tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21063962
Tiểu thuyết
28.08.2017
Đặng Hạnh Phúc
Một thời để yêu và sống



   Đây là câu chuyện viết về một quãng thời gian của một thanh niên sống giữa Sài Gòn tên là Đoàn Phương. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, mọi người chưa kịp tận hưởng trọn vẹn niềm hân hoan về một nền hòa bình mà nhân dân cả nước mong đợi trên hai mươi năm! Và chỉ mới hai năm sau ngày vui ấy, Đoàn Phương và hằng ngàn thanh niên, sinh viên... của Sài Gòn và cả nước đã gác lại những mơ ước cho tương lai, tạm cất tình yêu thương nho nhỏ dưới mái trường, trong công ty, với những cô bạn láng giềng... họ cất hết vào trong ba lô!... Họ đã đi theo một tình yêu lớn hơn, cao cả hơn, họ đi làm nhiệm vụ quốc tế vô sản cao cả - Đội tình nguyện quân Việt Nam trên chiến trường Kampuchia từ năm 1978 - 1989! Họ đi đánh đuổi bọn người có mang trong đầu dòng máu lạnh!


    Sống là phải có tình yêu! Vì nó là nguồn động viên, là nguồn cảm hứng để con người  có nghị lực mà vượt qua muôn trùng khó khăn luôn bày sẵn trên đường họ đi tìm chân lý! Lớp chiến sĩ trước ngã, lớp sau cứ tiến lên vì quân thù đang có mưu đồ diệt chủng cả một dân tộc...họ đã đánh tan bọn cầm quyền Pôn Pốt  - Iêng Sary mang lại niềm hạnh phúc, một nguồn hy vọng sống cho một dân tộc mà lẽ ra phải được sống trong vòng tay che chở của đức Phật từ bi! Những người lính mang luôn cả tình yêu với một dân tộc bạn bè, họ bắt tay xây dựng một chính quyền non trẻ! Hai năm sau ngày Chiến Thắng 7/1/1979, đất nước Kampuchia lớn mạnh từng ngày...và địch cũng có nhiều kinh nghiệm hơn trong việc tung người về trà trộn trong dân để phá hoại...Đoàn Phương và những người bạn sinh ra từ các vùng miền trên đất nước phải vất vả cố gắng vượt qua rất nhiều khó khăn gian khổ...có lúc quân số không còn đủ như biên chế! Một đại đội chỉ có 14/ 150 chiến sĩ cộng thêm một cán bộ đại đội nữa là được 15 người chia ra 5 tổ quán xuyến cả một tuyến đường huyết mạch gần 10 cây số!...Những người bạn của Đoàn Phương từng người một đi làm chuyên gia mỗi xã! Họ phải cuốc bộ trên một địa bàn rộng lớn trên 40 cây cố vuông để đi xây dựng chính quyền! Tuyên truyền chính sách đường lối cho dân hiểu những cái khác nhau về chủ nghĩa xã hội giữa Việt Nam và Kampuchia dưới thời Pôn Pốt, và hiện nay là như thế nào...nguy hiểm trình rập họ đêm ngày, họ phải thay đổi chỗ ngủ liên tục như đi du lịch bụi!...


     Và có nhiều người đã không trở về! Họ bị kẻ địch phục kích, bắt cóc, tra tấn dã man...cho tới khi đồng đội tìm ra thì họ chỉ còn là những cái xác không có hình hài...Đau thương, mất mát hy sinh là vậy nhưng họ vẫn vô tư hồn nhiên ca hát, diễn tuồng cải lương "Lan và Điệp, Nửa đời hương phấn, Lá sâu riêng, Đời Cô Lựu...Họ cười vui giải thích cho dân đến xem và khi dân hiểu ra cùng cười vui khóc thương giống như họ! Tình cảm dân quân đã làm cho họ vơi đi nỗi nhớ nhà, giờ đây họ cũng có ông bà ba má nuôi và cũng chính những người này đã khóc và thắp những nén nhang hằng đêm khi có những đứa con nuôi này ngã xuống! Họ thay mặt gia đình của những tình nguyện quân đã hy sinh, họ kính cẩn rước những vong linh của các chiến sĩ vô danh vào chùa để nghe kinh mỗi đêm, để những vong linh côi cút này không phải thành hồn ma bóng quế! Tình cảm quân dân thắm thiết đã giúp cho họ - Những chiến sĩ hoàn thành nhiệm vụ xây dựng chính quyền...Nhưng niềm vui chưa được bao lâu thì bọn địch ngầm đã giả nhân giả nghĩa trà trộn vào lôi kéo chính quyền theo địch!...Lại làm "công dã tràng xe cát biển Đông" họ tiếp tục chiến đấu và có thêm nhiều chiến sĩ ngã xuống!...Lồng trong những giai đoạn chiến đấu là những khoảng lặng trong lòng của nhân vật chính Đoàn Phương, vì mãi mê lao vào cuộc chiến nên không còn thời gian cho mối tình riêng với một cô gái bên Việt Nam. Người yêu anh là Mai đã lên xe hoa…Nhưng tình yêu của họ còn nồng thắm quá, nó là động lực để hai tâm hồn đến với nhau. Và khi nàng tìm đến chiến trường thăm anh thì cũng là lúc anh vừa ngã xuống bất tỉnh hôn mê vì một miểng đạn ghim vào đầu trong một trận tập kích của địch… 


     Dù biết rằng bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng có cái mẫu số chung là mất mát hy sinh! Nhưng sự hy sinh này thầm lặng quá! Nó như một cơn gió thoảng qua làm rung một vài cành cây, nhưng lại làm lá rụng tơi tả, rồi chính ngọn gió đó cũng kịp thời cuốn những xác lá kia đi mất không ai còn thấy gì nữa sau một cơn gió lệch mùa!...."Chuyện "MỘT THỜI ĐỂ YÊU VÀ SỐNG" giống một lát cắt của cuộc đời có bề dày hơn mười năm, nhưng nó đã nói lên được trong những gam màu trầm lặng kia luôn ẩn dấu một tình yêu thương đồng loại vô bờ bến! - Đoàn quân tình nguyện Việt Nam vô tư nhất của thời đại!


CHƯƠNG MỘT


GẶP LẠI NGƯỜI YÊU


“Nhất cự ly nhì tốc độ”! Nhưng cả hai điều đó anh đều không có. Phía trước anh là hy sinh chết chóc… Ôi chiến tranh. Làm sao anh về được với em?


1


                                                       RỜI KHỎI CHIẾN TRƯỜNG


       Chiếc xe jeep bỗng dừng lại. Một đám bụi bám theo xe nãy giờ bốc trùm lên nóc xe những vệt màu trắng đỏ lẫn lộn.


Đoàn Phương từ băng ghế sau nhảy xuống, tay xách chíếc ba lô xẹp lép dính đầy bụi đỏ của vùng Xa-mát, biên giới Kompong Cham - Tây Ninh. Anh lấy cái nón lưỡi trai trên đầu xuống, phủi phủi lớp bụi còn dính trên vai áo và hai ống quần bộ đội đã bạc màu trắng trắng... Anh nheo mắt nhìn dòng nước trong xanh đang lững lờ trôi trên sông Vàm Cỏ Đông dưới ánh chiều tà.


- Tranh thủ xuống tắm cho sạch bụi rồi vô thành phố - Trung tá Huỳnh Lâm vừa cởi đồ xong quay qua nói tiếp - Tài xế Quỳnh tắm sau đi, cảnh giác cho mọi người.


- Chú làm như còn ở bên Kampuchia không bằng – Quỳnh vừa đáp vừa nhảy khỏi xe, tiện tay xách luôn khẩu carbine M2 của Huỳnh Lâm - Được rồi mọi người cứ tắm thoải mái. Tôi tranh thủ kiếm chất tươi, tối nay về trạm chắc không có gì ăn.


Quỳnh ngửa mặt nhìn lên trời.


- Tao với thằng Phương tắm bên này đó, coi chừng mê mấy con vịt trời bắn lộn hướng đó nghe mậy - Huỳnh Lâm nói xong nhảy ùm xuống sông.


     Đoàn Phương định cởi áo bỗng dưng rùng mình. Gió dưới sông thổi lên mát lạnh khiến anh co người lại. Anh leo lên xe ngồi. Quỳnh thấy lạ quay lại.


- Sao anh không tắm? Không tắm thì cảnh giác giùm đi hé - Quỳnh vừa nói vừa đưa khẩu súng cho Phương - Hay anh đi bắn mấy con vịt trên ruộng bên kia đi.


Không đợi Phương trả lời, Quỳnh cởi nhanh áo quần, vừa chạy ra mép sông vừa nói với lại.


- Mà thôi, nhìn mặt anh bịnh quá, để đó chút nữa tôi làm - Hắn nhảy ùm xuống nước lặn mất tiêu.


      Đoàn Phương cầm khẩu súng, kiểm tra lại đạn. Anh bước ra khỏi xe, đi chậm rãi trên bờ ruộng lúa vừa mới cắt xong. Ánh trời chiều phía bên kia sông Vàm Cỏ Đông hắt ánh sáng nhiều màu vàng hồng đỏ lên đồng ruộng sáng như buổi bình minh. Những con vịt trời bay liệng lên xuống gọi nhau mót lúa vang động cánh đồng thanh vắng. Đoàn Phương quỳ xuống tỳ chắc tay trên đầu gối. Cách anh chừng 50 mét, hai con vịt trời con trước con sau vừa tìm được chỗ nhiều lúa rơi vãi cứ rỉa liên tục. Mục tiêu đã vào khe thước ngắm. Trong đầu anh bỗng hiện lên hình dáng tên Pônpốt đang giương khẩu B40 về phía anh giống như trong phim cao bồi, ai bắn chậm là chết!


Pằng! Ùng ình... Hai tiếng nổ cùng vang lên!.


- Trúng hai con luôn!


Tiếng Quỳnh vang lên ngay sau lưng Đoàn Phương khiến anh giật mình trở về hiện tại.


- Sao biết tôi bắn con đằng trước? - Anh quay lại hỏi Quỳnh.


- Dễ ợt! Anh quỳ xuống thế thì bắn con gần chứ không lẽ bắn con phía sau đang vướng tầm bắn - Quỳnh vừa cười vừa nhìn Đoàn Phương tỏ vẻ thông cảm cho câu hỏi vừa rồi.


- Làm một lượt cho lẹ. Anh ra xe đi, để tôi đi lượm cho - Quỳnh đưa khẩu AK 50 cho Đoàn Phương rồi chạy băng xuống đồng.


- Sao mầy lừ đừ quá vậy? - Trung tá Huỳnh Lâm quấn khăn càma ngang ngực, vừa giũ bụi cái quần dài vừa nói vang vang - Thôi về trạm xá của binh trạm K84 khám bệnh luôn. Kỳ này cho mầy nghỉ một tuần, thưởng công đã diệt được hai thằng Pônpốt ở Kompong kleng tuần rồi. À mà nè, nghe nói má ở nhà đang muốn tìm vợ cho mày phải không? Mày hứa đi ba năm về cưới vợ, giờ lố hai năm rồi, kỳ này về cưới luôn cho ba má yên tâm đi.


- Dạ! Nhưng con còn trong quân đội làm sao cưới vợ được? - Đoàn Phương cầm cái áo của Trung tá giũ cho bớt bụi rồi đưa lại cho ông.


- Cưới xong rồi đi, hết giặc rồi về, hơi sức đâu mà lo. Tao hai đứa con rồi đó,  vô tư đi. Xong chưa Quỳnh? Đi nào. - Ông nói một thôi một hồi chẳng quan tâm tới nét mặt trầm tư của Đoàn Phương - Trời, hai con này chắc hơn hai kí đó. Chút ghé chợ Củ Chi kiếm mấy lít Gò đen nha. Còn thằng Phương, vui lên mầy. Về phép mà ưu tư cứ như ra trận vậy. Vui lên. Kỳ này về phải kiếm được vợ đó nghe.


- Ai kiếm vợ? Chú kiếm bà nữa hả? - Quỳnh ngơ ngác nhìn mặt Trung tá.


- Tao năm mươi mấy rồi còn kiếm gì nữa mậy? Thiếu úy Đoàn Phương,  xê phó xê trinh sát của ta đây nè. Thôi nổ máy đi.


- Tưởng chú chớ - Quỳnh giả lả -  Ảnh có người yêu rồi mà, kỳ này về cưới là xong, mắc gì phải đi kiếm? Hay là chia tay rồi hả?


Quỳnh ngoặt mạnh mũi xe jeep vọt lên con đường rẽ vào khi nãy, chạy ngược lại để ra Quốc lộ 22 về Thành phố Hồ Chí Minh. 


- Bởi vậy, người ta nói... xa mặt cách lòng mà. Sao hả anh Phương?


- Ba năm nay tôi có nhận được bức nào đâu – Tiếng Đoàn Phương uể oải - Thôi lo mà lái xe đi. Tuần sau gặp anh sẽ biết liền mà.  


2. MỪNG CON TRỞ VỀ


                                                                                       


-Trời ơi, thằng Phương phải không?


Bà Chín bán kim chỉ bên lề đường vừa la vừa chạy nhanh ra chỗ chiếc xe lam chạy tuyến Sài gòn – Tân Qui – Nhà bè vừa dừng lại, có anh bộ đội đứng ngó dáo dác.


- Phương à, má đây nè.


- Má! Sao má ở đây?


Phương đỡ tay mẹ. Bà giơ tay vỗ vỗ vào lưng con.


- Mồ tổ mày, sao giờ mới về? Thôi vô mát ngồi, để má kêu nước dừa uống cho khoẻ - Bà tất tả chạy đi bỏ mặc Đoàn Phương đứng lớ ngớ trước cái mẹt đựng đủ thứ kim chỉ, lẹm, móc tai...


- Cần câu cơm đó con.


- Sao má ở đây? – Đoàn Phương vẫn chưa hết ngạc nhiên,


- Gặp má không hỏi thăm sức khoẻ mà cứ hỏi câu đó hoài. Uống nước đi con, từ từ má kể. Ngồi đây chơi với má, chớ trong nhà có ai đâu.


   Có khách vào mua đồ. Đoàn Phương nhìn má mà cứ ngỡ như một người xa lạ nào đó. Năm 1976, má anh là thợ may của một hợp tác xã may mặc. Má trắng lắm chớ có đen đúa như vầy đâu. Chỉ có dáng đi là vẫn vậy, nhanh nhẹn đến mức hấp tấp. Má hay nói "làm cái gì cũng phải cho lẹ, nếu không giặc nó tới có mà chết đói!". Không lẽ cái “cần câu cơm” này là má áp dụng cho câu nói đó?


- Ba khoẻ không má? Sao không có ai phụ bán với má hết vậy?


- Ờ con trai lớn của tui đó - Bà Chín vừa bán vừa giới thiệu với khách - Ba năm nay không có tin tức gì của nó, tui tưởng nó bỏ mạng bên Miên rồi chớ. Tui đi hết quân y viện này tới quân y viện  khác mà có tìm thấy nó đâu. Người ta đồn nó chết rồi, tui khóc hết nước mắt luôn... Cái thằng yếu đuối như con gái vậy, mà hô đi bộ đội là đi cái rụp, không hỏi ba má một tiếng. Tới chừng bạn nó tổ chức liên hoan tiễn nó lên đường tui mới biết đó. Rồi nó đi luôn từ đó tới nay. Nó y chang ba nó, muốn làm gì thì làm... Ba con về Long Xuyên rồi. Ổng bệnh rề rề vậy mà cũng ráng đi. Chị mua thêm gì nữa hông, tôi gói lại nha? …Mấy em con nó đi làm hết rồi, chút trưa con Út nó mới ra coi chừng hàng cho má ăn cơm rồi nghỉ trưa một chút.


- Ba về Long Xuyên chi vậy má?


- Hồi hương lập nghiệp! Nghe lời ba cái ông nội ở trển bảo không đi kinh tế mới thì phải hồi hương lập nghiệp... Ơ mua gì đó con, lẹm may bao bố hả, mấy cây, lấy loại đặc biệt cho chắc nha, mắc một chút mà bền lắm. Bộ ghe chài mới cặp bến Tân Quy hả... Cám ơn con nghe…. Ổng kêu cả gia đình đi hết, tao đâu có chịu. Đói khát gì cũng phải ở Sài Gòn...


- Mai có ghé thăm má không? - Đoàn Phương chen ngang vì má cứ nói không ngừng.


- Bồ của con đó hả? Có, năm ngoái nó qua từ biệt đi kinh tế mới rồi. 


- Cái gì? - Đoàn Phương ngả người ra ghế bố vì má lại có khách mua đồ.


Đúng rồi, ba của Mai là sĩ quan cảnh sát nguỵ mà. Anh lim dim đôi mắt. Tối qua khám bệnh xong về trạm, nhìn dĩa thịt vịt trời áp chảo sực mùi thơm phức mà không ăn được, vì ăn thì phải uống rượu cùng mọi người. Thôi đành cáo bệnh đi ngủ sớm. Đoàn Phương cứ trở mình, đầu óc luôn nhớ về Mai. Cô thành người yêu của anh bắt đầu từ một câu cá độ của các bạn trong ban biên tập của Sở Văn hoá - Thông tin: Ai làm cho cô gái này cười được, cả ban sẽ bao cà phê suốt tuần.


Đoàn Phương “tình cờ” gặp Mai chạy chiếc xe đạp đòn dong từ ngoài vào rất nhanh vì trể giờ. Thắng xe không ăn nên lao vào người Đoàn Phương, anh chụp ghi-đông cho xe khỏi ngã. "Chào cua-rơ!". Cô gái cười cười bẽn lẽn đáp “Em xin lỗi". Cả nhóm bạn vỗ tay chúc mừng anh rồi kéo nhau đi, bỏ mặc cô gái đứng ngơ ngác nhìn theo.


- Má nó buôn thuốc lá lậu từ Nha Trang vào ra như ăn cơm bữa, riết phường nó ghét. Họ đâu có cho ở đây được. Với lại mấy thằng anh của nó nghiện á phiện. Bộ con còn thương nó hả? Má cấm nghe. Nó có dễ thương nhưng mà gia đình nó như vậy thì làm sao? Phức tạp lắm. Kỳ này con về má sẽ giới thiệu chỗ này tốt lắm. Ơ chào chị, hổm rày đi đâu mất biệt hà. Mua kim hả, số 8 đi, mình già rồi xài kim này mới thấy đường xỏ chỉ.


    Đoàn Phương ngao ngán cầm ly nước dừa lên, lấy muỗng vớt từng miếng cơm dừa đưa lên miệng. "Anh ăn miếng cơm dừa tươi cho mát cổ". Lời nói của người yêu cách đây ba năm lại hiện về. Hôm ấy Đoàn Phương về nộp báo cáo ở Bộ Tư lệnh Quân khu 7, trước khi qua hẳn bên đất bạn, anh có ghé tạm biệt Mai. Mới ba năm thôi mà xáo trộn tùm lum, bây giờ biết tìm em nơi nào đây?


                                                                     3


                                                                 TÌM EM


 


-Gần cuối dốc cầu Tân Thuận, phía bên huyện Nhà bè, giờ là quận 7, qua khỏi ngôi chùa lớn rẽ phải. Anh cứ hỏi nhà chị Năm bán can-tin là ai cũng biết - Anh tài xế lái xe cho phòng Quản trị - hành chánh vừa nói vừa tiễn Đoàn Phương ra cổng - Chắc chị Năm biết rõ hơn, chớ anh em ở đây tứ tán hết rồi. Thôi đi đi. Chúc anh gặp được cổ nghe!


Đoàn Phương đứng trước ngôi nhà gạch mái lợp tôle, cửa cái sơn màu xanh lá cây, có hàng rào bằng cây bông bụt như lời anh tài xế chỉ dẫn. Một con chó từ hàng ba nhảy sầm vào cửa cổng sủa vang.


- Chú tìm ai? Ủa cậu Phương về hồi nào? Kiki đi vô! Quen mà. Vô nhà chơi.  


Người đàn bà mảnh khảnh, chừng năm chục tuổi, nhanh nhẹn nắm cổ con chó lôi ra sau nhà. Đoàn Phương kéo cái ghế đẩu bằng gỗ ngồi dựa vào tường bên cửa sổ. Anh nhìn ngược ra ngoài đường. Dòng xe chở xăng dầu từ kho Nhà Bè lên xuống cầu thật nhộn nhịp.


- Uống trà nóng hay nước đá lạnh? Chắc bộ đội thích uống trà, tôi cũng vừa mới pha đó. Sao, khoẻ hông? Về luôn hay đi nữa? Hay tin rồi phải hông? Tội nghiệp nó lấy chồng mà không ưng bụng chút nào. Nè cậu uống đi, trà lài B’lao thơm lắm.


- Lấy chồng? - Đoàn Phương như chết điếng, há miệng, ngơ ngác như kẻ mất hồn - Chớ không phải đi kinh tế mới sao?


- Tôi tưởng cậu biết rồi? Thiệt tình, con nhỏ khóc muốn bụp con mắt luôn. Má nó mắc nợ người ta nhiều tiền lắm. Nghe nói bị bắt một vố rất nặng. Bả gom tiền của nhiều người định đi một chuyến cuối, ai dè mất hết vốn liếng, phải vay tiền trả cho bạn hàng. Đuối quá bả gả con nhỏ trừ nợ...


- Sao có vụ đi kinh tế mới? - Đoàn Phương có vẻ bình tĩnh trở lại, anh cầm tách trà đưa lên môi - Vụ đó trước hay sau khi cưới?


-Sau cái đợt xét lý lịch rùm beng đó, nó bị cho thôi việc. Dì Năm cũng chung xuồng luôn. Gia đình nó bị hăm he nhiều lần rồi. Sau chuyến đi buôn lớn đó bị đổ bể, má nó bắt mối hay thiệt! Bả gả được con gái và nhờ bên nhà chồng Mai mà giữ lại được chỗ ở cũ. Bây giờ bả với mấy đứa em gái Mai làm cho hợp tác xã Mây tre ở bên quận Ba đó. Cậu chưa có ghé qua bển sao?


- Nghe nói đi hết rồi, sẵn ghé thăm mấy chú trong Ban Giám đốc sở, thấy anh tài xế lúc trước chở hàng nhu yếu phẩm cho can-tin nên hỏi thăm gặp dì Năm nè. Mai giờ sống sao, chắc khó gặp hả dì?


- Trời ơi, gặp được cậu chắc nó mừng lắm. Tội nghiệp, nó qua khóc với dì hoài. Nó thương cậu dữ lắm cậu có biết không? Thôi vầy đi, sáng mai tôi ra chợ Bến Thành, nhà chồng nó ở gần đó, tôi báo tin cho nó mừng. Chiều mai cậu tới đây nha…


- Dì ráng giúp giùm con nha.


Đoàn Phương đứng dậy, dì Năm tiễn ra tới tận chân cầu Tân Thuận.


- Cậu có hay đi chùa hông? Có đi sông đi biển nhớ khấn Quan Thế Âm Bồ Tát nghe. Nè, lên đó khấn Bà một tiếng đi. Còn bận đồ lính thì phải biết khấn trời khấn Phật phù hộ cho tai qua nạn khỏi nha cậu. Đi đi!


Đoàn Phương qua chùa Thiên Hậu, có tuợng Quan Âm Bồ Tát cao to ở sân trước. Anh chắp tay khấn “xin Bồ Tát phù hộ cho con gặp lại Mai”. Gặp để vơi đi nỗi nhớ thương. Gặp để thông cảm và hiểu cho nhau vì duyên không trọn. Để rồi sau này nếu có gặp lại vẫn giữ mãi nụ cười của buổi ban đầu xa xưa ấy.


                                                               4


                                                GẶP LẠI NGƯỜI XƯA


                                                                   


- Ủa, sao hôm nay má không đi bán? - Đoàn Phương tay cầm cái khăn từ trong nhà tắm bước ra, vừa lau tóc vừa nói khi thấy bà Chín cầm mấy cây nhang từ nhà trên đi xuống bếp. 


- Hôm nay mùng một tháng Bảy rồi, má lên chùa làm công quả, nghỉ bán một buổi. Trưa nay con có rảnh thì ghé chùa Bửu Quang ăn cơm chay nha.


Bà Chín mặc bộ áo dài vạt hò màu đen, bưng chung nước mát để lên bàn thờ ông Táo rồi đứng khấn lâm râm, xong cắm một cây nhang vào lư hương. Bà ra trước bàn thờ Cửu huyền thất tổ, quỳ xuống lại ba lạy, xong mở tủ thờ lôi một cái bao vải tám trắng. Bà mở dây miệng bao lấy ra nhiều cái túi nhỏ màu đen khoảng một tấc vuông, có thêu tên từng người trong gia đinh trên miệng túi.


Bà Chín theo đạo “Tứ ân hiếu nghĩa” của phái “Bửu sơn kỳ hương”, do Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên và Ngô Lợi dẫn dắt, thuộc phong trào Cần Vương thời vua Hàm Nghi. Thánh địa ở Núi Cấm, Núi Tượng thuộc vùng Thất Sơn, Châu Đốc . Đệ tử của ngài đa số tu tại gia, được ngài truyền dạy giáo lý học Phật và tu nhân, tức là noi theo lời Phật dạy mà tu sửa con người, tích cực thực hành thuyết Tứ ân. Đó là : Ân tổ tiên cha mẹ, Ân đất nước, Ân Tam Bảo và Ân đồng bào nhân loại.


- Má có lấy sẵn "Lòng phái" đây nè, để khi nào con đi nhớ mang theo, nhờ đó mà tai qua nạn khỏi đó con.


Bà Chín cầm một túi vải màu đen có may liền một dây dài để đeo đưa cho Đoàn Phưong. Đoàn Phương cầm lấy túi, mở ra thấy có một mảnh giấy màu vàng có ghi chữ “Bửu sơn kỳ hương” bằng màu son cùng với một xấp giấy viết chữ ngoằn ngoèo không hiểu chữ gì, anh lắc đầu đưa lại cho bà Chín.


- Má cất đi, bộ đội đeo bất tiện lắm. Tụi con không có một tờ giấy cá nhân lận lưng, đeo cái này vô đâu có được. Mà con nói má đừng có mê tín quá như vậy. Hồi năm 77 tụi Pônpốt nó tàn sát dân Bảy Núi chết hàng trăm người, dòng họ bên ngoại mình chết bảy tám chục người, xương cốt còn để trong tủ kiếng dưới Ba Chúc đó, má không nhớ sao? Vô chùa trốn mà nó cũng không tha. Không có đạo nào cứu nổi mạng người khi mà bọn cuồng tín đang khát máu đâu má ơi.


- Mầy nói cứ như giọng điệu mấy ổng hà! Không có tin tưởng Phật trời gì hết. Đó chính là cái đại nạn mà đệ tử phải gánh vì nghiệp chướng của dân tộc con biết không? Thôi trễ giờ rồi. Không biết mấy bà đi chợ về chưa. Chút nữa ghé chùa ăn chay nghe con. Má lên phụ nấu cho kịp. Ở nhà coi chừng cửa nẻo đó, có ngủ thì phải đóng cửa nghe, má đi đây - Bà bước thật nhanh ra cổng - Nè ra khoá cổng cho má đi.


- Dạ!


Đoàn Phương tay cầm chén cơm chiên trộn trứng để trên bàn salon, với tay lấy chìa khoá đi ra cổng. Anh bấm khoá rồi nhìn lên những chùm mận hồng đào đang chín đỏ. "Anh hái chùm bên trái kìa, khoan để em lấy cái khăn lớn đã. Rồi thảy xuống đi. Hái thêm đi anh...". Đoàn Phương nhớ hình ảnh cười vui của Mai đứng dước gốc cây mận hơn ba năm trước. Lúc đó nàng mới vừa 17 tuổi, anh hơn nàng 6 tuổi. Hai đứa quen nhau cũng chỉ là tình cờ chọc ghẹo cho vui nhưng trong lòng Mai như đã có ý chọn anh rồi. Sau lần anh nói "Chào cua-rơ", nàng cứ tủm tỉm cười mỗi khi gặp anh. Lần đầu tiên nàng qua nhà anh chơi cũng là nhờ cây mận ở sân nhà có nhiều trái chín mà anh vô tình quảng cáo.


- Anh Phương ơi!


Đoàn Phương đang nằm ngửa trên chạc ba nhánh cây mận bỗng giật mình khi nhận ra tiếng gọi của Mai. Anh ngỡ mình đang nằm mơ...


- Anh có ở nhà không? Anh Phương ơi!


- Mai! - Đoàn Phương nhảy xuống nghe một cái bịch - Ấy da...


- Ơ, anh hái mận hả? Trời ơi có sao không anh? - Mai vừa kêu vừa chạy qua chạy lại trước cổng...


- Hù! Anh còn nguyên nè. - Đoàn Phương mở tung hai cánh cửa cổng.


- Anh làm em hết hồn. - Mai nắm lấy tay anh, nhìn trân trân vào mắt anh như muốn xem chắc là anh chưa. Cô những muốn ôm anh nhưng vì còn đứng trước cổng nên cô ngập ngừng - Anh dắt xe giùm em đi.


- Sao không đi xe đạp? Anh nhớ chiếc xe đạp đó quá. - Đoàn Phương đẩy chiếc Honda dame màu xanh vào sân nhà. - Xe của em hả?


- Của nhỏ bạn, em đâu có xe. - Mai vừa trả lời vừa gỡ hai túi đựng bánh mì và thức ăn trong giỏ xe. - Mình ăn ở ngoài sân hay trong phòng khách?


- Khoan! Sao em biết anh về? - Đoàn Phương kéo tay Mai qua băng ghế đá.


- Dì Năm kể em nghe tối hôm qua. - Cô để hai túi thức ăn qua một bên, ngồi sát vào anh.


- Em gặp dì Năm hồi tối qua à. Vậy là dì Năm đi liền sau khi gặp anh.


- Dạ! Dì sợ sáng nay em có đi chùa dì khó kiếm. Tối qua tới giờ em có ngủ được đâu, người cứ nôn nao. Không biết sẽ nói gì khi gặp lại anh. Mà sao anh biệt tăm vậy? Những lúc rối bời như vậy em cứ mong phải chi có anh để em có một định hướng rõ ràng. Em từ chối cuộc hôn nhân đó được mà, em có quyền quyết định cuộc đời em. Nhưng phải có anh làm điểm tựa. Đằng này..., anh biệt vô âm tín, đâu phải một hai tháng mà tới ba năm trời trông đứng trông ngồi. Mới cưới có ba tuần thôi là anh về. Sao không về sớm hơn hả anh? Bộ anh không còn thương em sao, anh nói đi, sao vậy anh Phương?


Trong lúc Mai nước mắt giọt ngắn giọt dài, nghẹn lời theo từng câu nói thì Đoàn Phương cứ gục mặt nhìn những con kiến vàng đang chạy lòng vòng trên rổ mận chín. Lời của chính uỷ trung đoàn cứ vang lên bên tai. "Ba của cô ta là cảnh sát, là công an chìm từng phá vỡ các cơ sở hoạt động cách mạng của ta tại nội thành. Tương lai của đồng chí là một đảng viên Đảng Cộng sản. Hãy quyết định đi, cô ta hay đảng? Cô ta hay đảng? Cô ta hay đảng?...".


-Không! - Anh bỗng hét to lên.


- Anh Phương, anh nói không cái gì? Anh bị gì vậy? - Mai đứng dậy ôm đầu Phương vào lòng - Anh không còn yêu em sao? Mình sẽ sống cùng nhau nha anh?


Mai bật đầu anh ra và nhìn thẳng vào mắt anh, hỏi dồn:


 - Nha anh?


- Làm sao được em ơi. - Đoàn Phương kéo Mai ngồi lại bên anh - Mình không tự quyết định số phận em à. Anh chưa biết ngày nào xuất ngũ, không biết sống chết lúc nào. Ở bên đó cứ mỗi lần ra khỏi phum là có người bị thương cụt chân hoặc hy sinh. Lúc về lúc đi đều bị. Kẻ địch tuy tan rã nhưng ở lẫn trong dân, bây giờ nó đã gây dựng trở lại. Sau chuyến đi phép này...


    Mai nhìn mấy con kiến đen đang chạy vô chạy ra ở chỗ trái mận bị sâu. Cô nhớ lại cái đêm động phòng hoa chúc... Chú rể đi xe lăn mặt mày đỏ gay như con tôm luộc, hai tay quơ quào đuổi theo Mai. Cô chạy vô sát tường rồi nhảy qua giường cưới, chạy ngược lại, cứ mặc áo dài cưới mà chạy trốn chú rể. Cô ghê tởm cái hình hài thân mình thật bự, hai con mắt lộ thật bự, mụn bọc chằng chịt, hai tay thật bự mà hai cái chân nhỏ xíu. Bị mất thăng bằng chú rể ngã chúi xuống gầm giường rồi nằm luôn ở đấy ngáy kho kho. Cô ngồi bó gối sát cửa rồi ngủ lúc nào không hay. Tới chừng có một bàn tay giựt phăng hàng nút áo dài. Cô mở trừng mắt và hét “Ai? Trời ơi!". Cô ngả đầu vào vai anh như đuối sức. Phương đang mải mê nói bỗng giật mình đỡ đầu Mai.


- Anh nói tới đâu rồi?


Mai chán chường định đứng dậy.


- Anh còn ở đây hai ngày nữa – Đoàn Phương nói tiếp - Anh tính thôi thì chúng ta cứ xem như là bạn thân của nhau đi. Mình không có duyên với nhau, nếu cứ như vầy chỉ khổ cho em sau này thôi.


- Em biết anh sẽ nói vậy mà. Vậy em cũng yên tâm về với chồng rồi. Coi như là anh cho phép em lấy chồng để em khỏi mang tiếng là kẻ phụ tình. Thôi mình ăn đi, em có mua vịt quay, để em vô lấy dĩa. À má đi bán rồi hả anh? Út chắc đi học chưa về - Cô nói liền một mạch cứ như sợ dừng lại là sẽ không mở miệng được nữa. Cô sợ những giọt nước mắt đang sắp trào ra nếu cô đổi dòng suy nghĩ. Cô chạy nhanh vào trong nhà. 


                                                             CHƯƠNG HAI


                                              CHIẾN TRƯỜNG SÔI ĐỘNG


Chúng ta đang sa lầy, kẻ địch dùng chiến tranh du kích để phá ta hằng ngày, ta phải dùng du kích đánh du kích!


                                                                       1


                                   VỀ LẠI CHIẾN TRƯỜNG -  ĐIỂM CHẾT SVAY-LƠ


 


    Từ đồn Xamát dọc theo lộ 7 của tỉnh Kompong Cham,  băng qua các cánh rừng cao su bạt ngàn đang vào mùa thay lá mang màu đất đỏ rực. Đoàn Phương cùng Trung tá Huỳnh Lâm đã ra khỏi địa phận huyện Chup. Xe chạy khoảng 10 cây số thì tới phà Tole Bet. Sông Mêkông mùa này nước lũ về đục ngầu.


    Đoàn Phương nhớ lại hồi tháng Hai năm 1979, khi quân ta vừa đánh chiếm lại Kampuchia. Hai chiếc phà dân sự của tỉnh Tiền Giang tăng cường cùng hai chiếc phà quân sự hoạt động liên tục ngày đêm mà bến phà vẫn tắc nghẽn. Đoàn xe của Đoàn Phương có tới 50 chiếc vận tải 7 tấn, nối tiếp theo đoàn GMC của sư 5 đang xếp dài hàng dài ngoằng phía trước. Mọi người phải nấu ăn bên này trong khi chờ thông xe. Cách bến phà chừng 100 mét là một dãy nhà kho chứa lúa không có mái che, bị cháy từ lúc hai bên giao tranh, vẫn đang un khói âm ỉ suốt mấy tháng nay.


- Vụ vợ con sao rồi mậy? - Trung tá Huỳnh Lâm trở mình tỉnh giấc, ông ngủ suốt từ biên giới tới đây, hỏi.


- Dạ chưa. Chú làm như muốn cưới là cưới ngay được sao? - Đoàn Phương vừa nói vừa cười - Chú ngồi cẩn thận, xe xuống phà đó.


- Đánh trống lảng hả mậy? Mầy với con Mai sao rồi? Tao thấy từ chối được sớm chừng nào tốt chừng nấy. Ba cái chuyện tình cảm tiểu tư sản của tụi bây không có cẩn thận gì hết cả.


-Tình cảm yêu thương mà nói cẩn thận sao được chú? - Tài xế Quỳnh thắng xe cái kịch khi yên chỗ trên phà, quay sang nhìn Trung tá Huỳnh Lâm vừa bước xuống xe - Hồi đó chú lấy thím nhà có yêu nhau trước không chú Tư?


- Hồi năm 54 chuẩn bị tập kết, lúc đó tao 18 tuổi, đang học ở Mỹ Tho. Bất mãn với mấy ông thầy Tây coi thường dân mình, tao bỏ học theo ông chú đi tập kết. Cả nhà sợ quá không cho tao đi, nên tao nói hễ cưới vợ cho tao là tao ở lại. Không biết má tao chạy kiếm ở đâu lẹ thiệt. Tuần sau làm đám cưới liền. Bởi vậy nói chuyện yêu là tao thua. Nhưng mà cưới xong tao cũng trốn đi luôn. Lâu lâu lại trốn về thăm vợ. Hi hi hi...


Trung tá Huỳnh Lâm rút ống thuốc lào dựng ở góc xe, mở túi cóc balô lấy ra một bịch thuốc lào Tiên Lãng, mấy ông bạn ở Bộ tư lệnh Quân khu 7 gởi tặng hôm qua khi ông dự cuộc họp khẩn cấp về cao điểm Núi Hồng. Ông rít một hơi dài, tiếng ống điếu kêu rất vang át cả tiếng máy con phà đang mở hết công suất.


- Ủa mà sao phải về gấp vậy chú? - Đoàn Phương cầm ống thuốc lào, vo vo nhúm thuốc trong tay.


- Nó chiếm lại Núi Hồng rồi. - Trung tá Huỳnh Lâm bực bội phun một nhúm hơi thuốc còn sót trong miệng màu vàng khè - Chiếm thì không phải chiếm, nhưng bộ đội ta lên đó là bị mìn, đi rừng cũng bị mà đi đường trống cũng bị, lên bờ xuống ruộng cũng bị. Chắc nó đang dùng chiến thụât "bám thắt lưng địch mà đánh đây".


- Vậy mình gỡ thắt lưng ra - Đoàn Phương định chọc cười cho chú Tư bớt căng.


- Gỡ thắt lưng tụt quần sao anh? - Tài xế Quỳnh chen vô rồi cười ngất.


- Gở thắt lưng? Hay! Ý này hay đó nghe. - Trung tá Huỳnh Lâm mắt sáng bừng lên - Tao sẽ cho anh em bận quần dân hết.


- Là sao chú Tư? - Quỳnh leo lên xe khi phà vừa cặp bến.


- Thằng Phương kiểm tra lại người của mình trong dân, rồi tới đây cũng bận đồ dân luôn. Kỳ này lên Svay Lơ. Thôi lên xe đi, tới ngã ba Skun nghỉ ăn tối.


- Trời Svay Lơ hả? - Đoàn Phương leo lên xe, mắt đăm chiêu nhìn lại bên kia sông Mêkông.


  Dòng nước cứ lững lờ trôi về sông bốn mặt ở Nam Vang, rồi theo hai dòng về Việt Nam mang tên sông Tiền sông Hậu như hàng ngàn năm qua vẫn thế. Nước sông vẫn chung thuỷ một dòng, sao lòng người nay vầy mai khác? Cùng đi theo một con đường vì lợi ích của nhân dân mà phục vụ, sao giờ lại phản bội, tàn sát diệt chủng dân mình, phản lại bạn bè thân hữu xâm hại biên giới phá tan tình hữu nghị bao đời nay? Đúng là “dò sông dò biển dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người!” Đoàn Phương mang tâm trạng của kẻ lực bất tòng tâm trước thời cuộc. Nhìn dòng nuớc đang chảy xuôi mà hướng anh đi thì ngược lại. Anh cứ tiếp tục lao vào một cuộc chiến mà chỉ có tới đó anh mới nghĩ ra được cách đánh địch và nếu đánh thắng thì tương lai anh sẽ xán lạn. Còn như thất bại thì… Anh không muốn nghĩ tiếp nữa. Phải diệt cho bằng được bọn địch ngầm tại Svay Lơ, không thì bộ đội mình còn khổ dài dài. Đoàn Phương như sực nhớ ra điều gì, anh giở balô lấy một cuốn tập học sinh, anh rút mạnh một tờ giấy đôi, rút cây viết trong túi áo.


Phà Tôlê Bet ngày...tháng ..năm 1981.


Mai thân yêu!


Anh viết thư này khi anh đang chuẩn bị vào chiến dịch mới. Bây giờ em đã ổn chuyện gia đình, anh cũng yên tâm phần nào. Lẽ ra ba năm trước anh phải thể hiện rõ niềm tin cho em. Lỗi ở anh hết, một người chỉ biết lo cho bản thân. Đúng ra là anh đâu phải đi bộ đội, anh đã tình nguyện. Anh muốn chứng tỏ cái tôi của anh trước những biến đổi của thời cuộc. Là dân Sài Gòn, là người của vùng địch tạm chiếm..., nên thuờng bị nhìn là một kẻ Việt gian, một kẻ không yêu nước. Nói chung là cái đám tiểu tư sản có lý lịch không rõ ràng, phải phấn đấu cả đời mới tẩy xoá được tư tưởng tư bản chủ nghĩa đã ăn sâu vào máu rồi. Em cũng là nạn nhân của sự xét duyệt lý lịch đó. Đúng là "con vua thì mặc áo vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa"... Thôi giờ có đoàn xe về Việt Nam, anh tranh thủ gởi về cho em, theo địa chỉ mới của Mặt trận ở tỉnh Siêm Riệp, em nhớ thư qua cho anh nghen. 


                                                                                                Chúc em hạnh phúc


                                                                                            Đoàn Phương của em!


Đoàn Phương rút bao thư trong balô, xếp thư thật nhanh khi thấy đoàn xe tải mang biển số 50...


- Anh Quỳnh chặn xe đó lại giùm em. - Đoàn Phương chồm lên nói nhỏ vào tai Quỳnh.


- Chú Tư la chết! Thôi nhanh lên.


- Chuyện gì vậy? - Chú Tư choàng tỉnh dậy nheo mắt nhìn xung quanh. - Sao chặn đầu xe người ta?


- Con nhá đèn xin rồi. Nhanh đi! - Quỳnh hối Đoàn Phương.


Đoàn Phương nhanh nhẹn chạy về phía chiếc xe tải đang chậm lại, anh cầm lá thư giơ hai tay quơ qua quơ lại.


- Thiệt tình cái thằng này! Vậy mà nó cũng nghĩ ra! Ủa mà nó gởi thư cho ai vậy? Mới gặp gia đình mà. Hổng lẽ nó với con Mai còn qua lại? Thôi kệ đi, cho nó thoải mái trước khi vào cái chiến dịch khó nuốt này.


                                                           2


                                     TÌM CÁCH ĐÁNH ĐỊCH TRONG DÂN


                                                                                               


Sân chùa Tropeangkor hôm nay có 100 xe bò ra vào để chở gạo vô Svay Lơ, một phum nghèo nằm sát chân núi Hồng cách quốc lộ 6 chừng 40 cây số đường rừng. Xe nào đã chất đủ hai bao 50 kí rồi thì chạy ra đậu xếp hàng dọc dài gần một cây số, từ đường vào chùa ra tới chợ Đămdek, huyện Sothnikum, tỉnh Siêm Riệp.


 Đoàn Phương mang một khẩu AK báng xếp ngắn ngủn sát bên nách, chân mang dép Lào, bận quần vải katé màu xanh dương đậm, áo tay dài màu đen, cổ quấn khăn càma carô trắng xanh, đầu đội một chiếc nón rộng vành làm bằng lá thốt nốt đi cùng với phó chủ tịch huyện. Hai người lẫn vào trong đám nông dân đánh xe bò, nhìn từ xa cứ tưởng là dân thường. Sau lệnh xuất phát của phó chủ tịch huyện, tất cả náo động lên. Đoàn Phương đang loay hoay tìm cách leo lên xe. Bánh xe cao gần 1m6 nên anh định vịn vào mông con bò bên trái để lấy thế leo lên. Con bò thấy người lạ nên vung chân sau đá một phát, Đoàn Phương nhanh chân nhảy lùi lại, nếu không thì hết đi chuyến này.


  Anh nhớ lại năm ngoái cũng vì lớ ngớ đứng sau mông bò, bị nó đá một phát, cũng nhờ né kịp chứ không thôi là hết đường cưới vợ. Cú đá trúng vào đùi non gần sát háng bầm tím cả hai tuần mới hết. Người chủ xe bò ghìm dây cương chứ không là hai con bò vùng chạy rồi.


Chiếc xe bò là một tài sản lớn của người dân Kampuchia. Để có được một cặp bò khỏe lo việc đồng áng, gia đình phải chắt chiu cả chục năm trời.


Sau chiến thắng 7 tháng 1 năm 1979, những gia đình còn có xe bò phần lớn là thuộc thành phần giai cấp bần cố nông nên không bị bọn Pônpốt tiêu diệt. Còn các thành phần tiểu thương, trí thức, tiểu tư sản nếu có cất giấu được vàng thì mua cho gia đình một cặp bò và đặt làm một chiếc xe có hai bánh lớn bằng gỗ cẩm lai thật chắc. Chi phí toàn bộ cũng gần ba cây vàng. Quả là một tài sản quý giá. Vậy mà chỉ có một tiếng nổ “bùm” là tiêu một con bò, gãy một bánh xe thật dễ dàng. Chiến tranh ác nghiệt vô cùng!


Cũng may là đa số bò dùng cho chiến dịch này là bò già, nên có chết cũng đỡ tiếc một chút, coi như xẻ thịt biếu chiến dịch vậy.


Từ đây vô tới Svay Lơ khoảng 40 cây số, chỉ có con đường độc đạo từ thời Pháp thuộc. Hai bên đường toàn cây dầu và cây thao lao.


Gió bụi mịt mù, mặt đất bốc hơi nóng hầm hập. Khắp người Đoàn Phương bụi bám trắng xoá. Anh trùm người kín mít bằng cái khăn càma. Ông chủ xe bò ngủ gục từ lúc nào. Con bò vẫn lộc cộc bước theo tiếng gõ lốc cốc của cái mõ đeo dưới cổ nó, y như nghe hiệu lệnh cứ đi đều bước.


- Mình đi cũng đã hơn nửa đường sao không thấy mìn bẫy gì hết vậy? – Đoàn Phương nhìn qua thấy phó chủ tịch mở mắt ra, anh thắc mắc hỏi nhỏ. 


- Chắc nó biết dân đi chiến dịch nên nó để yên đó mà - Ông đáp bằng cái giọng ngái ngủ - lo liên hệ với các xã suốt từ chiều hôm qua, giờ mới chợp mắt được một lúc. 


Ông chồm lên phía trước nói với ông chủ xe bò:


- Bác để tôi đánh xe cho, lui lại nằm ngủ chút đi.


- Trước khi về huyện chú ở đâu? - Đoàn Phương lết lại sát bên phó chủ tịch, hỏi.


- Hồi đó gia đình tôi ở tỉnh Svay Riêng. Khi Pôn Pốt bắt các giáo viên đi học tập, tôi trà trộn trong dân trốn qua Việt Nam rồi được tuyển vào một tiểu đoàn học tập ở căn cứ Long Giao huyện Long Khánh. Tới cuối năm 1978 cùng với bộ đội Việt Nam đánh chiếm lại đất nước. Tôi ở lại tỉnh Siêm Riệp làm bên giáo dục. Rồi được bổ nhiệm làm phó chủ tịch huyện từ cuối năm 1980 tới giờ.


- Ở đâu mà địch có mìn loại mới này ta? - Đoàn Phương ngả người nhìn trời hỏi bâng quơ.


- Cũng gần bốn năm rồi, chúng có đủ thời gian tổ chức lại lực lượng. Vả lại bọn Trung Quốc lắm chiêu nhiều kế, chúng cung cấp vũ khí mới cho bọn Pônpốt dễ dàng thôi mà. Đây là loại mìn 625A, nó giống như một cái chén ăn cơm, màu xanh lá cây. Chỉ cần đạp lên với sức nặng khoảng hai kí lô là nó nổ ngay.


- Nó hủy diệt tinh thần chiến đấu của bộ đội mình quá trời luôn. Dân địch lẫn lộn khó phát hiện quá. Chú phân biệt nổi không? - Đoàn Phương chòm dậy nhìn thẳng vào mặt phó chủ tịch huyện.


Bùm!


         Đoàn Phương nhảy nhanh xuống đất nhìn về hướng mìn nổ phía đầu đoàn xe. Tất cả chủ xe bò nằm hết xuống đất, nhưng tay vẫn nắm dây cương. Ai cũng thấy lo sợ.


- Có ai bị gì không? - Ông phó chủ tịch hét thật lớn.


Người chủ xe dẫn đầu chạy nhanh xuống chỗ ông phó chủ tịch huyện:


- Con chó của tôi bị vướng mìn nhưng không chết. Nó hoảng quá chạy mất tiêu rồi.


- Vậy là mìn giăng dây, con chó thấp quá nên không trúng miểng phạt ngang cách mặt đất tám tấc. - Đoàn Phương mỉm cười leo lên xe - Chú cho đi tiếp đi. Bọn chúng chỉ dằn mặt hù chúng ta thôi. Còn năm cây số nữa là tới Svay Lơ rồi. Đi đi.


Người chủ xe bò nhanh chóng chạy lên phía trước. Cả đoàn xe lại chuyển động dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa hè giữa con đường rừng khô khốc.


- Hồi nãy anh hỏi tôi chuyện gì quên mất rồi? - Ông phó chủ tịch giao dây điều khiển lại cho chủ xe bò, ngồi xích lại gần Đoàn Phương.


- Chú phân biệt địch trong dân được không? - Đoàn Phương nhắc lại rồi đưa mắt nhìn người chủ xe bò, ông ta mỉm cười, mắt vẫn nhìn phía trước.


- Vậy hồi đánh Mỹ các anh sống trong dân phục kích địch, địch đối phó như thế nào? - Ông phó chủ tịch nói bằng tiếng Việt vì thấy Đoàn Phương cứ nhìn người chủ xe bò.


- Chúng tát hết nước rồi bắt cá, phá không biết bao nhiêu cơ sở của ta trong dân. - Đoàn Phương nhìn trời nói cứ như trả bài.


- Bên này chắc làm vậy không nổi. - Ông phó chủ tịch thở dài - Pônpốt gom dân thì được, chứ ta mà gom dân tập trung là dân bị ám ảnh ngay. Họ sẽ nhớ lại cái thời bị diệt chủng.


- Tối nay chú cho một trăm chủ xe bò chia ra ngủ khắp trong nhà dân được không? - Đoàn Phương gợi ý.


- Chúng tôi không dám ngủ riêng với dân Svay Lơ đâu. - Người chủ xe bò bỗng nhiên nói một tràng tiếng Việt.


- Ông biết nghe tiếng Việt, vậy sáng giờ ông có biết tôi là người Việt không? - Đoàn Phương giật mình hỏi nhanh.


- Nếu cậu không nói tiếng Kampuchia thì không ai biết cậu là người Việt, vì nhìn cậu cứ tưởng Tàu lai. - Ông ta vừa nói vừa cười.


- Sao mọi người không dám ở chung với dân Svay Lơ?


- Bọn họ toàn là dân bần cố nông, là dân nòng cốt của Pônpốt đó. - Ông nói với giọng mỉa mai căm tức.


- Vậy là ta vô ổ địch rồi. Nhưng đừng lo, họ chỉ giết bộ đội Việt Nam thôi. Tôi sẽ bám theo mọi người, bọn họ không giết được tôi đâu. - Đoàn Phương nói xong cười hì hì nhìn sang ông phó chủ tịch.


- Coi chừng chúng tách dân ra là bắt được anh liền. Chơi kiểu đánh du kích ngược lại. Hi hi hi. - Ông phó chủ tịch nói xong cười ngon lành.


- Ờ đúng rồi, tương kế tựu kế. Nè ông chủ xe - Đoàn Phương kề miệng nói nhỏ vào tai người chủ xe - ông để ý khi nào bọn chúng có ý kích động, chia rẽ dân với bộ đội thì ráng nhớ mặt một người cũng được.


- Rhm! Rhm! Rhm! Tới rồi! - Người chủ xe kéo dây cương khi đầu con bò vừa chạm vào khung xe trước. Ông quay lại gật đầu với Đoàn Phương rồi đứng dậy xem những xe bò phía trước đang tiến vào sân chùa.


 Khoảng ba mươi mấy bộ đội đứng rải rác trên chùa và trong nhà dân hai bên đường. Vẻ mặt chẳng vui chẳng buồn. Đoàn Phương cứ như một anh nông dân đi theo đoàn xe, bỏ mặc ông phó chủ tịch lăng xăng nói chuyện cùng phum trưởng và chỉ huy của đơn vị đang làm nhiệm vụ tại đây. Đoàn Phương phụ khiêng hai bao gạo trên xe xuống, có một phụ nữ khoảng 40 tuổi chạy tới phụ khi anh bị tuột tay.


- Bộ dân ở chợ sao mà yếu quá vậy? Để tôi. - Bà ta hất bao gạo lên vai đi một nước vô chùa.


Đoàn Phương mỉm cười nhìn người chủ xe. Ông ta cúi xuống thì thầm vào tai Đoàn Phương:


- Ý bả nói chú là tụi Tàu lai buôn bán ở chợ, không có tiền mướn người đi lao động thay hay sao mà phải chịu vô đây?


“Vậy là chưa lộ. Dân Kampuchia hay Tàu lai gì cũng được. Không phải bộ đội Việt Nam là được rồi. Tối nay mặc sức tìm hiểu tâm ý của họ” - Đoàn Phương nghĩ thầm rồi mỉm cười một mình. Anh bước lên hất vai người chủ xe cùng nhập bọn với dân chuẩn bị cơm chiều. 


Trời phía đông chân núi Hồng tối rất nhanh. Dưới ánh đuốc làm bằng dăm gỗ trộn với nhựa cây dầu được bọc bởi lá thốt nốt sáng chập chùng, mọi người ăn thật nhanh bữa cơm chiều với canh bí rợ và khô cá lóc nướng mang theo hồi sáng. Không khí thật yên lặng. Mọi người ăn xong là tản ra sân chùa kiếm chỗ ngủ. Không ai chịu ngủ trong nhà dân. Chỉ có Đoàn Phương, ông phó chủ tịch cùng người chủ xe bò là được người phụ nữ vác phụ gạo hồi chiều mời về nhà ăn cơm và ngủ qua đêm.


                                                          3


                                 NGƯỜI ĐÀN BÀ NHIỀU CHUYỆN


                                                                                      


 - Mọi người có đi đâu là phải cầm đuốc cháy sáng theo nghe!


Ông phum trưởng tuổi chừng 50 mươi ngoài, mất một bàn chân trái, tay cầm nạng cố đi nhanh thông báo cho mọi người biết quy định đi lại trong đêm. Sau đó ông ghé vào nhà bà Đà Ny, người đàn bà có chồng chạy theo Pôn Pốt từ năm 79 tới nay không biết chết sống ra sao.


- Thím còn gì ăn không thím Đà Ny ơi?


Ông phum trưởng dựng cây nạng cạnh chân cầu thang, lò dò bước cà nhắc lên năm bậc thang vừa lúc bà Đà Ny kéo tấm cửa thật mạnh vào trong.


- Kiếm “cơm nguội”(*) hả? Hé hé hé… Ở đây nóng nguội gì cũng hết trơn rồi.


Bà đỡ tay ông phum trưởng kéo ông lên sàn nhà.


- Ai mà kiếm cơm nguội? Chiều giờ lu bu tôi đã ăn uống gì đâu. Ủa, ông phó chủ tịch còn ở đây sao? - Phum trưởng ngạc nhiên hỏi khi nhìn thấy phó chủ tịch cùng hai người dân đang ngồi uống trà bên bếp lửa.


- Tới thì nhập bọn luôn đi - Ông phó chủ tịch mau mắn đứng dậy nắm tay phum trưởng - chị Đà Ny đang nấu cơm cho tụi tôi đây nè. Còn miếng khô lóc với mắm prohok, nướng lên ăn chung luôn.


- Chà, có mới là nới cũ ra liền. Thím vừa vừa thôi nghe. Hê - Phum trưởng vỗ vào mông Đà Ny khi bà bước ra sau nhà lấy thêm dĩa ăn cơm - Chết à nghe..


Bà Đà Ny liếc phum trưởng cùng với nụ cười bí hiểm trên môi. Họ thân mật nhau quá rồi.


                                                                    * * *


Tiếng chó sủa vang cuối phum làm mọi người tỉnh giấc. Trong bóng tối nhờ nhờ dưới ánh trăng hạ tuần, Đoàn Phương thấy bà Đà Ny ngồi nhìn ra cửa sổ. Anh men lại gần người đàn bà.


- Dì không ngủ được sao?


- Ở đây mấy đêm? - Bà hỏi nhỏ.


- Nghe phó chủ tịch nói một đêm - Đoàn Phương vừa nói vừa hé cửa lớn ló đầu nhìn ra - mà sao chó sủa dữ vậy dì?


- Nó sủa ma đó mà. Ma Việt Nam, ma Kampuchia đầy khắp nơi - Bà nói như mất hơi.


- Trong đó có chồng của dì không? - Đoàn Phương thăm dò, anh nhìn vào đôi mắt của bà đang long lanh ngấn nước.


- Chồng gì mà chồng,  Ăng-ca(**) nó ép lấy chớ cưới hỏi gì đâu. Nó mê giết người còn hơn ở với vợ. Nó giết dân mình cứ như cắt cổ gà. Tôi là trẻ mồ côi ở Tịnh Biên Châu đốc, bị lỡ duyên rồi làm gái hồi 16 tuổi ở Phnom Pênh. Năm 75 chúng nó dồn dân đi tứ xứ. Tôi cặp được một thằng chỉ huy, sau nó bị kỷ luật gì đó, bắt đi đâu mất tiêu. Chắc chết mất rồi. Tôi cứ nằm mơ thấy nó hoài. Hễ có tiếng chó sủa là y như rằng nó về thăm tôi. Chắc hôm nay thấy có nhiều người ngủ ở đây nên nó không dám vô. - Bà thở dài, với tay định lấy cơi trầu ra nhưng không biết nghĩ sao lại thôi. Bà quay lại nhìn Đoàn Phương - Cậu muốn hỏi gì phải không?


- Dì nói nó giết dân mình là dân nào? - Đoàn Phương vừa hỏi vừa lo sợ bị lộ.


- Cậu biết "cáp duồn" là gì mà. Tôi biết cậu là bộ đội giả dạng, nên hồi chiều tôi giả bộ làm quen để kéo cậu về nhà này.


Bây giờ bà mới lấy trầu ra trét chút vôi vào, lấy con dao tách trái cau một cách nhanh nhẹn, bà bỏ vào miệng nhai ngon lành.


- Như vậy là địch đang ở chung với bộ đội mình? - Đoàn Phương hỏi như khẳng định.


- Bộ đội đừng quậy thì chúng để yên.


- Nhưng chúng cứ đặt mìn rủi chết dân trong phum thì sao? - Đoàn Phương làm bộ ngây thơ hỏi dò.


- Có dấu hiệu thì tránh đừng đi vào. Bà nói giọng tỉnh bơ.


Đoàn Phương ngao ngán nhìn mảnh trăng hạ tuần vàng vọt đang đậu trên đầu cửa sổ. Hai người bạn đồng hành đang ngáy pho pho vô tư cứ như đất nước thật bình yên. Dĩ nhiên là bà không thể tiết lộ cho Đoàn Phương cái dấu hiệu tránh mìn của dân.


“Không lẽ Việt Nam cứu dân họ thoát khỏi nạn diệt chủng là thừa sao?”,  anh suy nghĩ ấm ức.


- Cậu đừng ôm rơm rặm bụng nữa. Dân ở đây thương bộ đội lắm. Đừng đi đâu một mình, cứ đi với dân thì không bị đạp mìn. Cậu đi ngủ đi.


Bà đứng dậy đưa chân đẩy cơi trầu vào sát góc nhà, rồi đi lần ra cửa sau. Thoáng cái đã nghe tiếng nước xối ào ào, tiếng giũ sà rông thật mạnh.


    Đoàn Phương không tài nào ngủ được. Anh bò nhẹ ra cửa sau nhìn ra. Ánh trăng sáng nhợt nhạt nhưng nhìn dáng người của bà Đà Ny vẫn còn đẹp lắm. Bà chỉ quấn sà rông từ bụng xuống. Bộ ngực trần của người đàn bà dù đã bốn mươi tuổi nhưng vẫn thật săn chắc. Hèn gì mà ông phum trưởng cứ mon men tới tìm "cơm nguội" hoài.


___


(*) "Kiếm cơm nguội": tiếng lóng, ý nói kiếm gái.


(**) Ăng-ka: cán bộ lãnh đạo (thời Khmer Đỏ).


(còn tiếp)


Nguồn: Một thời để yêu và sống. Truyện dài của Đặng Hạnh Phúc.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »