tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21091369
Tiểu thuyết
10.11.2017
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm

Chương 32


Vì mệt và xúc động, cậu bé đứng lặng đi, thở hổn hển, không thốt ra được lời nào trước con người đang nằm trên giường, người đó cũng im lặng nhìn em với vẻ kinh ngạc của một người nửa tỉnh nửa mê.


Mãi sau ông ta mới gọi:


− Nasibu, mày có đấy không?


− Con đây, thưa ông chủ! − Cậu bé da đen đáp lại.


− Mày có trông thấy ai không, ai đang đứng trước mặt ta đây?


Trước khi cậu bé da đen kịp trả lời, Staś  đã nói ngay:


− Thưa ngài, − Em nói, − Tôi là Xtanixoáp Tarơcốpxki. Cùng với tiểu thư Rawlison, tôi chạy thoát khỏi cảnh nô lệ từ tay bọn phiến loạn và chúng tôi đang náu trong rừng. Nhưng Nel đang ốm nặng, tôi cầu xin ngài hãy giúp đỡ.


Người lạ hấp háy mắt ngó em một lúc nữa, rồi đưa tay gạt ngang vầng trán.


− Ta nghe thấy đây mà, không phải chỉ nhìn thấy, không, − Ông ta cất tiếng như tự nói với bản thân mình, − Đây không phải là ảo giác. Hả? Giúp đỡ hả? Chính ta cũng đang cần giúp đỡ đây. Ta bị thương rồi.


Bỗng nhiên ông giật mình, dường như vừa thoát khỏi giấc mơ hoặc cơn bải hoải, nhìn cậu bé với vẻ tỉnh táo hơn, với ánh sung sướng long lanh trong mắt, rồi bảo:


− Một đứa bé da trắng!... Ta còn được trông thấy một người da trắng đây mà!... Xin chào anh, dù anh là ai. Anh nói tới bệnh tật gì thì phải? Anh muốn gì ở ta?


Staś  nhắc lại, rằng người ốm là Nel, con gái của ngài Rawlison, một trong các vị giám đốc kênh đào, rằng cô bé đã bị hai cơn sốt rét và chắc sẽ chết nếu như không có kí ninh để phòng cơn thứ ba.


− Hai cơn, gay rồi đấy. − Người lạ đáp. − Nhưng kí ninh thì ta có thể cho anh, bao nhiêu tùy ý anh. Ta có mấy lọ to, và chúng cũng chẳng giúp ích gì cho ta nữa.


Nói thế, ông ra lệnh cho cậu bé Nasibu đưa cho mình một cái hộp sắt tây to tướng, hẳn là tủ thuốc khi đi đường, lấy từ trong đó ra hai lọ lớn đựng đầy một thứ thuốc trắng, đưa cho Staś .


− Đây là một nửa số mà ta có. Ngần này cũng đủ dùng ít ra là một năm...


Staś  suýt nữa thì reo lên vì mừng rỡ, em cảm ơn ông ta, xúc động như chính em được cứu sống vậy.


Người lạ mặt gật gật đầu rồi nói:


− Được rồi, được rồi! Ta là Linđe, người Thụy Sĩ, quê ở Duyrich... Hai ngày trước đây ta gặp tai nạn: Một con lợn rừng nơriđi húc ta bị thương.


Rồi quay sang phía thằng bé da đen, ông bảo:


− Nasibu, nhồi cho ta tẩu thuốc. Và quay sang Staś :


− Về đêm ta bị sốt nhiều hơn và hơi bị choáng váng trong đầu. Nhưng hút một điếu thuốc sẽ làm đầu óc minh mẫn hơn. Anh bảo là các anh trốn thoát khỏi tay bọn phiến loạn và hiện đang ẩn náu trong rừng, có phải thế không?


− Vâng, thưa ngài, cháu đã nói thế.


− Thế các anh định làm gì?


− Chạy đến Abixinia ạ.


− Thế thì các anh sẽ rơi vào tay quân lính của Mahdi mất thôi, hiện nhiều đơn vị quân của y đang tuần phòng suốt dọc biên giới.


− Nhưng chúng cháu không thể làm gì khác hơn được ạ.


− Ôi, giá như một tháng trước đây thì ta đã có thể giúp các cháu. Nhưng giờ đây ta chỉ còn lại có mỗi một mình, sống nhờ lượng Chúa và nhờ thằng bé da đen kia mà thôi.


Staś  nhìn ông với vẻ ngạc nhiên:


− Thế còn cái trại này ạ?


− Đó là cái trại của tử thần.


− Còn những người da đen này?


− Họ đang ngủ và sẽ không bao giờ tỉnh dậy nữa.


− Cháu không hiểu...


− Bọn họ bị bệnh ngủ[1]. Đó là những người thuộc vùng Hồ Lớn, nơi cái bệnh khủng khiếp này hoành hành liên tục, và tất cả bọn họ đều mắc phải thứ bệnh quái ác ấy, trừ những kẻ trước đó đã chết vì đậu mùa. Chỉ mỗi mình thằng bé này là còn sống sót với ta thôi...


Bây giờ Staś  mới chợt nhận ra rằng khi em tuột xuống khe núi, không một người da đen nào nhổm dậy hay động đậy, trong khi họ trò chuyện, tất cả bọn họ đều ngủ: Người thì tựa đầu vào vách đá, kẻ lại gục đầu xuống ngực.


− Họ ngủ và không bao giờ tỉnh dậy nữa ư? − Em hỏi lại, dường như vẫn chưa thật hiểu điều vừa nghe thấy.


Ông Linđe thốt ra:


− Ôi, cả Phi châu này là một cái nhà xác!...


Những lời tiếp theo của ông bị gián đoạn bởi tiếng vó ngựa, lũ ngựa sợ một cái gì đó trong rừng, nhảy chồm chồm lên hai chân bị buộc vào nhau, lần về phía mép thung lũng, muốn được xích lại gần lửa gần người.


− Không có gì đâu, lũ ngựa đấy thôi! − Người đàn ông Thụy Sĩ nói tiếp. − Ta đã lấy được ngựa của bọn quân lính Mahdi vài tuần trước, khi ta đánh cho chúng tan tác. Bọn chúng có chừng ba trăm tên, có lẽ hơn thế. Nhưng bọn chúng phần nhiều chỉ có giáo mác, còn người của ta thì lại có súng trường rêmingtơn, số súng đang đặt gần vách đá kia, chúng cũng chẳng còn dùng được vào việc gì nữa rồi. Nếu cháu thiếu súng, hoặc đạn thì cứ lấy, bao nhiêu cũng được. Lấy cả ngựa nữa, cháu sẽ quay về với cô bạn đang ốm của cháu nhanh hơn. Con bé bao nhiêu tuổi nhỉ?


− Tám tuổi ạ! − Staś  đáp.


− Vậy ra hãy còn là một đứa trẻ con... Nasibu sẽ đưa cho cháu chè, gạo, cà phê và rượu vang... Trong số lương thực cháu muốn thứ gì cứ lấy, và sáng mai hãy tới lấy thêm nữa.


− Cháu nhất định sẽ quay trở lại để cảm ơn ngài một lần nữa với tất cả tấm lòng, và để đỡ đần cho ngài những gì cháu có thể làm được.


Ông Linđe nói:


− Thật dễ chịu dù chỉ được trông thấy một khuôn mặt người Âu. Nếu như sáng mai cháu đến sớm thì ta sẽ tỉnh táo hơn. Bây giờ cơn sốt lại kéo tới hành hạ ta rồi, ta trông thấy cháu thành hai người. Có thật hai người đang đứng cạnh ta không? Không!... Ta biết chắc là chỉ có mỗi mình cháu, và đó chỉ là do cơn sốt thôi... Ôi, cái châu Phi này!


Và ông nhắm nghiền mắt lại.


Mười lăm phút sau, Staś  lên đường quay trở lại, rời cái trại kì lạ của bệnh ngủ và cái chết, lần này thì bằng ngựa. Đêm hãy còn sâu thẳm, nhưng em không còn phải để ý đến những mối nguy hiểm có thể sẽ gặp trong vùng cỏ cao nữa. Tuy vậy, em đi dọc theo gần sông, với dự tính rằng hai cái khe núi đều phải đổ ra sông. Nói cho cùng, quay trở về dễ dàng hơn nhiều, vì trong sự tịch mịch của đêm, tiếng thác nước vang đi rất xa, thêm vào đó, phía tây bầu trời quang mây hẳn, và bên cạnh vầng trăng còn có ánh sáng Hoàng đạo soi khá tỏ. Cậu bé dùng mũi bàn đạp kiểu Ả Rập rộng bản thúc vào hông ngựa lao đi vun vút, vừa nhủ thầm trong lòng: “Sư tử và báo gấm có hề chi! Ta đã có kí ninh cho cô em bé bỏng đây rồi!”. Chốc chốc, em lại đưa tay sờ nắn hai cái lọ, như muốn kiểm tra cho chắc xem quả thực có chúng trong tay không, và tất cả những điều này không phải chỉ là một giấc mơ. Biết bao ý nghĩ và hình ảnh diễn qua đầu óc em. Em như thấy người đàn ông Thụy Sĩ bị thương mà em vô cùng biết ơn, đồng thời chân thành hối hận rằng thoạt đầu trong khi nói chuyện, em đã ngỡ ông ta điên, em thấy như thằng bé Nasibu với cái sọ dừa tròn như một quả bóng, cùng những hàng người phu đang ngủ say và những họng súng rêmingtơn tựa vào vách đá, ánh lên trong ánh lửa. Giờ đây em tin chắc rằng cuộc chiến đấu mà ông Linđe nói tới chính là cuộc chiến đấu với toán quân của gã Smain, và đối với em có vẻ thật lạ lùng khi nghĩ rằng chính gã Smain cũng có thể đã chết.


Những hình ảnh ấy hòa trộn không ngừng với những suy nghĩ về Nel. Em tưởng tượng thấy cô bé sẽ ngạc nhiên đến thế nào khi trông thấy cả một lọ thuốc kí ninh đầy, có thể cô bé sẽ coi em là phù thủy cũng nên. “Ôi!” − Em tự nhủ, − “Giá như ta hèn nhát không dám tự mình đi xem thử làn khói bốc lên từ đâu, thì suốt đời ta không bao giờ có thể tha thứ nổi cho mình điều đó!”.


Không đầy một tiếng đồng hồ sau, tiếng thác nước đã vang lên rõ mồn một, và nghe cả tiếng ếch nhái, khiến Staś  đoán ra rằng đã về tới gần khoảng nước rộng nơi hôm trước em từng săn chim nước. Trong ánh trăng em còn nhận rõ những cái cây xa xa mọc trên bờ nước. Giờ thì cần phải thật cảnh giác, vì vùng nước đó đồng thời cũng là nơi uống nước mà mọi loài thú trong vùng đều phải tới, vì tại tất cả những nơi khác, bờ sông đều dốc đứng và khó xuống. Nhưng lúc này đêm đã quá muộn, lũ thú dữ hẳn là đã ẩn náu trong các hang đá sau những chuyến đi săn đêm. Con ngựa khẽ kêu lên rừ rừ khi ngửi thấy mùi sư tử hay hùm beo hãy còn vương vất quanh đấy, nhưng Staś  đã vượt qua nơi đó không gặp trở ngại gì và một lúc sau em đã trông thấy hình dáng đen sẫm của “Cracốp”, đứng sừng sững trên mũi đất cao. Lần đầu tiên trong thời gian ở châu Phi, em có cảm giác như về tới nhà.


Em ngỡ rằng sẽ gặp mọi người đang ngủ say, nhưng quên tính tới con Saba, con chó cất tiếng sủa đến nỗi cả người chết chắc cũng phải bật dậy. Trong chớp mắt, Kali hiện ra trước cái cây và kêu tướng lên:


Bvana kubva ngựa!


Trong giọng của cậu bé có nhiều niềm vui hơn là sự ngạc nhiên, bởi nó quá tin tưởng vào sự hùng mạnh của Staś , nên nếu như Staś  có hóa phép tạo ra voi đi nữa thì cậu bé da đen cũng chẳng ngạc nhiên lắm.


Những niềm vui bao giờ cũng khiến cho người da đen cười, nên thằng bé vừa vỗ đùi bành bạch vừa cười lên như hóa dại.


− Hãy buộc chân con ngựa này lại. − Staś  bảo. − Tháo đồ đạc xuống, đốt to lửa lên và nấu nước sôi đi.


Rồi em bước vào lòng cây gỗ. Nel cũng đã thức dậy và bắt đầu gọi tên em. Staś  khẽ hé bức rèm bằng vải nhìn khuôn mặt nhợt nhạt của Nel trong ánh sáng ngọn đèn, cùng đôi bàn tay gầy trắng bệch đặt trên lần chăn đắp trên người cô bé.


− Em thấy trong người ra sao, cô bé? − Staś  vui vẻ hỏi.


− Bình thường, em ngủ rất say, cho tới khi con Saba làm em thức giấc. Thế sao anh không ngủ?


− Vì anh còn phải đi.


− Đi đâu, anh?


− Tới hiệu thuốc.


− Tới hiệu thuốc à?


− Phải, để mua kí ninh mà.


Vị thuốc kí ninh đắng ngắt không làm cho cô bé thích thú chút nào, nhưng cô bé vốn xem đó là thứ thuốc trị được bách bệnh trên đời nên cô thở dài và bảo:


− Em biết là anh không còn kí ninh nữa.


Staś  bèn giơ một trong hai lọ lên gần đèn và hỏi vẻ vừa tự hào vừa sung sướng:


− Thế cái gì đây?


Nel không muốn tin vào mắt mình nữa, còn cậu bé nói vội vã, cả người như sáng bừng lên:


− Em sẽ khỏe ngay bây giờ! Lát nữa anh sẽ lấy cho em một liều thuốc thật nhiều bọc trong quả vả tươi và em phải nuốt chửng, rồi uống thứ gì thì em sẽ biết. Sao em nhìn anh như nhìn con mèo màu xanh thế? Phải, anh còn một lọ nữa. Anh được một người đàn ông da trắng cho, trại của ông ta cách đấy bốn dặm. Anh vừa từ đó quay về đây. Ông ta tên là Linđe và bị thương, nhưng ông ta cho anh vô số thứ ngon. Anh quay về bằng ngựa, nhưng phải đi bộ tới chỗ ông ta đấy. Em nghĩ là đi qua rừng trong đêm dễ chịu lắm à? Brr! Có các vàng anh cũng không đi lần nữa, trừ phi đi xin thuốc kí ninh!


Nói thế xong, em rời cô bé đang kinh ngạc, đi sang “buồng con trai”, lấy trong số lương thực dự trữ một quả vả nhỏ nhất, khoét ra và rắc thuốc kí ninh vào bên trong, chú ý sao cho liều thuốc không nhiều hơn so với những viên thuốc mà em nhận được ở Chartum. Rồi em bước ra khỏi thân cây, rót nước trà vào cốc nước mang vào cho Nel.


Trong thời gian ấy cô bé nghĩ tới mọi chuyện vừa xảy ra. Cô bé rất tò mò, không hiểu người da trắng nọ là ai? Làm sao Staś  lại biết ông ta? Liệu ông ta có đến thăm chúng không và liệu có đi cùng chúng? Bây giờ cô bé không hề nghi ngờ gì nữa, khi Staś  đã có được kí ninh thì cô sẽ khỏe lại. Nhưng anh Staś  này... dám đi một mình trong đêm vượt qua rừng, cứ như là không ấy thôi! Dù cho cậu bé có ngạc nhiên, nhưng Nel vẫn quen coi tất cả những gì Staś  làm cho cô là những chuyện tất nhiên, cô bé không hề suy nghĩ gì lâu la về điều đó, vì nói cho cùng thì một người anh lớn phải chăm sóc một đứa em gái chứ! Nhưng lần này thì cô bé hiểu được rằng nếu không có sự chăm sóc của Staś  thì chắc chắn cô bé đã chết từ lâu, rằng Staś  vô cùng chăm lo tới Nel, rằng cậu chiều chuộng và bảo vệ Nel đến mức không có một đứa con trai nào ở tuổi cậu có thể làm được. Và một lòng biết ơn to lớn tràn ngập trong trái tim nhỏ nhoi của cô bé.


Cho nên khi Staś  bước vào và cầm thuốc cúi xuống, thì Nel liền lập tức vươn hai cánh tay mảnh mai của mình lên ôm choàng lấy cổ Staś  và chân thành ghì chặt lấy:


− Anh Staś , anh đối với em thật tốt biết bao. Còn thằng bé đáp:


− Thì anh còn biết đối tốt với ai nữa? Tuyệt lắm! Nào, uống thuốc đi em!


Tuy nhiên, cậu vui sướng vô cùng, mắt cậu long lanh thỏa mãn, và quay lại phía lỗ cửa gọi to, với vẻ thật sự tự hào


và sung sướng:


− Mêa! Bây giờ đưa trà cho cô bé nào!


 


Chương 33


 


Mãi trưa ngày hôm sau, Staś  mới đi thăm ông Linđe được, vì còn phải ngủ bù cho một đêm thức trắng.


Dọc đường em bắn hạ hai con chim pentácca vì nghĩ rằng hẳn người ốm đang cần thịt tươi, và quả thật món quà này được nhận với lòng biết ơn. Ông Linđe yếu lắm rồi nhưng hoàn toàn tỉnh táo. Ngay sau khi chào hỏi, ông hỏi ngay về Nel, rồi ông dặn Staś  chớ nên xem kí ninh là phương thuốc đủ hiệu nghiệm để chống lại bệnh sốt rét, mà cần phải tránh cho Nel khỏi bị nắng, bị ướt, ban đêm không được ở những chỗ ẩm thấp và không được dùng nước độc. Sau đó Staś  thuật lại cho ông nghe − theo yêu cầu của ông − toàn bộ câu chuyện của em và Nel, từ đầu cho tới khi tới được Chartum, cuộc tiếp kiến Mahdi, rồi sau đó, từ Fasoda tới lúc tự giải thoát khỏi tay Gebhr cùng chuyến đi tiếp tục. Trong khi em kể, người đàn ông Thụy Sĩ nhìn em với sự thích thú ngày càng tăng, với sự kinh ngạc, và khi câu chuyện kết thúc, ông đốt một tẩu thuốc lá, nhìn Staś  một lần nữa từ đầu tới chân rồi nói vẻ trầm ngâm:


− Nếu như đất nước của cháu có nhiều thiếu niên như cháu thì chắc hẳn ngoại bang khó khuất phục nổi.


Rồi sau một giây im lặng, ông nói tiếp:


− Bằng chứng tốt nhất chứng tỏ những lời cháu nói là thật, là sự kiện cháu đang đứng trước mặt ta. Cháu biết ta muốn nói gì với cháu không? Hoàn cảnh của các cháu quả là kinh khủng, đường đi về ngả nào cũng ghê gớm ngang nhau, nhưng ai biết đâu đấy, một cậu bé như cháu có thể cứu mình cùng đứa trẻ ấy thoát khỏi cái vực thẳm này cũng nên...


− Chỉ cần em Nel khỏe thôi, cháu sẽ làm tất cả những gì cháu có thể làm được! − Staś  thốt lên.


− Nhưng cũng phải biết giữ sức cháu ạ, vì nhiệm vụ đang ở trước mặt cháu thật quá sức ngay cả đối với người lớn nữa kia. Cháu có biết hiện nay cháu đang ở chỗ nào không đã?


− Không ạ. Cháu chỉ nhớ rằng, sau khi rời Fasoda, chúng cháu đi ngang qua một làng lớn, gọi là làng Đeng, rồi một con sông nhỏ nào đó.


− Sông Xốpbat. − Ông Linđe ngắt lời.


− ở Đeng có rất nhiều quân phiến loạn và người da đen. Nhưng sau sông Xốpbat, chúng cháu đi vào vùng rừng, và đi suốt cả tuần cho đến khi gặp cái khe núi, trong đó hẳn bác đã biết xảy ra chuyện gì...


− Ta biết rồi. Rồi sau đó, các cháu đi theo các khe núi đó đến gặp con sông. Cháu hãy nghe ta nói đây: Thế có nghĩa là sau khi vượt qua sông Xốpbat, cùng với bọn Sudan, các cháu đã quành về phía đông nam, nhưng thiên nhiều về phía nam hơn. Hiện nay các cháu đang ở trong vùng mà các nhà thám hiểm cũng như các nhà địa lí hoàn toàn chưa biết tới. Con sông ở cạnh chúng ta đây chảy lên phía tây bắc và hình như sẽ đổ vào sông Nin. Ta nói hình như vì bản thân ta cũng không thật biết rõ, mà ta cũng không còn có thể tìm hiểu để khẳng định điều đó nữa, mặc dù chính ta rời khỏi dãy núi Caramôiô là để nghiên cứu ngọn nguồn con sông này. Sau trận đánh vừa rồi, ta được nghe bọn tù binh phiến loạn nói rằng sông này gọi tên là sông Ogêlôguen, nhưng chính bọn chúng cũng không biết chắc chắn lắm, vì thực ra chúng nhảy vào vùng này chỉ để săn bắt nô lệ mà thôi. Nói chung, trước đây bộ lạc Sinlúc chiếm cứ vùng đất thưa dân cư này, nhưng hiện nay ở đây hoàn toàn là vùng không người, vì một phần dân cư bị chết bởi dịch đậu mùa, một phần bị bọn Mahdi quét sạch, còn một phần chạy trốn vào dãy núi Caramôiô. ở châu Phi, nhiều khi một vùng đất hôm nay còn đang dày đặc cư dân, ngày mai đã trở thành vùng đất trắng, không một bóng người. Theo những tính toán của ta, các cháu đang ở cách Lađô chừng ba trăm kilômét. Các cháu có thể chạy trốn về phía nam đến với ông Êmin, nhưng chính ông Êmin cũng đang bị quân phiến loạn vây hãm, nên chuyện này chẳng nên bàn tới làm gì...


− Thế tới Abixinia thì sao ạ? − Staś  hỏi.


− Cũng vào khoảng ba trăm cây số. Tuy vậy cũng cần nhớ rằng, Mahdi đánh nhau với toàn thế giới, nghĩa là đánh nhau cả với Abixinia nữa. Ta biết được qua bọn tù binh, rằng biên giới phía tây và phía nam hiện đang có những bộ tộc lớn nhỏ của quân phiến loạn tuần phòng, có nghĩa là các cháu dễ dàng bị lọt vào tay chúng. Abixinia là quốc gia theo đạo Thiên Chúa, nhưng ở vùng phía nam lại là những bộ lạc dã man, hoặc là ngoại đạo hoặc theo đạo Ixlam, và cũng vì vậy họ ngấm ngầm ủng hộ Mahdi... Không, đường đó các cháu không qua được đâu!


− Thế thì cháu biết làm gì, biết đi đâu với Nel bây giờ?


− Staś  hỏi.


− Ta đã nói rằng tình thế thật gay go mà, − Ông Linđe đáp.


Nói thế xong, ông đặt hai tay lên đầu và nằm im lặng hồi lâu.


− Từ đây tới biển, − Ông nói, − Cách chừng chín trăm kilômét, qua núi, qua những vùng thổ dân hoang dã, thậm chí vượt qua cả sa mạc nữa, vì hình như ở đấy có những vùng rộng lớn hoàn toàn không có nước. Nhưng vùng đất này về danh nghĩa đang thuộc về Anh quốc. Rất có thể sẽ gặp những đoàn vận tải ngà voi đi Kixmai, đi Lamu hay đi Mombasa, cũng có thể sẽ gặp một đoàn truyền giáo chẳng hạn... Biết rằng do có bọn phiến loạn nên không thể nào nghiên cứu hết con sông này, vì nó quành ra sông Nin, chính ta cũng đã muốn đi về phía đông, về phía đại dương...


− Thế thì chúng ta hãy cùng nhau trở về đi bác! − Staś  kêu lên.


− Ta không về được nữa rồi. Con lợn nơriđi làm nát cả thịt lẫn gân chân ta, chắc ta bị nhiễm trùng máu. Chỉ một nhà phẫu thuật mới có thể cứu được ta bây giờ bằng cách cắt bỏ cái chân đi. Bây giờ thì nó đã cứng lại và tê bại đi rồi, chứ hôm đầu thì đau ghê gớm...


− Chắc chắn là bác sẽ khỏe lại thôi mà.


− Không đâu, cậu bé can trường của ta, chắc chắn là ta sẽ chết, còn cháu, cháu hãy lấy đá đắp mồ ta thật kín để lũ linh cẩu khỏi moi xác ta ra. Người chết thì thế nào cũng xong, nhưng lúc đang còn sống mà nghĩ về chuyện đó thì chẳng dễ chịu chút nào... Thật nặng nề khi phải chết xa những người thân thuộc...


Nói tới đây, mắt ông mờ đi như bị một làn sương bao phủ, rồi ông nói tiếp:


− Nhưng ta đã thanh toán cái ý nghĩ đó rồi, nên tốt nhất chúng ta đừng nói về ta nữa mà về các cháu thì hơn. Ta khuyên các cháu một điều: Chỉ còn lại một con đường là sang phía đông, đến đại dương. Nhưng các cháu hãy nghỉ ngơi cho khỏe trước khi lên đường, lấy thêm sức lực. Nếu không cô bạn đường nhỏ bé của cháu sẽ chết trong vòng vài tuần mất. Hãy lùi chuyến đi lại cho tới cuối mùa mưa hay hơn nữa. Những tháng hè đầu tiên, khi mưa ngừng rơi, và nước hãy còn bao phủ các đầm lầy là những tháng lành nhất. Nơi chúng ta đang ở đã là vùng cao nguyên, nằm bên trên mực nước biển chừng bảy trăm mét. ở độ cao một nghìn ba trăm mét thì hoàn toàn không bị bệnh sốt rét nữa, còn những người bị bệnh này được mang từ vùng thấp lên thì cơn bệnh cũng dịu đi nhiều. Cháu hãy mang cô bạn người Anh lên núi...


Rõ ràng việc nói chuyện làm ông rất mệt, nên ông dừng lời, và suốt một hồi lâu ông kiên nhẫn đuổi đám nhặng xanh, những con nhặng xanh giống hệt như lũ nhặng mà Staś  đã trông thấy trên những vùng đầy tro xám của Fasoda.


Sau đó, ông nói tiếp:


− Cháu hãy chú ý thật kĩ những điều ta nói đây: Cách đây một ngày đường về phía nam có một ngọn núi riêng lẻ nhô cao lên, nhưng không cao quá tám trăm mét. Trông nó như một cái xoong lật ngược vậy. Sườn núi rất dốc, chỉ có một gờ đá lên được, hẹp tới nỗi nhiều chỗ chỉ đủ cho hai con ngựa đi kề nhau mà thôi. Trên đỉnh núi bằng phẳng rộng chừng một kilômét hay hơn, vốn có một cái làng dân da đen, nhưng bọn Mahdi đã giết và bắt sạch dân làng đi rồi. Cũng có thể chính tên Smain bị ta đánh tan đã làm chuyện đó, nhưng ta không lấy lại được số nô lệ của hắn, vì trước đó hắn đã gửi họ đi theo một đoàn lính hộ tống tới vùng sông Nin mất rồi. Các cháu hãy ở lại đỉnh núi ấy. ở đó có một suối nước rất lành, mấy cánh đồng sắn và nhiều chuối lắm. Trong các lều các cháu sẽ tìm thấy nhiều xương người, nhưng đừng sợ bệnh dịch gì lây từ những hài cốt ấy, vì sau khi bọn phiến loạn đi rồi thì ở đó chỉ có lũ kiến, chính lũ kiến này đã khiến đoàn của ta phải rời đó mà đi. Ngoài ra không còn có ma nào nữa. Các cháu hãy ở lại làng ấy một hay hai tháng. ở độ cao ấy không còn sốt rét nữa đâu. Ban đêm thường lạnh. Ở đó cô bạn nhỏ của cháu sẽ lấy được sức khỏe, còn cháu thì cũng khỏe thêm lên.


− Nhưng sau đó thì làm gì và đi đâu nữa ạ?


− Sau đó tùy ý Chúa. Các cháu hãy cố sức vượt sang Abixinia tới những vùng xa hơn, nơi quân phiến loạn chưa đến được, hoặc đi về phía đông. Ta nghe nói rằng người Ả Rập từ vùng bờ biển lần tới được một cái hồ nào đấy để tìm ngà voi, họ thường mua ngà voi của các bộ tộc Xamburu và Vahima.


− Vahima à? Kali là người Vahima đấy.


Và Staś  bắt đầu kể cho ông Linđe nghe em đã được thừa hưởng Kali sau cái chết của gã Gebhr ra sao, rằng Kali đã nói cho em biết rằng nó là con trai của vị đầu lĩnh của toàn thể những người Vahima. Song ông Linđe đón nhận cái tin này hờ hững hơn nhiều so với Staś  nghĩ.


− Thế càng hay, − ông nói, − Vì thằng bé có thể giúp ích được cho cháu. Trong số dân da đen cũng có những tâm hồn trung thực, mặc dù nói chung không nên chờ đợi gì ở lòng biết ơn của bọn họ, đó là những đứa trẻ con dễ dàng quên đi những gì diễn ra ngày hôm qua.


− Nhưng Kali sẽ không quên là cháu đã cứu nó thoát khỏi tay Gebhr, cháu tin chắc điều đó.


− Có thể, − Ông Linđe đáp và trỏ tay sang Nasibu, ông nói thêm, − Đây cũng là một đứa trẻ tốt bụng. Sau khi ta chết, cháu hãy cưu mang nó.


− Xin bác đừng nói và cũng đừng nghĩ tới cái chết nữa.


− Anh bạn thân mến của ta ơi, − Người Thụy Sĩ đáp, −


Ta đang mong nó tới đây, cốt sao đừng đau đớn quá là được. Hãy nghĩ xem, bây giờ đây ta không chút sức tự vệ, và giá như có một trong những tên Mahdi nào đó đã bị đánh tan, trong khi lang thang tình cờ tới cái khe núi này, thì một mình hắn cũng có thể thịt ta như thịt một con cừu non vậy.


Nói tới đây ông trỏ sang những người da đen đang ngủ:


− Những kẻ kia không bao giờ tỉnh dậy nữa, mà ta nói không đúng lắm, mỗi người chỉ tỉnh dậy một lúc ngay trước khi chết, chạy quáng quàng vào rừng, rồi không quay lại nữa... Từ hai trăm người chỉ còn lại có sáu mươi. Nhiều kẻ bỏ trốn, nhiều kẻ bị chết vì bệnh đậu mùa, một số thiếp đi mãi mãi trong những khe núi khác.


Staś  thương cảm và kinh hoàng nhìn kĩ những người đang ngủ. Da họ có màu tro xám, mà đối với người da đen có nghĩa là xanh xao. Một số người mắt nhắm nghiền, kẻ khác mắt mở he hé, nhưng ngay cả những kẻ này cũng ngủ say, vì đồng tử của họ không hề có phản ứng gì đối với ánh sáng. Một số người đầu gối sưng phù. Tất cả đều gầy guộc một cách kinh khủng, đến nỗi qua làn da có thể đếm trọn số xương sườn của họ. Tay chân họ co giật liên tục và rất nhanh. Những con nhặng xanh nọ bâu dày đặc lên mắt, lên môi họ.


− Không có cách nào cứu họ nữa ư? − Staś  hỏi.


− Không có! ở vùng hồ Víchtiria Nianda bệnh này quét sạch cả làng. Đôi khi nó lan tràn ghê gớm, đôi khi ít hơn. Người ở những vùng bờ sông nhiều lau lách dễ bị bệnh này.


Mặt trời đã ngả về tây, nhưng trước khi chiều tới, ông Linđe còn kể cho Staś  nghe câu chuyện đời ông. Ông là con một thương gia ở Duyrich. Bố mẹ ông xuất thân từ vùng Caclơxruhơ, nhưng từ năm 1848 sang sinh sống ở Thụy Sĩ. Cha ông phát tài vì buôn tơ lụa. Cha ông đào tạo ông thành một kĩ sư, nhưng chàng thanh niên Henrich ngay từ thuở thiếu thời đã say mê du lịch. Sau khi tốt nghiệp trường Bách Nghệ và được thừa hưởng toàn bộ gia sản của cha, ông lên đường làm chuyến thám hiểm đầu tiên đi Ai Cập. Đó là từ trước thời kì Mahdi, nên ông đến được tận Chartum và đi săn cùng với dân Đangan ở Sudan. Sau đó, ông dành thì giờ nghiên cứu địa lí châu Phi và trở thành một người rất thông thạo lĩnh vực này, đến nỗi nhiều hội địa lí công nhận ông làm thành viên danh dự của mình. Ông bắt đầu làm cuộc thám hiểm cuối cùng của mình − cuộc thám hiểm kết thúc thê thảm như thế đối với ông − từ Dandiba, ông đến được vùng Hồ Lớn và định đi dọc theo dãy núi chưa được nghiên cứu tới là dãy Caramôiô đến tận Abixinia, rồi từ đó, đến bờ đại dương. May thay − hoặc không may thay − là lúc đó đang có chiến tranh giữa Uganđa và Uniôrô. Ông Linđe đã lập được nhiều công trạng đối với nhà vua Uganđa, để thưởng công, nhà vua bèn cho ông hơn hai trăm phu khuân vác đồ đạc. Điều đó đã khiến cho chuyến đi và việc thám hiểm núi Caramôiô trở nên nhẹ nhàng, nhưng rồi bệnh đậu mùa bắt đầu xuất hiện trong đoàn người, tiếp đó lại đến cái bệnh ngủ khủng khiếp này, và thế là cả đoàn bị tan vỡ.


Ông Linđe còn có rất nhiều thức ăn dự trữ bằng đồ hộp, nhưng vì lo ngại bệnh scôbut[2] nên ngày nào ông cũng đi săn để kiếm thịt tươi. Ông là một tay súng thiện xạ nhưng lại là một nhà đi săn không mấy thận trọng. Và thế là xảy ra tai họa khi mấy ngày trước đây, ông nhẹ dạ đến quá gần một con lợn lòi nơriđi bị thương, con vật chồm dậy và cắn nát chân ông, rồi sau đó lại xéo lên lưng. Chuyện đó xảy ra gần trại ngay trước mắt thằng bé Nasibu, thằng bé xé toạc cái áo của nó làm băng cầm máu cho ông và đưa ông vào lều. Nhưng trong cái chân bị thương có thể có chứng xuất huyết nội và người bị thương bị bệnh hoại huyết đe dọa.


Staś  nhất thiết muốn được băng bó cho ông và em nói rằng hàng ngày em sẽ đến với ông, hoặc − để khỏi phải để Nel lại một mình dưới sự chăm sóc của hai người bạn da đen − sẽ mang ông trên tấm chăn căng giữa hai con ngựa về mũi đất, về “Cracốp”.


Ông Linđe đồng ý để em thay băng giúp, nhưng không đồng ý di chuyển.


− Ta biết, − Ông nói và chỉ những người da đen của mình, − Rằng những người này nhất định sẽ chết, nhưng khi nào họ còn chưa chết, ta không đành lòng để họ bị lũ linh cẩu xé xác lúc đang sống, bọn này hiện đang bị lửa giữ cho phải ở xa xa về ban đêm.


Rồi ông nóng nảy lặp đi lặp lại:


− Ta không thể, không thể, không thể!


Nhưng lát sau ông bình tĩnh lại và nói bằng giọng vô cùng xúc động:


− Sáng mai, cháu hãy đến đây... Bác có một yêu cầu cuối đối với cháu. Nếu như cháu hoàn thành được cho bác thì biết đâu Chúa chẳng đưa các cháu thoát khỏi cái vực thẳm châu Phi này, còn bác thì sẽ được chết thanh thản hơn. Bác muốn để đến mai hãy nói điều này, nhưng vì có thể sáng mai bác không tỉnh, nên bác nói hôm nay: Hãy múc nước vào một cái bình nào đấy, rồi cháu hãy dừng lại bên từng người đáng thương đang ngủ kia, vẩy nước và nói những lời này: “Ta rửa tội cho người, nhân danh Cha, và Con, và Đức Chúa thánh thần!...”


Nói đến đây, sự xúc động khiến ông nghẹn ngào, ông ngừng lời.


− Bác cứ tự trách mình, − Một lát sau ông nói tiếp, − Rằng đã không vĩnh biệt được như thế với những người bị chết vì bệnh đậu mùa, và những kẻ đã thiếp đi vĩnh viễn trước đây. Nhưng giờ đây cái chết đang ở trước mặt bác... Bác muốn rằng... ít nhất thì những người còn lại trong đoàn của bác sẽ được cùng đi vào chuyến đi vĩnh hằng cuối cùng kia...


Và ông chỉ tay lên bầu trời rực nắng, hai giọt lệ to lớn chầm chậm lăn trên gò má ông.


Staś  òa lên khóc nức nở.


 


Chương 34


Mặt trời buổi sáng hôm sau soi sáng một cảnh tượng kì lạ. Staś  đi dọc theo vách đá, dừng lại trước từng người da đen, vẩy nước lên trán họ và đọc lời kinh cầu nguyện cho họ. Còn họ vẫn cứ ngủ say, tay chân co giật, đầu rũ xuống ngực hay ngước lên trời, hãy còn sống đấy mà trông đã giống như những xác chết rồi. Và cứ thế, trong ánh mặt trời, trong sự thanh bình ban mai, trong cái câm lặng của sa mạc, lễ rửa tội cho những người đang ngủ diễn ra như thế đó. Ngày hôm đó trời không mây, thanh cao, màu xanh xám cũng sầu thương.


Ông Linđe hãy còn tỉnh táo, nhưng mỗi lúc một yếu hơn. Sau khi thay băng, ông giao lại cho Staś  các thứ giấy tờ đựng trong hộp sắt tây, ủy nhiệm cho em bảo quản và không nói gì thêm. Ông không thể ăn được nữa, nhưng cái khát giày vò ông kinh khủng. Trước khi mặt trời lặn, ông bắt đầu mê sảng. Ông gọi tên những đứa trẻ nào đó, bảo chúng đừng bơi quá xa ra giữa hồ, cuối cùng ông run giật người lên từng cơn và đưa hai tay ôm lấy đầu.


Hôm sau nữa, ông hoàn toàn không nhận ra Staś , và ba ngày sau đó ông qua đời vào chính ngọ, không hề tỉnh lại lần nào. Staś  chân thành thương khóc ông, rồi cùng với Kali, cả hai mang ông tới một cái hang hẹp lòng gần đấy, lấy đá và gai góc bịt kín cửa hang.


Staś  mang cậu bé Nasibu về “Cracốp”, bảo Kali ở lại chỗ đó canh giữ đồ đạc và ban đêm đốt lửa thật to bên cạnh những người đang ngủ. Còn em cứ đi về liên tục giữa hai khe núi, chuyên chở các thứ túi đồ, vũ khí, đặc biệt là đạn cho những khẩu súng rêmingtơn để tháo lấy thuốc súng làm mìn phá tảng đá đang bịt đường ra của King. May mắn thay, sau những liều thuốc kí ninh dùng hàng ngày, sức khỏe của Nel được cải thiện rõ rệt, và đủ loại thức ăn khiến cô bé mạnh lên. Tuy nhiên, lần nào rời Nel, Staś  cũng không muốn vì lo ngại, và trước khi ra đi em cấm cô bé không được ra khỏi cây, lấy xiêm gai bịt kín lỗ cửa ra vào. Song do hàng núi công việc đang đè lên vai, em phải để Nel lại cho Mêa trông nom cùng với Nasibu và Saba, mà thực ra, em trông cậy nhiều nhất vào con Saba. Em thà đi hàng chục lần trong ngày sang trại ông Linđe để lấy đồ đạc hơn là để cô bé phải ở một mình quá lâu. Em làm việc kinh người, nhưng sức khỏe sắt thép của em chịu đựng được hết mọi nỗi khó nhọc. Tuy vậy, mãi mươi ngày sau, các bọc đồ mới được chia làm hai trọn vẹn, những thứ ít cần thiết hơn được chôn giấu trong các hang núi, những thức cần thiết hơn được mang về “Cracốp”, lũ ngựa cũng được đem về mũi đất, trên lưng ngựa là phần lớn những khẩu súng rêmingtơn mà con King sẽ phải chở đi theo.


Trong thời gian đó, ở trại của ông Linđe, thỉnh thoảng lại có một người nào đó trong số những người đang ngủ, trong cơn mê cuồng trước khi chết, vùng dậy chạy trốn vào rừng và không quay trở lại nữa. Cũng có những kẻ chết ngay tại chỗ, một số người khác thì bị đập đầu vào đá chết ngay trong trại hoặc ở gần đó vì chạy trong khi đang ngủ. Những người này được Kali chôn cất. Sau hai tuần, chỉ còn lại có mỗi một người, nhưng người này cũng đã chết ngay trong khi ngủ do kiệt sức.


Mãi rồi cũng tới lúc phá tung khối đá để giải phóng cho King. Nó đã thuần đến nỗi theo lệnh của Staś , nó dùng vòi túm lấy em đặt lên đầu. Nó cũng đã quen với việc chuyên chở những thứ đồ nặng mà Kali kéo theo các thang tre chất lên lưng nó. Nel thì nhất mực bảo rằng bọn trẻ bắt nó mang nặng quá, nhưng thực ra tất cả những thứ đó đối với nó chỉ nhẹ như một con ruồi, và chỉ tới khi có những bọc đồ đạc của ông Linđe nó mới thật sự chở đủ nặng. Nó cũng đã kết thân với con Saba (ban đầu cứ trông thấy con chó là nó lại mất bình tĩnh) và đã đùa nghịch với con chó bằng cách dùng vòi lật lật con chó trên mặt đất, còn Saba thì giả vờ cắn cái vòi. Thỉnh thoảng, nó bất thần phun nước vào con chó khiến Saba cho rằng đó là một thứ đùa nghịch rất khó chịu.


Bọn trẻ sung sướng nhất bởi con vật thông minh và biết suy nghĩ hầu như hiểu được tất cả những gì mà chúng yêu cầu nó, nó không những chỉ hiểu mọi mệnh lệnh, mọi sự đòi hỏi mà thậm chí cả từng cử chỉ nữa. Về phương diện này thì lũ voi vượt xa mọi thứ thú nuôi khác, còn con King thì vượt hẳn con chó Saba, con này chỉ biết ve vẩy đuôi khi nghe những lời cảnh cáo của Nel, rồi sau đó nó lại làm mọi thứ theo ý mình.


Sau vài tuần lễ, King hiểu được rất rõ rằng người cần phải vâng lời nhất là Staś , người mà mọi người chăm lo nhất là Nel. Vì thế, nó thực hiện nghiêm túc tất cả những mệnh lệnh của Staś , nhưng lại yêu mến Nel hơn cả. Với Kali thì nó cầm chừng, còn Mêa thì nó hoàn toàn bỏ qua.


Sau khi làm xong bộc phá, Staś  nhét thật sâu vào khe hở, sau đó dùng đất sét bịt kín hết, chỉ để lại một lỗ nhỏ cho cái ngòi bện bằng sợi cỏ khô trộn với thuốc súng. Giờ phút quyết định đã điểm: Staś  tự tay châm sợi dây đã trộn với thuốc súng, rồi cắm đầu chạy thục mạng đến cái cây mà trước đó nó đã bắt tất cả mọi người phải nấp vào. Nel lo rằng con King sẽ hoảng sợ quá chăng, nhưng cậu bé nói cho cô bé yên tâm rằng đã chọn ngày mà đêm trước có mưa dông sấm chớp ầm ầm, hai nữa, nó cam đoan rằng giống voi hoang dã đã từng nghe nhiều tiếng sấm gầm còn khủng khiếp hơn, khi trời ra oai trổ tài với rừng rú. Tuy vậy, bọn trẻ vẫn ngồi lo lắng, tim đập gấp gáp, tính từng phút một. Một tiếng nổ khủng khiếp rung động cả bầu không khí, mạnh đến nỗi cây bao báp rung chuyển toàn thân, từ gốc đến ngọn, những lớp gỗ mục ruỗng chưa kịp lấy đi hết đổ ụp xuống đầu cả bọn. Staś  nhảy vọt ra ngay khỏi cây, và vượt qua những khúc ngoặt của khe núi, nó lao thẳng tới chỗ họng khe.


Kết quả vụ nổ thật mĩ mãn. Một nửa khối đá vôi vỡ nát thành từng mảnh vụn, nửa kia vỡ ra thành nhiều khối lớn và nhỏ, những mảnh này bị sức nổ ném vung đi khá xa.


Voi đã được giải phóng!


Cậu bé sung sướng nhảy lên bờ khe núi, gặp Nel, Kali và Mêa ở đó. Con King hơi hoảng, lùi sát tận bờ khe, đứng giơ vòi về phía phát ra tiếng sấm khác thường nọ. Tuy nhiên, khi Nel bắt đầu gọi nó, nó liền thôi vẫy tai, và khi cô bé đi qua chỗ thông vừa bị phá thủng để đến với nó, nó hoàn toàn bình tĩnh lại. Còn lũ ngựa thì hoảng sợ hơn King, hai con dông tuốt vào rừng, Kali phải tìm mãi cho đến lúc mặt trời gần tối mới thấy chúng.


Ngay trong ngày hôm đó, Nel đưa King “ra với đời”.


Con vật khổng lồ đi theo sau cô bé ngoan ngoãn như một chú cún con, sau đó, nó tắm gội dưới sông và tự lo lấy bữa chiều cho mình bằng cách tựa đầu vào một cây sung Ai Cập to tướng, nó bẻ cây này gãy nhẹ nhàng như một cây lau nhỏ, rồi sau đó xơi hết cả quả cùng lá cây.


Song đến tối nó bước đến gần cây bao báp và chốc chốc lại thò cái vòi linh động của nó qua lỗ cửa vào tìm Nel một cách nóng nảy và quấy đến nỗi rốt cuộc Staś  phải phát cho nó một cái rõ đau vào đầu vòi.


Người sung sướng nhất vì những kết quả của ngày hôm đó lại là Kali vì nó thoát khỏi công việc kiếm thức ăn cho con vật khổng lồ, và đó hoàn toàn không phải là một việc dễ dàng. Vì vậy Staś  và Nel nghe thấy tiếng nó hát một bài ca mới đầy sung sướng trong khi đang nhen lửa làm bữa tối, bài ca gồm những lời sau:


− Ông lớn giết người và sư tử! Yah, yah! Ông lớn phá vỡ tảng đá, yah! Voi tự bẻ cái cây, còn Kali chỉ ngồi chơi và đánh chén. Yah, yah!


Mùa mưa − hay mùa masica như người ta gọi − đã gần kết thúc. Hãy còn những ngày trời mưa và đầy mây, nhưng đã có cả những ngày hoàn toàn hửng nắng. Staś  quyết định chuyển sang ngọn núi mà ông Linđe đã chỉ và em thực hiện ý định này ngay sau khi giải phóng cho King. Sức khỏe của Nel không còn đáng lo lắm nữa, cô bé đã cảm thấy mạnh hơn nhiều.


Thế là, chọn được một buổi sáng đẹp trời, bọn trẻ lên đường đi về phía nam. Chúng không còn sợ bị lạc đường nữa, vì trong số rất nhiều thứ đồ đạc mà cậu bé được thừa hưởng của ông Linđe, có một cái la bàn và một cái ống nhòm rất tốt, dùng nó có thể nhìn rõ những vùng xa. Cùng đi với bọn trẻ, ngoài Saba và con lừa còn có năm con ngựa thồ hàng và con voi. Trừ những gùi hàng ra, con vật còn chở trên đầu cô bé Nel, cô bé ngồi giữa hai cái tai khổng lồ của nó nom cứ như ngồi trong một chiếc ghế bành vậy. Staś  rời bỏ không hề tiếc mũi đất bên sông và cây bao báp, vì chúng gắn liền với những hồi ức về bệnh của Nel. Ngược lại, cô bé lại buồn bã ngắm nhìn những tảng đá, cái cây, thác nước và nói rằng sẽ còn quay trở lại nơi đây khi nào “to” hơn.


Tuy nhiên, cậu bé Nasibu còn buồn bã hơn nhiều, cậu bé yêu mến chân thành ông chủ trước đây của cậu, và giờ đây, cưỡi trên mình lừa đi cuối đoàn, cứ chốc chốc cậu bé lại đưa cặp mắt đẫm lệ trông về phía mà ông Linđe tội nghiệp phải ở lại cho đến Ngày Phán Xét vĩ đại.


Gió thổi từ phương bắc và ngày hôm ấy mát mẻ lạ lùng.


Vì thế bọn trẻ không cần phải chờ cho qua buổi giữa mười giờ trưa tới ba giờ chiều − cho qua cơn nóng nhất − mà có thể đi được nhiều đường đất hơn so với những đoàn khách thương khác. Con đường cũng không dài lắm, và mấy tiếng đồng hồ trước khi mặt trời lặn, Staś  đã trông thấy ngọn núi mà chúng đang hướng tới. Phía xa xa, một dãy các đỉnh núi khác nổi lên trên nền trời, còn ngọn núi này thì đứng riêng biệt và gần hơn, giống như một hòn đảo giữa rừng. Khi bọn trẻ đến gần hơn thì té ra là những sườn dốc đứng của núi bị bao bọc bởi một khúc quanh của chính con sông mà trước đó chúng đã dừng chân trên bờ. Đỉnh núi trông như bị chặt ngang, hoàn toàn bằng phẳng, và nhìn từ phía dưới thì hình như nó được bao phủ bởi cả một khu rừng rậm. Staś  ước tính rằng, nếu như mũi đất có cây bao báp của chúng nằm cao bảy trăm mét trên mực nước biển, còn ngọn núi này cao tám trăm mét, thì chúng sẽ được ở trên độ cao một nghìn năm trăm mét, nghĩa là chắc khí hậu sẽ không nóng hơn bao nhiêu so với Ai Cập. ý nghĩa này khiến em thêm phấn chấn và muốn mau chóng chiếm lĩnh cái pháo đài thiên nhiên ấy.


Bọn trẻ dễ dàng tìm ra cái sống đá duy nhất dẫn lên đến đỉnh, và bắt đầu theo đó leo lên. Sau một tiếng rưỡi đồng hồ, chúng đã đứng trên đỉnh núi. Khu rừng mà chúng trông thấy từ dưới chân núi quả thực là rừng, nhưng lại là rừng chuối. Cảnh tượng đó khiến cho cả bọn − kể cả con King − đều vui sướng, mà người vui sướng nhất là Staś , vì em biết rằng ở châu Phi không có thứ thực phẩm nào bổ, lành, mà lại có khả năng ngừa bệnh tốt hơn bột chuối khô. Mà chuối thì bạt ngàn, ít nhất cũng đủ dùng cho chúng cả năm.


Giữa những phiến lá chuối to bản ẩn kín những túp lều của người da đen, một số bị cháy trong cuộc tấn công ăn cướp, một số đã sụp đổ, nhưng số khác vẫn còn nguyên vẹn. ở giữa làng là ngôi nhà lớn nhất, ngày trước là nhà của Chúa làng được đắp rất đẹp bằng đất sét với cái mái rộng làm thành một hàng hiên xung quanh tường. Trước những túp lều, đây đó rải rác những chiếc xương hoặc những bộ xương người trắng như phấn vì đã được lũ kiến làm cho sạch bóng, lũ kiến mà ông Linđe đã nhắc tới. Từ lúc đó đến nay đã nhiều tuần lễ trôi qua, nhưng trong lều vẫn còn thoáng ngửi thấy mùi hăng của kiến, và trong lều không sao tìm ra nổi lấy một con gián to màu đen nào vẫn thường có rất nhiều trong những túp lều của người da đen, không có một con nhện, một con bò cạp hay một loài sâu bọ nào dù bé nhỏ đến đâu chăng nữa. Những con kiến siaphu kinh khủng đã quét sạch sành sanh các giống vật đó. Cũng có thể tin chắc rằng, trên toàn bộ đỉnh núi không còn một con rắn nào, vì thậm chí cả loài trăn cũng trở thành nạn nhân của các chiến sĩ tuy nhỏ bé nhưng không gì cản nổi kia.


Sau khi đưa Nel và Mêa vào lều của Chúa làng, Staś  ra lệnh cho Kali và Nasibu dọn sạch hài cốt người. Bọn trẻ da đen thực hiện mệnh lệnh đó bằng cách quẳng hết xương xuống sông, dòng sông mang những hài cốt đó đi xa hơn. Trong khi làm công việc đó, chúng nhận thấy rằng ông Linđe đã nhầm khi cam đoan rằng chúng sẽ không gặp trên núi một mạng sống nào. Sự tĩnh mịch bao trùm sau khi bọn phiến loạn đem hết người đi và những cây chuối đã thu hút về đây những đàn tinh tinh đông đảo, chúng dựng lên trên các cây cao những chiếc ô hay những mái nhỏ che mưa. Staś  không muốn giết chúng nhưng muốn xua đuổi chúng đi nơi khác, và thế là em bắn chỉ thiên. Tiếng nổ gây nên một cảnh hỗn loạn chung, cảnh đó càng trở nên hỗn loạn hơn khi tiếng súng được kèm thêm tiếng sủa giọng trầm của con Saba và nhất là khi King − bị tiếng ồn ào kích động − rống lên vang động. Nhưng bọn tinh tinh để tháo lui không cần phải tìm đến cái gờ đá mà chỉ cần bám lấy những khe đá cũng tuồn được xuống tận sông và những cây cối mọc ven sông, nhanh đến nỗi răng con Saba không kịp chạm tới một con nào cả.


Mặt trời đã lặn. Kali và Nasibu nhóm lên một đống lửa để làm bữa tối. Sau khi dỡ những thứ đồ đạc cần thiết cho buổi tối, Staś  cũng bước vào nhà của viên chúa làng, nơi Nel đang ở.


Trong nhà sáng sủa và vui vẻ, vì Mêa đã đốt lên không phải ngọn đèn từng soi sáng lòng cây bao báp mà là cây đèn dầu hỏa to tướng dùng khi đi đường được thừa hưởng của ông Linđe. Nel không cảm thấy mệt nhọc gì sau một ngày đi đường mát mẻ và đang rất vui, nhất là khi Staś  thông báo với cô bé rằng những xương người làm cô sợ đã được dọn sạch.


− Ở đây tốt quá, anh Staś  ạ! − Cô bé reo lên − Anh nhìn này, thậm chí đến nền nhà cũng được rải nhựa cây. Chúng mình ở đây sẽ rất tuyệt.


− Sáng mai anh mới đi xem xét kĩ toàn bộ khu vực. − Staś  đáp. − Nhưng chỉ qua những thứ mà anh thấy hôm nay, thì có thể nói là sinh sống ở đây cả đời được.


− Giá như có cha chúng ta thì có thể sống cả đời cũng được. Nhưng cái trang ấp này của chúng ta sẽ gọi tên là gì, anh?


− Trong địa lí, ngọn núi này sẽ mang tên là Núi Linđe, còn cái làng này cứ để mang tên em: Nel!


− Thế là cả em cũng được ghi vào địa lí hả anh? − Cô bé vô cùng sung sướng hỏi lại.


− Em sẽ được ghi, chắc chắn như vậy! − Staś  nghiêm trang đáp lại.


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz – Nobel văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info


 








[1]  Gần đây, người ta tin chắc rằng, bệnh ngủ này do giống ruồi tsetse gây ra khi đốt người (chính giống ruồi tsetse gây cái chết cho đại gia súc). tuy nhiên, bệnh ngủ chỉ lan tràn trong một số vùng mà thôi. vào thời khởi nghĩa Mahơđi, nguyên nhân của bệnh này chưa được biết (Chú thích của tác giả). 




[2]  Bệnh hoại thư do thiếu vitamin.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »