tập lại để trình với bạn đọc, trước là để giúp ích cho những người chưa có dịp học hỏi, mà sau là để cho các bậc cao minh nhuận chính hầu giúp ích cho những người đến sau muốn sử dụng những từ mới một cách chân xác và đứng đắn.


Chúng tôi biết rằng bước đầu của chúng tôi còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi chỉ tìm hiểu những từ thường dùng. Dám mong các bạn bốn phương sẽ gửi thêm những điều học hỏi của các bạn về nhà xuất bản để cho lần tái bản, chúng ta sẽ có một cuốn sách tương đối đầy đủ hơn và nhân đây cũng xin các bạn chỉ bảo cho chúng tôi những sai lầm mà các bạn nhận thấy khi đọc sách. – VB.


PHÀM LỆ


1) Cuốn sách này không phải là từ điển nên không xếp theo thứ tự A, B, C…


2) Chúng tôi chỉ lựa những chữ hay dùng và xếp đặt tùy theo sự cần thiết hay tùy theo trường hợp.


3) Kèm với những danh từ sai, chúng tôi đưa ra những danh từ có thể coi là đúng hơn. Mỗi danh từ sai hay đúng đều có ghi thí dụ.


4) Về vấn đề giải thích, chúng tôi đưa ra những điều đã học hỏi được. Nhưng cũng có nhiều danh từ chúng tôi được các bạn quen biết tìm tòi và giúp đỡ. Mặt khác, chúng tôi cũng dựa vào nhiều cuốn từ điển như “Hán Việt từ điển”, “Anh Việt từ điển”, “Larousse”, “Từ điển Trương Vĩnh Ký” “Pháp Việt từ điển” “Từ điển tiếng Việt”… vì không muốn làm lạc ý của các tác giả các từ điển này, có những câu giải thích chép đúng nguyên văn, và cũng có những câu mà chúng tôi diễn đạt lại theo ý của chúng tôi, vì nhiều vấn đề không tiện nói ra.


Chúng tôi xin thành thật cảm tạ tất cả các bạn hữu đã giúp cho chúng tôi hoàn thành được cuốn sách này. – VB.


 


CHỦ NGHĨA CƠ HỘI CÓ KHÁC


CHỦ NGHĨA HOẠT ĐẦU?


“Cơ hội chủ nghĩa” là chủ nghĩa của những kẻ “gió chiều nào theo chiều ấy”. Cứu cánh của những người theo chủ nghĩa này là quyền lợi cá nhân. Họ không cần lý tưởng, không cần chân lý, mà chỉ cần cơ hội. Cơ hội tới, có danh có lợi là làm.“Đầu cơ” là “bà con” ruột thịt với “cơ hội”. Giống như đầu cơ kinh tế, những người đầu cơ chính trị là những người không chịu bỏ lỡ dịp tốt để làm tiền hay tiến thân. Có khác chăng là khác ở chỗ bản thân họ không có một chút giá trị, nên hễ gặp cơ hội là họ xông tới, chớ thường không dám làm cao giữ giá để chờ một cơ hội khác.


“Chủ nghĩa hoạt đầu” cũng là một thứ chủ nghĩa cơ hội, song trình độ nghề nghiệp của những người hoạt đầu có cao hơn nhiều.


Trên sân khấu chính trị, những kẻ không những thấy cơ hội là “chộp” lấy mà có lúc uốn lưng quỳ gối, có lúc đánh bên tả, gạt bên hữu với những mục đích gian manh, thì những kẻ đó đích danh là những phần tử “hoạt đầu” vậy.


Người có tư tưởng cơ hội có thể ít phạm phải những hành động phản bội, nhưng người có tư tưởng hoạt đầu nhất định sẽ đi vào con đường phản bội.


CHÍ SĨ, CHIẾN SĨ, LIỆT SĨ, TỬ SĨ


“Chí sĩ” (kẻ sĩ) là những người trí thức, có tiết tháo, trọng liêm sỉ, trong mọi trường hợp, giữ được lòng trung trinh với đất nước.


Dưới chế độ nô lệ hay thống trị, hà khắc, người chiến sĩ thường là những người từ khước mọi cám dỗ, danh lợi của bọn thống trị. Những người có chí lớn nhưng chán nản cuộc đời đen bạc, ở ẩn, cũng gọi là “chí sĩ”.


Chí sĩ mà lại có tinh thần chiến đấu cách mạng, tức có tinh thần luôn luôn vận động, tuyên truyền, tổ chức cách mạng được gọi là chí sĩ cách mạng. Thí dụ: Chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu.


“Chiến sĩ” chỉ những người chiến đấu ngoài mặt trận. Dần dần, danh từ chiến sĩ được định nghĩa rộng ra cho tất cả mọi công tác chiến đấu khác, vì thế có đủ loại chiến sĩ: Chiến sĩ trồng khoai, chiến sĩ nuôi gà, chiến sĩ tăng gia sản xuất… Song có điều cần biết là các chiến sĩ sản xuất phải có thành tích chiến đấu cụ thể, nếu không, không thể thành chiến sĩ được.


Với nội dung ấy, “chiến sĩ” phải là những người tích cực, gương mẫu nhất.


“Liệt sĩ” là những chiến sĩ (quân đội) chiến đấu có tinh thần hăng hái hy sinh và đặc biệt coi cái chết nhẹ như lông hồng.


Những người có tinh thần ấy mà chưa chết, chưa được gọi là liệt sĩ, cho nên nói liệt sĩ là nói người có thành tích tranh đấu và có cái chết anh dũng, như liệt sĩ Nguyễn Thái Học, liệt sĩ Phạm Hồng Thái.


“Tử sĩ” là danh từ để nêu chung những chiến sĩ bị chết ngoài mặt trận.


SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CẢM GIÁC,
CẢM ỨNG, CẢM XÚC


Ba chữ “cảm giác”, “cảm ứng” và “cảm xúc” khác biệt nhau.


“Cảm giác” là sự tiếp nhận tự nhiên về sự vật bên ngoài, qua sự kích thích của thần kinh. Sự kích thích ấy sở dĩ phát sinh là nhờ ở giác quan (tai, tay, mắt, mũi, lưỡi và còn là linh tính hay giác quan thứ sáu) đem lại cho ta.


“Cảm giác” là một vấn đề thực tế, song nó vẫn thường xuyên còn tồn tại hai tính chất: Chủ quan và mơ hồ.


“Cảm ứng” là cảm tình nảy nở theo cảm giác, như uống rượu thì thấy say, ăn chuối thì thấy ngọt. Cảm ứng tuy đi liền với cảm giác, nhưng kết quả hai đằng có khác nhau. Cảm giác thì có sai biệt, còn cảm ứng thì không sai biệt (trừ trường hợp những người có chứng bệnh thần kinh).


“Cảm xúc” là sự thông cảm hay xúc động vì sự vật bên ngoài, qua đường cảm giác. Có cảm giác mới có cảm xúc, có cảm xúc mới có cảm ứng.


Cảm thông để có thái độ hòa nhã hay cảm khái để phát tiết ra ý chí của mình đều là kết quả tinh thần sau khi có cảm xúc.


XÁC NHẬN, XÁC ĐỊNH, KHẲNG ĐỊNH


Hàng ngày, chữ “xác nhận” vẫn được dùng, nhất là trên mặt báo. Xác nhận là công nhận là có thực, là xác đáng, chắc chắn.


“Xác định” là định ra một cách đứng đắn, rõ ràng. Thí dụ: Xác định thái độ học tập. Xác định khác với quyết định. Quyết định là có ý nghĩa là quyết chí định một cách chắc chắn, quyết chí phải thực hiện một ý định, một quan điểm, một kế hoạch. Thí dụ: Chính phủ quyết định hạ giá hàng và trừng phạt nặng nề những kẻ đầu cơ tích trữ.


“Khẳng định” là khẳng khái quyết định là đúng. Chữ khẳng định mạnh hơn chữ xác nhận. Trái với khẳng định là phủ định, cũng như phủ nhận, có nghĩa quả quyết là không. Thí dụ: Chữ Hán gắn liền với Nho học, với giáo dục, khoa cử. Nhà nước phong kiến cần Nho học để khẳng định chủ nghĩa phong kiến, giữ gìn địa vị thống trị của giai cấp, nên phải đem Nho học truyền bá cho nhân dân.


Chữ “thẩm định” và “thẩm đoán” có ý nghĩa xét trước rồi đoán, định sau. Còn khẳng định lập trường là làm cho vững lập trường.


PHẢN ẢNH HAY PHẢN ÁNH?


“Phản ảnh” “phản ánh” đều có nghĩa là chiếu hắt trở lại (refléter), nhưng chữ phản ảnh bây giờ ít được dùng như phản ánh. Thí dụ: Văn học dân gian phản ánh cuộc sống của quần chúng, biểu hiện thế giới quan của quần chúng, do đó có tính nhân dân sâu sắc.


Từ ý nghĩa đó, chữ “phản ánh” được dùng với một ý nghĩa bóng bẩy, rộng rãi hơn. Phản ánh có nghĩa là tỏ ra, biểu hiện ra. Thí dụ: Lời văn của ông ta phản ánh một nội tâm trong sáng.


Ngoài ra, chữ “phản ánh” còn được dùng với một ý nghĩa rộng hơn nữa: Phản ánh là kể lại sự việc đã xảy ra. Thí dụ: Phản ánh tình hình chiến sự cho cấp lãnh đạo.


THÔNG QUA


Ở đây chúng ta thường dùng từ “thông qua” và cho là có ý nghĩa biểu quyết chấp thuận. Sự thực thông qua có ý nghĩa đó, ý nghĩa quyết định chấp nhận một kiến nghị. Thí dụ: Tiếp thu văn hóa ngoại quốc đã tiến hành trên cơ sở một tinh thần dân tộc, không phải chỉ có sự khuôn rập, đáng phàn nàn mà còn có tinh thần độc lập đáng quý trọng. Đối với ngày nay, đó là một niềm phấn khởi, đồng thời cũng là một bài học hay: Không thông qua cơ sở dân tộc, nhất định không có sự tiếp thu tốt văn hóa nước ngoài.


Mặt khác, thông qua còn một ý nghĩa nữa mà ít người chỉ nghĩ tới khi dùng từ này: Thông qua còn có nghĩa là trải qua, đi qua, dựa vào. Thí dụ: Giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản mà lãnh đạo cách mạng.


Nhưng “thông suốt” thì có ý nghĩa khác hẳn. Thông suốt chính sách ngoài ý nghĩa là chấp nhận chính sách còn có nghĩa là hiểu rõ chính sách từ đầu đến cuối.


CHỦ NGHĨA TỰ NHIÊN, KINH TẾ TỰ NHIÊN


Chữ “tự nhiên” dùng để chỉ tất cả những vật có sẵn trong trời đất, chớ không phải do sức người tạo ra, như ánh sáng, không khí, núi non, sông nước, cây cối…


“Chủ nghĩa tự nhiên” là một quan niệm nghệ thuật thịnh hành vào cuối thế kỷ 19, chủ trương miêu tả sự thật khách quan, sự thật ấy thế nào thì ghi lại đúng như thế. Thí dụ: Emile Zola là một nhà văn có hạng trong phái tự nhiên chủ nghĩa.


“Kinh tế tự nhiên” là nền kinh tế sản xuất ra để cho mình tiêu dùng, trái với kinh tế sản xuất hàng hóa.


Về y học, “tự nhiên liệu pháp” là cách trị bệnh không cần đến thuốc mà chỉ cần trị theo lối tự nhiên, nghĩa là dựa vào khí hậu, thể dục, chế độ ăn uống như uống nước lã để chữa bệnh nhức đầu hay ăn sả để trị bệnh phong chẳng hạn.


Về tôn giáo, “tự nhiên thần giáo” là một thuyết cho rằng đấng Thượng Đế tạo ra thế giới, nhưng người ta không cần phải có lễ nghi tôn giáo và bàn thờ, đồ cúng để cầu xin Thượng Đế.


BIỂU THỊ, BIỂU HIỆN


“Biểu hiện” là tỏ ra, hiện ra, để lộ ra, để cho người ta thấy. Thí dụ: Cá tính dân tộc Việt Nam, sau những cuộc tiếp thu văn hóa nước ngoài, biểu hiện rõ rệt nhất trong ngôn ngữ Việt Nam. Hay: Câu chuyện ông ta nói với chúng bạn hôm đó biểu hiện tư tưởng cầu an.


“Chủ nghĩa biểu hiện” là quan niệm nghệ thuật cho rằng nghệ thuật chỉ có nhiệm vụ trình bày đời sống tâm lý của con người chớ không cần diễn tả những sự vật bên ngoài.


Cũng nên biết rằng “biểu hiện” không phải là “biểu hiệu”. Biểu hiệu là tên riêng. Thí dụ: Tôi tên là Trần Văn Khá biểu hiệu là Thu An. Biểu hiệu còn có nghĩa là một vật dụng để nêu ra một ý gì, tượng trưng cho một ý gì… Con chó là biểu hiệu cho sự trung thành, con lừa là biểu hiệu cho tính ưa nặng, phải đánh đá mới chịu đi.


Chữ “biểu thị” tương tự với chữ “biểu lộ”: Tỏ ra cho biết. Thí dụ: Trong khi tiếp xúc với tiếng Hán, tiếng Việt vẫn biểu thị một trình độ tiến hóa nhất định của xã hội Việt Nam. Hay: Tác phong của người dân biểu thị một tinh thần độc lập.


HIỆU NĂNG, HIỆU LỰC,
HIỆU SUẤT, HIỆU NGHIỆM, HIỆU QUẢ


Từ thường được dùng luôn là “hiệu lực”. “Hiệu lực” là cái gì có thể đưa tới kết quả. Thí dụ: Đạo luật này có hiệu lực từ ngày được ban hành. Hiệu lực còn có nghĩa là tác dụng của luật pháp, quy chế… đối với nhân dân. Thí dụ: Hiệu lực của một đạo luật.


“Hiệu năng” cũng đồng nghĩa với hiệu lực. Hiệu năng (có người viết là năng hiệu) tức là khả năng đưa tới kết quả.


“Hiệu nghiệm” là có kết quả rõ ràng. Thí dụ: Thuốc này hiệu nghiệm như thần, uống vào năm phút là bệnh thuyên giảm liền. “Hiệu quả” cũng có nghĩa là có kết quả rõ rệt. Thí dụ: Nghe lời, ông ta về tìm lá phèn đen để uống trị bệnh phù thì quả vậy chỉ nửa giờ sau thấy hiệu quả ngay.


“Hiệu suất” là kết quả của sự sản xuất.


CÁ NHÂN VÀ CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN


“Cá nhân”, theo nghĩa chính của nó, là một người nói riêng, đối với đoàn thể và xã hội. Thí dụ: Hội ấy chỉ lưa thưa có mấy chục người, nhưng xét cho kỹ thì có vài cá nhân xuất sắc có thể “làm trò” được.


“Chủ nghĩa cá nhân” là nhân sinh quan của những người chỉ biết chú trọng đến quyền lợi riêng của mình, không cần gì đến quyền lợi của đoàn thể, của xã hội. Hồi Pháp thuộc, thể theo chiều hướng tư tưởng của các lớp thanh niên tư sản và tiểu tư sản - nhất là một số ông “tây An Nam” mới du học Pháp về - đòi giải phóng tình cảm, đòi tự do luyến ái, lấy ái tình và tự do bỏ vợ rồi lấy vợ khác làm hạnh phúc duy nhất, làm lý tưởng ở đời để trốn tránh cuộc sống trước mắt đầy chông gai đau khổ dưới ách thực dân phong kiến, thể theo tư tưởng bi quan, tiêu cực phát sinh trong các tầng lớp đó dao động, hoang mang sau các cuộc khủng bố, thực dân lại không hề ngăn cấm mà ra mặt khuyến khích, cổ võ các nhà văn thời đó đi vào những tâm trạng xã hội yếu hèn ấy, gây thành một “chủ nghĩa cá nhân”, đòi giải phóng cá nhân, thực chất là đòi tự do ăn chơi, trụy lạc, để hủy hoại ý chí đấu tranh của thanh niên, đưa dần đến con đường làm tay sai chúng nó.


Mặt khác, “cá biệt” có nghĩa là riêng lẻ, ít có. Thí dụ: Trường hợp cá biệt.


YÊU CẦU CÓ KHÁC YÊU SÁCH?


Trong các cuộc tranh đấu của công nhân đối với chủ hay các cuộc biểu tình của dân chúng phản đối các cuộc khủng bố trắng đối với sinh viên ở một số nước phương Tây… các ký giả, văn gia hay dùng chữ “yêu sách”.


“Yêu sách” có nghĩa là đòi cho kỳ được mới thôi. Thí dụ: Yêu sách của công nhân ở các nước tư bản đòi tăng lương đã được thỏa mãn. Trong danh từ “yêu sách”, có ý nghĩa tranh đấu, đòi hỏi gắt gao.


“Yêu cầu” so với “yêu sách”, tương đối nhẹ hơn, tuy là cũng có ý nghĩa đòi hỏi. Dùng chữ “yêu cầu”, người ta biểu thị một ý ôn hòa hơn. Thí dụ: Cảnh binh yêu cầu các người đến dự cuộc vui giữ trật tự.


Ngoài nghĩa này ra, danh từ “yêu cầu” còn một nghĩa nữa mà ở vùng quốc gia ít có người dùng. Yêu cầu có nghĩa là đòi hỏi nhưng đòi hỏi tới một mức nào đó, trong một công việc nhất định. Thí dụ: Yêu cầu của các truyện vui cười là khả năng bảo đảm gây được cười cho người đọc. Hay: Yêu cầu của công tác ấy là làm thế nào cho già trẻ lớn bé đều vui vẻ tự ý muốn đi học, chớ không bắt buộc.


MỸ HỌC, MỸ HÓA


Vì lẽ chúng ta quen nghe đến nước Mỹ và người Mỹ nên nhiều người nghe thấy, đọc thấy từ “mỹ học” và “mỹ hóa” đều tưởng ngay đâu rằng Mỹ học là cái học của người Mỹ và Mỹ hóa là hóa ra người Mỹ, đồng hóa với Mỹ.


Trong từ “mỹ học”, “mỹ” được dùng và hiểu như chữ mỹ trong “mỹ thuật”. Mỹ học là môn học nghiên cứu cái đẹp và tác dụng của những sự vật mà mình cho là đẹp. Thí dụ: Tiếng cười trong truyện ấy có một ý nghĩa chiến đấu, một ý nghĩa mỹ học.


“Mỹ hóa” là hóa đi cho đẹp. Chớ không phải là hóa ra người Mỹ. Thí dụ: Trên con đường “mỹ hóa” của truyện cổ tích, nhiều truyện cổ tích ở nhiều nước đã được kể thành văn vần hoàn toàn. Ta có truyện Trương Chi, Thạch Sanh…


GIAO ĐIỂM, GIAO LƯU, GIAO HƯỞNG


“Giao hưởng”, nói chung, chỉ dùng để nói về một giàn nhạc có nhiều thứ nhạc cụ hòa hợp với nhau. Thí dụ: Giàn nhạc giao hưởng.


“Giao lưu” nghĩa là sự trao đổi giữa hai luồng hàng hóa, văn hóa, tư tưởng. Thí dụ: Giao lưu văn hóa, giao lưu tình cảm.


Còn “Giao điểm”, không có nghĩa là trao đổi, hòa hợp. Giao điểm, thường dùng trong toán học, chỉ có nghĩa là cái điểm mà tại đó hai hay nhiều đường gặp nhau.


Sau này, dùng rộng ra, “giao điểm” chỉ những nơi mà nhiều đường lộ gặp nhau. Thí dụ: Ác chiến đã diễn ra ở một giao điểm cách thị trấn M. mười cây số.


PHÂN CHIA, PHÂN CẤP, PHÂN TÁN, PHÂN HÓA, PHÂN ĐỊNH


Nói về đất nước bị chia cắt, ta thường dùng chữ “phân chia”, “qua phân”. Thí dụ: Dưới thời Thập Nhị Sứ quân, đất nước “qua phân”, nhân dân đồ thán.


Về quân sự, ta hãy dùng chữ “phân tán”. Thí dụ: Đánh để phân tán lực lượng địch. Từ phân tán cùng nghĩa với “phân hóa”, nhưng phân tán có nghĩa là chia ra làm nhiều phần, chớ phân hóa ngoài ra lại có ý là chia ra nhiều phần đối lập nhau. Thí dụ: Bắt được địch, ta không giết, nhưng đãi ngộ họ, giáo dục họ, rồi cho họ về, nhằm mục đích “phân hóa” địch, một khi họ trở về hàng ngũ họ.


“Phân hóa giai cấp” cũng có nghĩa là chia ra nhiều giai cấp đối lập nhau để dễ cai trị, vì làm như thế thì nhân tâm bị phân hóa.


Cũng nói về giai cấp, còn từ “phân cấp”, nhưng phân cấp không có nghĩa là chia ra thành nhiều cấp, mà là chia ra cho các cấp. Phân cấp quản lý là chia việc quản lý cho nhiều cấp. Chữ “phân cấp” đây cũng tựa như “phân công”, nghĩa là chia công việc cho nhiều người theo khả năng và yêu cầu.


“Phân định” thành phần giai cấp nghĩa là chia ra và xác định thành phần của các giai cấp.


CẢM TÍNH VÀ LÝ TÍNH


Đã nói đến cảm xúc, cảm giác và cảm ứng, cũng nên biết, “cảm tính” là gì.


“Cảm tính” là tính - nói rộng ra là ý thức, hệ thống tư tưởng - phát lộ trên cơ sở cảm nghĩ hay cảm giác.


“Cảm tính” mang theo tình cảm cá nhân và chủ quan. Nó khác hẳn với “lý tính” tức là ý thức tư tưởng được suy diễn và chứng minh qua lẽ phải và sự vật thực tế.


Để nâng cao những nhận thức còn trừu tượng, ta thường nói: “Phải nâng cao trình độ cảm tính tới trình độ lý tính”. Như thế, có nghĩa là: Hoặc phải xác định nhận thức mơ hồ (trường hợp giữa cảm tính và lý tính thống nhất với nhau) để kiến tạo một ý thức hệ dứt khoát, hoặc phải khắc phục những tình cảm cá nhân còn tồn tại để xác định lập trường theo lẽ phải, có dẫn giải đàng hoàng.


TẠI SAO CÓ CỤM TỪ ĐỆ TAM ĐẾ QUỐC, ĐỆ TỨ CỘNG HÒA?


I. “Đệ tam đế quốc” là một cụm từ mà Hitler tự gán cho nước Đức trong đại chiến thứ nhì (3e Reich). Thời ấy, định nghĩa “đế quốc” chỉ là một nước hùng mạnh, cho nhiều nước khác thần phục. Nó cũng tương tự như “nghiệp bá” thời Đông Châu Liệt Quốc, chớ chưa có quy định dứt khoát như ngày nay.


Hitler muốn đề cao tinh thần dân tộc Nhật Nhĩ Man, một dân tộc đã từng có những thành tích hiển hách ở châu Âu từ thời thượng cổ và hiện nay là dòng giống chính thống ở Đức. Với ý định ấy, Hitler hy vọng xách động được tính tự cường của dân tộc Đức lao đầu vào con đường chiến tranh xâm lược.


Theo Hitler, “Đệ nhất đế quốc” là đế quốc La Mã. Cựu “Đức ý chí đế quốc” là “Đệ nhị đế quốc”. Đệ nhất và Đệ nhị đế quốc đều do dòng giống Nhật Nhĩ Man xây dựng. Ngày nay, Đệ tam đế quốc cũng phải là đế quốc của tất cả những người Nhật Nhĩ Man họp lại và lập nên. Lịch sử sẽ chứng minh như thế và chỉ có thế mới là kẻ thừa kế xứng đáng của dòng giống Nhật Nhĩ Man.


II. Đệ tứ Cộng hòa (4e République) là nền Cộng hòa lần thứ tư ở nước Pháp, sau đại chiến thứ nhì, tức sau thời kỳ đánh bại phát xít Đức, tái lập quyền độc lập cho nước Pháp.


Theo lịch sử Pháp thì cho tới 1945, nước Pháp đã có ba nền Cộng hòa. Sở dĩ như vậy là vì sau cuộc cách mạng tư sản dân chủ Pháp (1789) nước Pháp bị hai lần có mưu đồ lập lại chế độ quân chủ.


Nước Pháp tuyên bố thành lập Cộng hòa quốc (sau này gọi là Đệ nhất Cộng hòa) từ 1792, tức sau cách mạng 1789 và họp xong Quốc Dân Đại Hội.


Năm 1804 (tức sau 12 năm) Nã Phá Luân đệ nhất xưng đế, Đệ nhất Cộng hòa bị xóa bỏ.


Từ 1848 đến 1852, nhân dân Pháp lại nổi lên lập lại nền Cộng hòa trong sự sụp đổ của Nã Phá Luân đệ nhị. Thời này gọi là Đệ nhị Cộng hòa.


Năm 1852, Nã Phá Luân đệ tam lại xưng đế, làm cho nền Đệ nhị Cộng hòa lại tan vỡ. Cho mãi tới 1870, Nã Phá Luân đệ tam lại bị phế, nền Cộng hòa thứ ba mới hình thành.


Từ 1958, sau khi ông De Gaulle lên nắm chính quyền lần thứ hai, người ta cũng gọi là Đệ ngũ Cộng hòa với ngụ ý đề cao hoạt động cải tiến của De Gaulle với nội tình nước Pháp, song lối lợi dụng từ ấy xét ra không được xác đáng.


THẾ NÀO LÀ ĐẠO SƯ? THẾ NÀO LÀ ĐẠO CỤ?


Đọc truyện kiếm hiệp, có nhiều cuốn nhắc đến danh từ “đạo sư”. Tuy tác giả không giải thích nghĩa chữ “đạo sư”, song người đọc cứ hiểu ngầm là tác giả muốn nói đến một vị chân tu vào bậc thầy, như Thiền Quang Đạo sư với phép hô phong hoán vũ, Pho Ốc Đạo sư với những môn thần chưởng kinh người.


Mặt khác, để giới thiệu một cuốn phim kiệt tác nọ, các nhà sản xuất, ngoài việc kể lể đủ thứ giá trị và xây dựng cuốn phim, không bao giờ quên nêu danh người đạo diễn mà họ suy tôn làm đạo sư. Trong trường hợp này, “đạo sư” có ý nghĩa là người đạo diễn vào bậc thầy.


Vậy thực nghĩa danh từ đạo sư là gì?


“Đạo sư” là người tài giỏi, có bản lĩnh, có đức độ, nghĩa là có đầy đủ khả năng để dẫn dắt quần chúng. Có thể là nhà kinh tế, chính trị hay văn hóa có tài lãnh đạo về một trong các lãnh vực ấy. Nó không có nghĩa hẹp, hạn chế vào một nhà sư, một tay kiếm khách hay một người đạo diễn.


Đạo sư như vậy, còn “đạo cụ” là gì? Có người nói “đạo cụ” là vật dụng của những kẻ ăn trộm (trong nghĩa đạo là trộm) hay nói chung những đồ vật ăn trộm được. Không phải vậy. Danh từ “đạo cụ” dành riêng để chỉ đồ vật bài trí trên sân khấu để diễn kịch.


Đồ vật lớn như bàn ghế, tủ v.v… người ta còn gọi là “đại đạo cụ”; vật nhỏ như khay chén, bình trà, thuốc lá, bao diêm gọi là “tiểu đạo cụ”…


TÁC DỤNG, TÁC ĐỘNG


Nhiều người hay dùng lầm chữ “tác dụng” và “tác động”. Hai chữ ấy nghĩa khác hẳn nhau. “Tác dụng” là hiệu quả của một vật ảnh hưởng đến một vật khác. Thí dụ: Sâm có tác dụng làm cho người đang mệt mỏi thấy khỏe khoắn lại ngay.


“Tác động” là có ảnh hưởng mạnh. Thí dụ: Đời sống có tác động đến phẩm chất văn nghệ của văn nghệ sĩ.


Tất cả những gì gây ra một tác dụng gọi là “tác nhân”. Thí dụ: Tác nhân gây ra bệnh lao là vi trùng Kock.


NHÂN VĂN


Chữ “nhân” trong từ “nhân văn” có nghĩa là người, nhưng giải thích nhân văn là người thợ viết văn thì nông cạn. “Nhân văn” là văn hóa của loài người. “Chủ nghĩa nhân văn” của tư sản chủ trương phá tan những trói buộc kinh tế phong kiến, mưu giải phóng cho cá nhân trên cơ sở thừa nhận giá trị của con người, tin tưởng vào sức sáng tạo của con người. Chủ nghĩa nhân văn cách mạng đi xa hơn thế. Cũng chủ trương nâng cao và thừa nhận giá trị của con người chủ nghĩa nhân văn. Cách mạng còn chủ trương chiến đấu để giải phóng cho con người thoát khỏi mọi áp bức, đưa con người đến chỗ tự do, làm chủ vận mệnh của mình.


“Chủ nghĩa nhân văn”, nguyên thủy, phát triển ở Ý Đại Lợi, sau lan ra khắp Âu châu, và chủ trương phục hưng văn học và nghệ thuật của cổ Hy Lạp và La Mã.


CÔNG THỨC


“Công thức” là khuôn phép căn cứ theo lề lối khoa học để có thể thích dụng cho những trường hợp cùng thuộc vào loại đó. Về lý hóa, công thức là formule. Thí dụ: Đại số thức, hóa học thức.


“Bệnh công thức” là tính cố chấp, nhất nhất theo đúng công thức, không chịu linh động, mềm dẻo theo hoàn cảnh.


“Chủ nghĩa công thức” là quan niệm sai lầm của một số nhà xã hội học chủ trương rằng người ta có thể căn cứ vào một vài nguyên tắc nhất định để khảo cứu và giải thích tất cả các hiện tượng xã hội.


Khi muốn chuyển một vấn đề gì thành công thức, người ta dùng cụm từ “công thức hóa”.


CỐNG HIẾN


“Cống hiến”! Có thể vừa dùng làm động từ vừa làm danh từ.


Là động từ, “cống hiến” có nghĩa là đóng góp vào một sự nghiệp, một việc ích lợi chung. Thí dụ: Tôi xin cống hiến các nhà bác học hai con mắt của tôi khi tôi chết để các vị nghiên cứu xem tại sao mắt tôi lại không có lòng trắng, chỉ toàn lòng đen.


Dùng làm danh từ, “cống hiến” có nghĩa là phần đóng góp về tinh thần hay vật chất của một người vào sự nghiệp chung của xã hội hay nhân loại. Thí dụ: Bài “Bình Ngô Đại Cáo” là một cống hiến lớn và tốt cho văn chương yêu nước của ta.


TƯƠNG QUAN VÀ LIÊN HỆ


“Liên hệ” là dính líu với nhau. Thí dụ: Giữa nội dung và hình thức trong một bài thơ có liên hệ mật thiết với nhau. Nói rộng nghĩa ra, người ta dùng chữ “liên hệ” khi nhân một vấn đề đã được hiểu biết, nhắc đến những vấn đề có liên quan đến việc ấy.


“Tương quan” cũng là dính líu với nhau, liên quan với nhau, nhưng người ta dùng chữ tương quan khi nào có ý muốn so sánh. Thí dụ: Quyền lợi tương quan giữa người này và người kia. Hay: Việc xem xét các hiện tượng thiên nhiên đặt mối tương quan giữa ảnh hưởng của thời tiết đối với đất đai, cây cối để rút ra những nhận xét có ích có sự trồng trọt là một vấn đề không thể thiếu được trong nông nghiệp.


Về quân sự, “tương quan lực lượng” là lực lượng so sánh hơn kém giữa hai bên. Thí dụ: Xét về tương quan lực lượng thì quân số của ta đông hơn địch, nhưng võ khí của ta thì ít hơn của họ.


ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, CẢI TẠO TƯ TƯỞNG


“Tư tưởng” là sự suy nghĩ. Thí dụ: “Người ta là một cây sậy có tư tưởng”, “Giá trị của ta là ở tư tưởng”. Tư tưởng có khi có nghĩa là chủ ý, kế hoạch hay ý tứ, ý hướng. Thí dụ: Đọc một cuốn sách và hiểu rõ tư tưởng của tác giả.


Ý tứ đó, ý hướng đó là nội dung của ý thức do tư duy tạo nên. Vì thế ta nói: Tư tưởng của giai cấp công nhân.


“Cải tạo tư tưởng” là cuộc vận động để làm cho tư tưởng tốt đẹp hơn, khoáng khoát hơn. Ngày nay ta hiểu thì cải tạo tư tưởng có nghĩa là cuộc vận động đánh đổ tư tưởng phi vô sản, nhắm hình thành và củng cố tư tưởng vô sản.


“Đấu tranh tư tưởng”, cũng giống như đấu tranh chính trị, là cuộc đấu tranh nhằm mục đích làm cho tư tưởng vô sản thắng lợi trong một cá nhân, một đoàn thể hay một xã hội. Về phía dân chủ, đấu tranh tư tưởng nhằm làm cho tư tưởng dân chủ thắng lợi.


“Hệ tư tưởng” là hệ thống ý thức của một người hay một giai cấp do lợi ích giai cấp tạo nên.


Còn “tính tư tưởng” là sự phản ánh bản chất và ý nghĩa triết học của sự vật trong một công trình khoa học hay nghệ thuật, khiến công trình đó có tác dụng giáo dục, giá trị thẩm mỹ.


BÍCH KÍCH PHÁO VÀ BỨC CÁCH PHÁO TỪ NÀO ĐÚNG?


Không phải “bích kích pháo” mà cũng không phải “bức cách pháo” mặc dù nói cách nào, mọi người cũng đều biết đó là khẩu “moọc chê”.


Có người nói “bích kích pháo”, vì đó là khẩu súng bắn xuyên tường, và cũng có người nói là “bức cách pháo” (nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp) vì nó bắn lỗi cầu vồng, cách bức. Gọi như thế đều không đúng.


Tên chính của nó là “bách kích pháo”. “Bách kích” không phải là đánh trăm trận, hay bắn trăm phát. Bách kích là đánh ép.


Nguyên “moọc chê” là một loại súng cối không nặng lắm, hai người có thể mang chạy được, bắn không xa lắm (bốn, năm cây số trở lại) nhưng bắn được theo lối vòng cung, mà sức tàn phá khá mạnh. Di chuyển được bách kích pháo đến gần địa điểm chiến đấu, nó thành một uy hiếp, một áp lực (sức ép) khá lớn cho đối phương.


Bách kích pháo là loại súng đại bác tầm thường trong trận địa chiến, nhưng đối với du kích chiến, nó có giá trị rất lớn, không kém giá trị của các khẩu súng tối tân bắn không giật.


SAI ÁP VÀ CAO ÁP


Nhân vừa nói đến “áp lực”, chúng tôi ghi nhận có hai chữ “cao áp” và “sai áp” nhiều người dùng không đúng lắm.


Chữ “sai áp” thường dùng trong các hoạt động kinh tế. “Sai áp” là sự dẫn giải những hàng hóa trái phép, hoặc do buôn lậu, hoặc do trái với quy định thông thường của chính phủ. Hàng hóa sai áp được mang tới các cơ quan pháp lý để định đoạt.


Về luật pháp, Tòa án cũng dùng từ “sai áp” để chỉ sự cấm đoán người mắc nợ không còn quyền sử dụng hay phân tán tài sản của mình trước khi thanh toán nợ (vì chủ nợ đã trình Tòa án).


Còn “cao áp” không có nghĩa tương tự với sai áp mà cũng không có nghĩa là tịch thu như một số người vẫn hiểu.


Chữ “áp” trong trường hợp này là áp bức, chớ không phải là áp giải. “Cao áp” là một hình thức khủng bố của người thống trị dùng để đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân.


Chính sách đàn áp tàn khốc ấy gọi là “cao áp chính sách”.


LƯU MANH, DU ĐÃNG, DU THỦ DU THỰC
KHÁC NHAU THẾ NÀO?


Đối với những người chơi bời lêu lổng, tư cách xấu xa, ta thường gán cho cái tên “lưu manh”, “du đãng”, “du thủ du thực”. Trong những từ ấy có gì khác nhau không?


“Lưu manh” là một từ mới. “Lưu” là lang thang, trôi nổi (như lưu thủy), “manh” là liều lĩnh, ẩu tả. “Lưu manh” lúc đầu chỉ để gọi những kẻ bỏ nghề nghiệp sinh sống chính đáng để đi lang thang dông dài và làm điều xằng bậy.


Sau này, danh từ lưu manh dùng để chỉ chung tất cả những hạng người mất dạy, lừa đảo, “cầu bơ cầu bất”, không cần biết họ có tham gia sinh sản hay không. Có thể họ vô nghề nghiệp, đi làm nghề ăn cắp, đĩ bợm; có thể họ có nghề nghiệp nhưng là một thứ nghề nghiệp lấy lừa đảo làm chính.


Theo một số người hiểu tất cả những người hành nghề như ăn cắp, gái điếm, cờ bạc, phù thủy, thầy cúng, bói mù (không căn cứ vào một định lý khoa học nào) đều là những người lưu manh.


Những người đó phần đông lại là những người nghèo khổ, vì sinh kế quá khó khăn nên bắt buộc phải làm điều xấu. Vì thế mà gọi họ là hạng “lưu manh” hay “nhị lưu tử”.


Những người vì túng thiếu mà phải đi ăn mày, ăn xin không thuộc vào hạng “nhị lưu tử”, song nếu họ vừa ăn xin vừa dùng lời lẽ dối trá hay có những hành động lừa đảo thì họ là “nhị lưu tử”.


“Du đãng”, nghĩa đen là chơi bời phóng túng. Ngày nay, từ “du đãng” cũng được dùng để chỉ nhiều hạng người lắm. Thanh niên điếm đàng, đi đầu đường góc phố, anh chị “kẹ” ở bến xe, máy nước, hạng người vô nghề nghiệp lang thang chỗ này chỗ khác và sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà người có tiền sai làm - kể cả đánh lộn, đều được kể là “du đãng”.


Vì chữ “du đãng” có nghĩa rộng rãi như thế và bao gồm nhiều loại người như thế, cho nên những chính phủ độc đoán thường dùng mấy chữ “ruồng bắt du đãng”, “bài trừ du đãng” để bắt những phần tử chống đối, vì các phần tử này bị các người đó gọi là “chính trị du đãng”.


Còn “du thủ du thực”? Nếu dịch ra chữ Pháp, phải dịch “du thủ du thực” là vagabond mà người mình thường kêu là “ma cà rồng” hay “ma cà chớp”. Ma cà bông hay ma cà chớp là hai cụm từ đã “Việt hóa” để cho thích hợp với con mắt láo liên và bàn tay “chớp lẹ” khi bao tử buộc phải có những hành động đó.


Nghĩa đen của “du thủ du thực” là những người chơi cũng phóng túng mà ăn cũng phóng túng. Những người du thủ du thực là những người không muốn làm việc gì cả, thích la cà đầu đường xó chợ và hễ thấy chỗ nào có ăn là “sà” vào để “boóng”.


Người du thủ du thực khác với người “tha phương cầu thực”. Tha phương cầu thực là những người lương thiện vì sinh kế mà phải dời bỏ quê hương để ra đi kiếm miếng ăn.


BẠCH CUỐNG, HẮC CUỐNG


Có một số người vẫn còn dùng chữ “bạch cuống”, “hắc cuống” nhưng lại không hiểu nên có khi dùng sai.


Người nghe cũng chẳng hiểu là gì và hỏi cuống đây là cuống rau có phải không?


Không, “cuống” đấy nhất định không phải là “cuống rau” đàn bà đẻ, hay “cà cuống”, hoặc “cuống đít lên”. “Cuống” có nghĩa là nói láo, nói dối.


“Bạch cuống” là điều nói dối không hệ trọng gì, không làm hại tới ai. Thí dụ: Ông thầy thuốc chữa cho một người bệnh, biết là không qua khỏi được, nhưng nói dối là bệnh nhẹ để cho bệnh nhân khỏi sợ, khỏi buồn: Như thế là “bạch cuống”.


Trái lại bạch cuống là “hắc cuống”, chỉ những điều dối trá, nham hiểm, hại người.


KHẮC PHỤC, CHẾ NGỰ, KHỐNG CHẾ, THUẦN HÓA


Mấy từ này có ý nghĩa gần giống nhau nên có nhiều người dùng không mấy đắt.


“Khắc phục” từ thường dùng nhiều, có nghĩa là thắng những khó khăn, vượt những khó khăn để đạt tới mục đích ấn định. Thí dụ: Khắc phục các khó khăn.


Khắc phục khuyết điểm là sửa chữa các khuyết điểm để tiến tới một kết quả tốt đẹp hơn.


“Chế ngự” cũng có nghĩa là cố gắng, nhưng trong cố gắng này có hàm ý bắt phục tòng. Chế ngự cùng nghĩa với chinh phục. Thí dụ: Chế ngự thiên nhiên.


Khi nói chế ngự tâm tính mình, đè nén dục vọng của mình, dùng từ “khắc chế” đắt hơn. Nhưng khi nói một người chủ xiếc khắc phục một con sư tử, bắt nó phục tòng để làm trò theo ý muốn của mình thì nên dùng từ “thuần hóa”. Thí dụ: Người ấy đã thuần hóa một con sư tử.


“Khống chế” cũng có nghĩa là bắt khuất phục, bắt phải phục nhưng trong chữ “khống chế” có ý nghĩa kiểm soát và chi phối bằng sức mạnh hay quyền lớn. Thí dụ: Máy bay Mỹ khống chế không phận của I-Rắc.


TÁC GIẢ VÀ TÁC GIA


Hai danh từ này cùng nói về những người trước tác nhưng cách dùng khác nhau.


“Tác giả” là người biên soạn, sáng tác ra một công trình nghệ thuật nhất định. Thí dụ: Tác giả truyện Lục Vân Tiên là Đồ Chiểu, tác giả truyện Kiều là Nguyễn Du.


“Tác gia” là những người cũng trước tác những tác phẩm khoa học, nghệ thuật nhưng nói với một tính cách chung. Thí dụ: Người ta có thể giải thích sự thành công trong việc học tập ngôn ngữ, văn học Trung Quốc bằng nhiều cách, nhưng không thể phủ nhận vai trò tiếng Việt và cố nhiên tài năng sử dụng tiếng Việt của các tác gia.


Hay: Lược truyện các tác gia Việt Nam.


VỊ TRÍ


“Vị trí”, cũng như phương thế, là chỗ ngồi, chỗ đứng (position). Thí dụ: Vị trí của một chiếc tàu. Hay: Đứng vào hàng ngũ của mình, không nên dời vị trí.


“Vị trí” còn có nghĩa là tình thế, trạng huống, cảnh ngộ, địa vị, chức nghiệp. Thí dụ: Vị trí của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, có nhiều chỗ không nên dùng vị trí mà nên dùng những danh từ thích ứng cùng ý nghĩa. Đại khái: il a une position difficile mà dịch là “ông ta có một vị trí khó khăn” thì ngô nghê, mà phải dịch là “ông ta gặp một tình thế, cảnh ngộ khó khăn”.


Un homme de position mà dịch là “một người có vị trí” thì cũng ngô nghê không kém, mà phải dịch là: Một người có địa vị.


Trong câu “la position de ce malade est alarmante”, chữ position không thể dịch là “vị trí” mà phải dịch là “tình thế”: Tình thế của bệnh nhân nguy kịch lắm.


Vị trí còn có nghĩa là chỗ một đội quân đóng. Thí dụ: Cả đêm qua quân ta tấn công vị trí địch. Nhưng nói về vị trí của một thành phố (position d’une ville) người ta thường dùng từ “phương thế”: Phương thế của một thành thị.


Nói về một luận án như position d’une thèse chẳng hạn, position là “yếu chỉ”: Yếu chỉ của một luận án.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
xem thêm »