tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21091302
Tiểu thuyết
13.11.2017
Henryk Sienkiewicz
Trên sa mạc và trong rừng thẳm

Chương 35


Ngày hôm sau, mưa rơi chút ít nhưng cũng có những giờ quang đãng, nên ngay từ sáng sớm Staś  đã đi thăm thú trang ấp, và cho tới trưa, em đã xem xét kĩ lưỡng tất cả mọi nơi. Nói chung, kết quả tham quan thật tuyệt diệu. Trước nhất, về phương diện an toàn, núi Linđe dường như là chỗ có một không hai trong toàn bộ Phi châu. Các sườn núi thì họa may chỉ có loài vượn là leo lên nổi. Cả sư tử lẫn báo đều không thể trèo lên đỉnh theo các sườn núi được. Còn nếu nói về các sống đá thì chỉ cần bố trí cho con King nằm cạnh lối vào là có thể ngủ yên giấc. Staś  đi đến kết luận rằng, tại đây em có thể chống lại ngay cả những đơn vị tương đối nhỏ của bọn phiến loạn, vì con đường lên núi hẹp đến nỗi con King chỉ vừa đi lọt, và một người được trang bị khí giới tốt có thể ngăn không cho một kẻ nào lọt qua mà còn sống sót. ở giữa “đảo” có một nguồn suối nước mát, sạch như pha lê, nguồn này chảy thành dòng suối chảy len lỏi giữa các lùm chuối rồi đổ từ trên cao xuống sông, tạo nên một cái thác mảnh, tựa như một dải vải bằng bạc. Về phía nam của “đảo” là những cánh đồng sắn tốt tươi, củ sắn cung cấp cho người da đen thứ lương thực ngon lành, còn phía bên kia cánh đồng vút lên những khóm dừa thật cao, có ngọn trông giống như những ngù lông tuyệt đẹp.


“Hòn đảo” được cả một biển rừng vây quanh, từ đây có thể nhìn được rất xa. Về phía đông xám mờ là rặng núi Caramôiô. Phía nam cũng có những vùng cao, trên đó nổi bật lên màu sẫm, hẳn là đất ở đó có rừng bao phủ. Ngược lại, về phía tây tầm mắt chạy thẳng tới đường chân trời, nơi rừng tiếp giáp với bầu trời. Nhờ cái ống nhòm của ông Linđe, Staś  trông thấy có rất nhiều khe núi và những cây gỗ to lớn mọc rải rác, giống như những cái nhà thờ nhô lên trên thảm cỏ. Tại những nơi cỏ không lên tốt lắm, ngay cả mắt thường cũng có thể trông thấy những đàn linh dương và ngựa vằn, hay hàng đàn voi và trâu. Đôi nơi, bọn hươu cao cổ đang nhấp nhô trên bề mặt màu xanh xám của rừng, giống như những con tàu đang rẽ sóng biển. Ngay sát bên sông, một nhóm mươi con dê nước đang đùa nghịch, những con khác chốc chốc lại nhô cái đầu mọc sừng từ dưới nước lên. Còn nơi nước lặng, cứ chốc chốc những con cá mà Kali thường câu được lại nhảy vọt lên, loáng qua như một ngôi sao bằng bạc trong không khí rồi lại rơi vào làn nước. Staś  tự nhủ, khi nào trời đẹp, sẽ đưa Nel tới đây để chỉ cho em thấy cái vườn thú này.


Ngược lại, trên cả “hòn đảo” không hề có những con thú lớn, thay vào đó là hằng hà sa số chim và bướm. Những con vẹt to tướng, trắng như tuyết, có cái mỏ đen tuyền và chỏm đầu vàng, bay trên những khóm cây, những con chim mái nhỏ bé, màu lông tuyệt vời lắc lư trên những cành sắn mảnh mai, ẩn hiện và lóng lánh như những đồ trang sức; từ những hàng dừa cao vút vọng về tiếng những chàng chim cu Phi châu và tiếng chim tu huýt hiền dịu, nghe giống như tiếng than thầm.


Staś  quay về sau chuyến đi tham quan, lòng đầy sung sướng: “Không khí trong lành.” − Em tự nhủ. − “Hoàn toàn yên ổn, thực phẩm đầy đủ, và tươi đẹp như thiên đường!” Quay về lều của Nel, em lại thấy rằng, tuy thế trên “hòn đảo” này cũng vẫn có những loài thú to, thậm chí là hai con liền, vì cậu bé Nasibu phát hiện ra có một con dê cái và một chú dê con trong lùm chuối, hẳn là bọn phiến loạn không kịp cướp đi nốt. Con dê mẹ đã hơi trở thành hoang dã, nhưng chú dê con lập tức quen ngay với Nasibu, cậu bé rất tự hào về điều phát hiện của mình, vì rằng, nhờ đó, hàng ngày cô bé sẽ có một thứ sữa tươi ngon tuyệt.


...


− Bây giờ chúng mình sẽ làm gì, anh Staś ? − Một hôm Nel hỏi, sau khi bọn trẻ đã “làm chủ” tương đối hoàn hảo trên “hòn đảo”.


− Nhiều việc lắm, − Cậu bé đáp, rồi xòe những ngón tay ra, em bắt đầu tính toán những công việc phải làm đang đợi chúng:


− Trước hết, Kali và Mêa là những người ngoại đạo, còn Nasibu, vốn là người Danđiba nên theo đạo Hồi. Cần phải khai sáng, giáo dục và rửa tội cho cả ba. Thứ hai, cần phải sấy thịt khô chuẩn bị cho chuyến đi, nghĩa là anh sẽ phải đi săn; thứ ba, khi đã có được nhiều súng và đạn, anh muốn dạy cho Kali tập bắn, để cả hai đứa có thể tự vệ; và thứ tư, có lẽ em đã quên mất chuyện những chiếc diều rồi thì phải?


− Diều à?


− Phải, em sẽ dán diều, hoặc tốt hơn, là hãy khâu diều. Đó là công việc của em.


− Nhưng em không muốn chơi không.


− Đó hoàn toàn không phải là trò chơi, mà là công việc, thậm chí có thể là việc làm có ích nhất trong tất cả các việc. Em cũng đừng có nghĩ làm một cái diều là xong đâu, em sẽ phải làm năm mươi cái hay hơn nữa cơ đấy.


− Làm gì lắm thế anh? − Cô bé tò mò hỏi lại.


Thế là Staś  bắt đầu hé cho cô bé những dự kiến và hi vọng của mình. Trên mỗi chiếc diều chúng sẽ ghi lên: Họ tên chúng là gì, chúng đã thoát khỏi tay bọn phiến loạn ra sao, hiện giờ đang ở đâu và định đi đâu. Chúng sẽ viết rằng chúng cần được giúp và yêu cầu gửi điện báo đến Port Said. Rồi chúng sẽ thả những con diều đó lên, khi nào gió thổi từ phía tây sang phía đông.


− Nhiều chiếc, − Cậu bé nói, − Sẽ rơi xuống cách đây không xa, nhiều chiếc sẽ bị vướng núi, nhưng chỉ cần một chiếc bay tới bờ biển và lọt vào tay người Âu châu là đủ, khi đó chúng mình sẽ được cứu sống.


Nel rất thích thú với ý định ấy, cô bé nói ngay rằng ngay cả King cũng không thể nào sánh nổi với Staś  về sự thông minh. Cô bé thậm chí còn tin chắc rằng nhiều cái trong số diều đó sẽ bay tới tận tay cha, và cô hứa sẽ dán diều từ sáng sớm đến tối mịt. Niềm vui của cô bé lớn đến nỗi Staś  lo rằng cô bé lên cơn ấm đầu nên phải hãm bớt nhiệt tình của cô bé lại.


Kể từ đó, những công việc mà Staś  nêu đều được bắt đầu một cách tốt đẹp. Kali được giao nhiệm vụ bắt thật nhiều cá nhảy, nó đã thôi không dùng cần câu nữa mà lấy tre làm thành một cái đăng đặt ngang dòng sông, ở giữa đăng có một cái lỗ to mà lũ cá bắt buộc phải chui qua nếu muốn vượt ra khỏi vùng nước đó. Kali dùng một chiếc lưới chắc bện bằng sợi dây dừa mắc vào cái lỗ này, thế là bằng cách ấy nó đảm bảo hôm nào cũng đánh được nhiều cá.


Để dồn cá vào cái lưới tinh khôn nọ, nó dùng con King: Nó dắt voi xuống nước, sục nước và quẫy cho ầm lên đến nỗi không chỉ riêng những chàng cá bạc hay nhảy, mà tất cả mọi loài sinh vật khác cũng phải cố sức thoát ra khỏi vùng nước bị quấy đục. Tuy nhiên chuyện đó nhiều khi cũng mang lại hậu quả tai hại, ví đôi lần, những con cá sấu chạy trốn làm đăng bị đổ, đôi khi chính con King gây ra chuyện đó, vì hình như nó vốn nuôi sẵn một mối thù bẩm sinh nào đó với bọn cá sấu, nên luôn luôn săn đuổi chúng, và khi chúng dạt lên cạn, nó dùng vòi túm lấy chúng, vứt lên bờ rồi giẫm đạp điên cuồng.


Vào lưới cũng thường có cả những chú rùa, và những vị khách lưu đày trẻ tuổi của chúng ta nấu thịt rùa thành những món xúp ngon lành. Kali làm cá, thịt chúng thường được phơi nắng, còn bong bóng thì nó đem về cho Nel, cô bé phanh chúng ra, căng trên tấm gỗ và biến chúng thành một phần tư tờ giấy, to bằng hai lòng bàn tay.


Staś  và Mêa giúp đỡ thêm cô bé trong công việc ấy, vì thực ra đó là công việc hoàn toàn không dễ dàng chút nào. Màng bong bóng dày hơn nhiều so với bóng cá sông của ta, nhưng sau khi phơi khô thì lại trở nên rất giòn. Mãi sau một thời gian, Staś  mới phát hiện ra rằng cần phải phơi chúng trong bóng râm. Tuy nhiên, đôi khi em mất kiên trì, và nếu em không chịu bỏ ý định làm diều bằng bóng cá thì chỉ vì em biết là loại vật liệu này nhẹ hơn giấy và chịu mưa tốt hơn nhiều. Thực ra mùa khô cũng đang đến gần, nhưng em không biết chắc liệu về mùa hạ có mưa hay không, nhất là ở vùng núi.


Tuy vậy, em cũng dán cả những cái diều bằng giấy (em tìm thấy khá nhiều giấy trong số những thứ đồ đạc của ông Linđe). Cái diều đầu tiên, to và nhẹ, được thả lên theo gió tây, đã vọt lên rất cao, và khi Staś  cắt đứt dây, nó bị một luồng không khí rất mạnh mang đi về phía rặng núi Caramôiô. Staś  dùng ống nhòm dõi theo đường bay của nó cho tới khi nó chỉ còn nhỏ như một cánh bướm, như một con ruồi, rồi chìm hẳn vào màu xanh nhạt của nền trời. Ngày hôm sau em lại thả một cái khác, được làm bằng bong bóng cá, chiếc này còn lên nhanh hơn, nhưng cũng nhanh biến mất khỏi tầm mắt hơn, có lẽ là do bong bóng cá trong suốt.


Nel lao động vô cùng nhiệt tình, kết cục là những ngón tay của cô bé trở nên khéo léo đến nỗi Staś  lẫn Mêa cũng không sao theo kịp cô bé trong công việc này. Giờ đây thì cô bé không thiếu sức lực nữa. Khí hậu tốt lành của núi Linđe quả thực đã hồi sinh hoàn toàn cho cô bé. Thời hạn của cơn sốt thứ ba − cơn sốt chết người − trôi qua đã lâu. Ngày hôm ấy, Staś  ẩn người trong đám chuối và khóc lên vì sung sướng. Sau hai tuần ở trên núi em nhận thấy rằng, cô Mdimu Tốt trông khác hoàn toàn so với lúc ở trong rừng dưới kia. Hai má cô bé đầy lên, màu da từ sắc vàng ệch và trong suốt lại chuyển sang màu hồng phơn phớt, đôi mắt tràn đầy ánh sáng long lanh nhìn ra cuộc đời dưới mái tóc rậm. Cậu bé thầm cảm ơn những đêm mát mẻ, cảm ơn nước nguồn trong vắt và bột chuối khô, nhưng trước hết là cầu nguyện cho ông Linđe.


Còn chính Staś  thì gầy đi và đen hơn. Điều đó chứng tỏ bệnh sốt rét không chạm tới em, vì những người mắc bệnh này không bị rám nắng, em lớn lên và rắn rỏi hơn. Cử động và sự lao động chân tay đã khiến cho lòng can đảm và sức mạnh của em được tăng cường. Bắp thịt tay của em trở nên rắn như thép. Đó quả thực là một nhà thám hiểm Phi châu trải nhiều thử thách. Do săn bắn hàng ngày và chỉ dùng đạn săn, nên em trở thành một xạ thủ vô địch. Em hoàn toàn không còn sợ các loài dã thú nữa, vì hiểu được rằng những “chàng” thợ săn lông xù hay lốm đốm trong rừng gặp em thì nguy hiểm hơn là em gặp bọn chúng. Một lần, chỉ bằng một phát đạn, em hạ ngay một con tê giác khổng lồ, con thú đang ngủ dưới cây xiêm gai tỉnh dậy bất ngờ lao vào húc em. Em cũng không ngán những đàn trâu rừng hăng máu của Phi châu, đã từng nhiều lần đánh bại cả những đoàn khách thương...


 


Chương 36


Staś  còn dạy cho Kali bắn súng trường Rêmingtơn, và môn học này được tiếp thu dễ dàng hơn là môn giáo lí. Sau mười ngày tập bắn bia và bắn những con cá sấu đang ngủ trên bãi cát ven sông, cậu bé da đen đã hạ được một con linh dương puphu, tiếp đó là mấy con linh dương arien, và cuối cùng là con lợn lòi nơriđi. Tuy nhiên cuộc chạm trán này suýt nữa cũng kết thúc bằng tai nạn như đã xảy ra với ông Linđe, vì con nơriđi mà Kali tiến đến gần một cách nhẹ dạ sau khi bắn bỗng nhiên bật dậy và lao thẳng vào nó, cái đuôi dựng ngược lên[1]. Ném vội khẩu súng, Kali leo ngay lên cây, và ngồi đó cho tới khi tiếng kêu thét của nó khiến Staś  chạy lại, nhưng em chỉ gặp con lợn đã chết. Staś  chưa cho phép cậu bé đi săn trâu rừng, sư tử và tê giác. Còn đối với lũ voi chiều chiều vẫn đến uống nước thì chính em cũng không bắn, vì em đã hứa với Nel là sẽ không bao giờ giết một con nào nữa.


Tuy nhiên, cứ sáng hoặc chiều chiều, khi nhìn qua ống nhòm từ đỉnh núi, trông thấy những đàn ngựa vằn, linh dương sừng móc, linh dương arien hoặc sơn dương, em đều dẫn Kali đi theo. Trong những cuộc đi đó em thường hỏi thằng bé về dân tộc Vahima và Xamburu, những người mà bọn trẻ chắc chắn sẽ phải gặp trên đường đi về phía đông, về phía đại dương.


− Kali, cậu có biết rằng, − Một lần nọ em hỏi, − Hai mươi ngày đường nữa, nếu đi ngựa thì còn nhanh hơn, chúng ta sẽ có thể về tới quê hương của cậu?


− Kali không biết người Vahima sống ở phương nào. − Cậu bé da đen đáp lại và buồn bã lắc đầu.


− Nhưng tớ biết, họ sinh sống ở phía mà sáng sáng mặt trời mọc, trên bờ một con nước lớn nào đó.


− Đúng rồi, đúng rồi! − Cậu bé da đen thốt lên kinh ngạc vừa mừng rỡ. − Bassa Narok! (Theo tiếng của dân tộc Kali có nghĩa là Con nước lớn màu đen) Ông lớn biết hết mọi thứ!


− Không đâu, vì tớ vẫn chưa biết dân Vahima sẽ tiếp đón chúng ta như thế nào, nếu như chúng ta gặp họ.


− Kali sẽ ra lệnh cho bọn họ phải cúi mặt xuống trước ông lớn và trước mặt Mdimu Tốt.


− Thế nếu họ không vâng lời cậu thì sao?


− Cha Kali được khoác da báo, và Kali cũng thế mà.


Staś  hiểu như thế có nghĩa là cha Kali là vua, còn thằng bé là con trưởng của ông và sẽ làm vị vua tương lai của người Vahima.


Em bèn hỏi tiếp:


− Cậu bảo rằng có những người khách thám hiểm da trắng từng đến quê hương cậu, và người già vẫn còn nhớ họ phải không?


− Vâng, Kali còn nghe nói rằng, họ mang trên đầu những vòng khăn to tướng.


“Ôi!” − Staś  nghĩ thầm. − “Như vậy, đó không phải là người Âu, mà chỉ là người Ả Rập thôi, vì nước da của họ sáng màu hơn cùng những bộ quần áo trắng của họ, nên người da đen tưởng họ là người da trắng.”


Song Kali không còn nhớ và không thể giải thích gì được rõ ràng hơn nữa, nên Staś  bèn đặt cho nó một câu hỏi khác:


− Người Vahima có giết ai trong số những người vận quần áo trắng ấy không?


− Không. Người Vahima cũng như người Xamburu không thể làm việc ấy đâu.


− Tại sao thế?


− Vì họ nói rằng, nếu như máu của họ ngấm vào đất thì mưa sẽ không rơi xuống nữa.


“Mình rất mừng là họ tin vào điều đó!” − Staś  nghĩ thầm. Rồi em hỏi tiếp:


− Liệu người Vahima có đi cùng chúng ta đến tận biển lớn hay không? Nếu như tớ hứa tặng cho họ nhiều lụa, chuỗi hạt cườm và nhiều súng ống?


− Kali sẽ đi, người Vahima cũng đi, nhưng trước tiên ông lớn phải đánh được người Xamburu đã, vì họ ở bên kia con nước.


− Tiếp sau người Xamburu là ai ở?


− Tiếp sau người Xamburu không có núi, chỉ có rừng, trong rừng toàn sư tử thôi.


Cuộc trò chuyện kết thúc ở đó. Giờ đây càng ngày Staś  càng hay nghĩ tới chuyến đi lớn sang phía đông, em nhớ những gì ông Linđe nói, rằng có thể gặp được những người Ả Rập vùng duyên hải chuyên buôn bán ngà voi, cũng như những đoàn truyền giáo. Em hiểu rằng, đối với Nel, chuyến đi này sẽ là một chuỗi ngày mệt nhọc và những nỗi nguy hiểm mới, nhưng em cũng hiểu rằng, chúng không thể ở lại núi Linđe cả cuộc đời được và cần phải lên đường trong thời gian tới. Giai đoạn sau mùa mưa, khi nước hãy còn bao phủ những vùng lầy đầy bệnh tật, khi khắp nơi hãy còn đang có nước là thời gian thích hợp nhất để lên đường. Trên những đỉnh cao, cái nóng chưa tác động mấy đến bọn trẻ, ban đêm thường lành lạnh khiến chúng phải đắp kín người. Nhưng trong rừng phía dưới vùng thấp kia nóng hơn nhiều, và chắc chắn sắp tới sẽ còn nóng nực hơn nữa. Hiện giờ mưa ít khi thấm đất, càng ngày mực nước sông càng xuống thấp. Staś  đoán rằng về mùa hè, con sông rất có thể sẽ trở thành một trong những khe cạn như những chiếc khe mà em đã gặp trên sa mạc Libi, những khe mà chỉ chính giữa lòng mới có một vệt nước nhỏ bé mà thôi.


Tuy vậy, em vẫn cứ hoãn chuyến đi từ ngày này sang ngày khác. Trên núi Linđe, mọi thứ mới dễ chịu làm sao, cả cho người lẫn cho súc vật! ở đây, không những Nel chỉ thanh toán hoàn toàn với bệnh sốt rét mà cả với chứng thiếu máu nữa, Staś  thì không còn thấy nhức đầu, còn da của Kali và Mêa thì bắt đầu bóng như xa−tanh đen. Nasibu trông cứ như một quả dưa bở di động trên cặp chân khẳng khiu, còn King thì xơi cỏ không kém gì lũ ngựa và lừa. Staś  biết rõ rằng giữa biển rừng mênh mông kia, cho đến cuối cuộc hành trình, cũng không thể tìm đâu ra một “hòn đảo” thứ hai như thế này nữa.


Và em lo ngại nhìn về tương lai, mặc dù bọn trẻ giờ đây đã có con King trợ sức đắc lực, thậm chí khi cần nó có thể còn là người bảo vệ tin cẩn.


Cứ thế, trước khi chúng kịp chuẩn bị lên đường, đã một tuần lễ trôi qua. Trong những giây phút rảnh rỗi không phải đóng gói đồ đạc, bọn trẻ vẫn không ngừng thả những chiếc diều mới với ghi chú rằng chúng sẽ đi về phía đông, về phía một cái hồ nào đó, về phía đại dương. Chúng tiếp tục thả thêm diều vì có một luồng gió mạnh, nhiều khi mạnh như bão thổi từ phía tây, gió cuốn những chiếc diều mang tít đi xa, về phía núi và sang bên kia núi. Để tránh cho Nel khỏi bị cháy nắng, Staś  lấy những mảnh lều còn lại làm một cái bành đặt trên lưng voi dành cho cô bé ngồi. Sau vài lần thử, con King đã quen với cái trọng lượng nhỏ nhoi ấy và cũng quen với việc buộc bành lên lưng nó bằng những sợi dây dừa rất chắc. Vả chăng, cái này cũng chỉ là một chiếc lông bên cạnh những thứ đồ khác mà nó sẽ phải chở, những thứ đồ mà Kali và Mêa phải phân bổ và gói buộc.


Cậu bé Nasibu được lệnh phải xay chuối khô và chà thành bột bằng cách dùng hai phiến đá phẳng. King giúp nó thêm trong việc rứt đứt những cuống buồng nặng; thêm vào đó là cả hai chén nhiều đến nỗi chẳng mấy chốc khu vực gần đó đã sạch nhẵn chuối, chúng phải đi tới những cánh đồng khác, nằm phía bên kia đỉnh núi. Saba, vốn không có việc gì làm, thường cùng đi với chúng trong những chuyến đi ấy.


Nhưng chút nữa thì cậu bé Nasibu phải trả giá cho sự năng nổ ấy bằng chính tính mạng của mình, hay ít ra, cũng bằng một cảnh nô lệ đặc biệt. Có lần, lúc đang lấy chuối trên một sườn đá dốc, nó bỗng trông thấy trong khe đá một bộ mặt gớm ghiếc, đầy lông đen, mắt chớp chớp nhìn vào nó, răng nanh trắng nhởn nhe ra dường như đang cười. Cậu bé kinh hoàng đứng sững như hóa đá, sau đó bắt đầu chạy thục mạng. Nhưng nó chỉ kịp chạy mươi bước chân thì một cánh tay lông lá xồm xoàm đã ôm quanh người nó, nhấc bổng lên cao và con quái vật đen như than bắt đầu bế nó lao xuống vực.


May thay, con đười ươi khổng lồ chỉ có thể chạy bằng hai chân và còn bế thằng bé, vì thế Saba đang ở gần đó kịp đuổi theo và cắm nanh vào lưng nó. Một cuộc chiến đấu kinh khủng diễn ra, trong đó, mặc dầu có vóc dáng to lớn và sức lực có thừa, con chó chắc chắn sẽ phải chết, vì giống đười ươi này thậm chí có thể thắng cả sư tử[2]. Nói chung loài khỉ không có thói quen buông những vật cướp được ra khỏi tay, cho dù tự do hay tính mạng chúng có thể bị đe dọa đi chăng nữa. Bị cắn từ sau lưng, con đười ươi không dễ dàng túm được Saba, tuy thế nó cũng đã dùng tay trái túm lấy cổ con chó, nhấc bổng nó lên cao, thì vừa lúc đó đất rung rinh dưới những bước chân nặng trịch − và King chạy tới.


Chỉ cần một cú đánh nhẹ bằng vòi là “con ma rừng” khủng khiếp − như người da đen thường mệnh danh cho bọn đười ươi − đã gục ngã xuống với cái sọ và gáy vỡ nát. Song để chắc chắn hơn, hoặc do tính nóng nảy bẩm sinh, King còn dùng ngà đóng đinh con vật xuống đất, rồi sau đó vẫn tiếp tục trả thù nó, cho đến khi Staś  cầm súng từ phía lều chạy tới, sau khi nghe thấy những tiếng kêu và tiếng rống khiến em không yên, và ra lệnh cho nó thì nó mới chịu thôi.


Con đười ươi đang nằm trong vũng máu, Saba liếm máu nó, máu cũng dây đỏ cả ngà của King. Đó quả là một con vật to lớn, mắt trợn ngược, răng nhe ra, dẫu đã chết rồi mà trông hãy còn khủng khiếp. Con voi rống lên những tiếng kêu khải hoàn, còn cậu bé Nasibu tái người đi vì sợ hãi thuật cho Staś  nghe chuyện vừa xảy ra. Staś  suy nghĩ xem có nên đưa Nel đến và chỉ cho cô bé xem con vật khủng khiếp này không, nhưng rồi cậu bé bỏ ý định đó đi, vì đột nhiên bản thân em cũng bị nỗi sợ hãi chế ngự.


Chính Nel cũng thường đi lang thang một mình trên cả “hòn đảo” nên cô bé cũng có thể gặp chuyện tương tự.


Hóa ra núi Linđe không phải là nơi ẩn náu hoàn toàn yên ổn như thoạt đầu bọn trẻ tưởng.


Staś  quay về căn lều và thuật lại cho Nel chuyện vừa xảy ra, cô bé lắng nghe, vừa tò mò vừa sợ hãi, mắt mở to, chốc chốc lại lặp đi lặp lại:


− Anh thấy chưa, thiếu con King thì đã xảy ra chuyện rồi!


− Đúng thật! Với một người bảo mẫu như thế này thì có thể không cần phải lo lắng cho đứa trẻ, cho nên tới khi nào chúng ta lên đường, em không được đi một bước nào nếu không có nó, nghe chưa?


− Thế bao giờ chúng mình đi, anh?


− Lương thực đã chuẩn bị xong, hàng hóa đã sắp xếp cả rồi, nghĩa là chỉ cần chất lên lưng súc vật nữa là chúng ta có thể lên đường ngay ngày mai cũng kịp.


− Về với ba!


− Nếu như Chúa cho phép! − Staś  đáp lại vẻ trang nghiêm.


 


Chương 37


Tuy vậy, cũng phải mấy ngày sau cuộc trò chuyện ấy bọn trẻ mới lên đường được. Chúng khởi hành vào sáu giờ sáng, cùng lúc với rạng đông, sau một lúc cầu nguyện, trong đó chúng thành khẩn cầu xin Đức Chúa. Staś  cưỡi ngựa dẫn đầu, chỉ có Saba là chạy phía trước nó. Sau Staś  là con King bước đi đĩnh đạc, tai ve vẩy, mang trên cái lưng đồ sộ của mình cái bành bằng vải, trong bành là Nel cùng với Mêa. Tiếp đó là lũ ngựa của ông Linđe bước thành một hàng, được nối với nhau bằng dây thừng làm bằng sợi dừa, chở các thứ đồ vật khác nhau, còn chú bé Nasibu đi cuối đoàn, cưỡi trên con lừa cũng đen như chú.


Vì đang buổi sáng sớm nên cái nóng bức chưa căng thẳng mấy, tuy ngày hôm ấy đẹp trời, và phía sau rặng núi Caramôiô mặt trời rực rỡ nhô lên, không bị một đám mây nào che cả. Hơi gió đông làm dịu bớt cái nóng của những tia mặt trời. Chốc chốc lại nổi lên một đợt gió khá mạnh khiến cho cỏ bị rạp xuống và cả rừng dậy sóng như biển. Sau những trận mưa to, mọi loài thảo mộc mọc lên xanh tốt nên ở những chỗ thấp, không những chỉ có lũ ngựa hoàn toàn ngập trong cỏ mà thậm chí cả con King nữa, khiến cho người ta chỉ có thể trông thấy cái bành màu trắng nhấp nhô trên đầu cỏ xanh non, di động lên phía trước như một con tàu trên mặt hồ. Sau một giờ đi đường trên một vùng hơi khô ráo nhô lên phía đông núi Linđe, bọn trẻ gặp những cây cúc gai khổng lồ[3], có thân to như cây gỗ, hoa lớn như đầu người. Trên một số sườn đồi mà trông xa cứ ngỡ đồi trọc, chúng thấy những cây hoa thạch thảo cao tới tám mét [4]. Những loài cây khác − ở châu Âu được xếp vào loại cây nhỏ bé nhất − thì ở đây cũng có tầm vóc sánh ngang với cây cúc gai hoặc thạch thảo, còn những cây thân gỗ đơn độc mọc trên cánh rừng thì trông cứ như những cái nhà thờ vậy. Đặc biệt là những cây họ sung, được gọi là Đarô, có những cành khi chạm vào đất liền biến thành những chiếc thân mới, lấn chiếm một khảng đất rộng lớn đến nỗi một cây như thế làm thành cả một lùm riêng biệt.


Trông xa, vùng này cứ như một khu rừng liên tục nhưng đến gần thì hóa ra những cây lớn mọc cách nhau, chừng mươi hay vài chục bước chân. Phía bắc chỉ thấy rất ít cây to, vùng đó mang đặc điểm thảo nguyên, núi được bao phủ bởi một khu rừng bằng phẳng, trên đó chỉ có những cây xiêm gai hình cái ô nhô lên mà thôi. Cỏ ở đó xanh thẫm hơn, thấp hơn và rõ ràng là thức ăn tốt hơn cho súc vật, vì Nel ngồi trên bành voi cũng như Staś  khi đi lên những gò cao đều trông thấy những đàn linh dương đông đảo mà chúng chưa từng trông thấy bao giờ. Đôi khi, chúng gặm cỏ riêng từng loại, đôi khi lại chen lẫn nhiều loại với nhau: Linh dương gơnu, puphu, arien, sơn dương, bò, linh dương sừng móc và những con cuđu to lớn. Không thiếu mặt cả ngựa vằn và hươu cao cổ. Trông thấy đoàn người, cả đàn ngừng ăn cỏ, ngẩng đầu và vểnh tai lên nhìn cái bành trắng, vẻ vô cùng kinh ngạc, rồi ù té chạy trong một chớp mắt. Nhưng chỉ chạy được vài trăm bước chân, chúng lại dừng lại, ngoảnh nhìn cái vật lạ lùng, rồi sau khi đã hết tò mò, chúng lại tiếp tục bình thản gặm cỏ. Thỉnh thoảng một con tê giác bật lên ngay trước gần đoàn người, trong tiếng động ầm ầm và dữ tợn, nhưng trái với bản chất nóng nảy và sẵn sàng tấn công tất cả những gì lọt vào mắt nó, nó chạy thục mạng khi trông thấy King, và chỉ có mệnh lệnh của Staś  mới khiến con voi dừng lại không đuổi theo.


Voi Phi châu căm thù tê giác, nếu như chúng tìm thấy dấu vết mới của con vật này, bao giờ cũng lấy hết sức lao theo cho tới khi tìm thấy đối thủ và đấu sức với nó. Trong những cuộc chiến đấu đó, kẻ thất bại bao giờ cũng là tê giác. Con King, hẳn là đã thuần và quen xem Staś  như người chỉ huy của mình, nên chỉ cần nghe tiếng cậu bé và nhận thấy cặp mắt nhìn nghiêm khắc của cậu là con voi vội hạ cái vòi đã giơ cao xuống, cụp tai lại và bước đi tiếp. Bản thân Staś  cũng muốn được trông thấy cuộc chiến đấu giữa hai con vật khổng lồ nọ, nhưng nó lo cho Nel. Nếu như con voi chạy nước đại, cái bành có thể đứt tung mất, hay tệ hơn, con vật khổng lồ có thể làm em vướng vào một cành cây nào đó, khi ấy mạng sống của Nel sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Qua những sách mô tả việc đi săn mà cậu được đọc hồi còn ở Port Said, Staś  được biết rằng những người săn hổ ở ấn Độ không sợ hổ bằng sợ voi vội vã hay mải săn đuổi làm bành vướng vào cây. Và cuối cùng nữa, bản thân cái nước đại của “chàng” khổng lồ này khó chịu đến nỗi không ai có thể chịu đựng được lâu mà không hại tới sức khỏe.


Tuy nhiên, mặt khác, sự có mặt của con King cũng xua đi nhiều nỗi nguy hiểm. Những con trâu rừng dữ tợn và hung hăng mà bọn trẻ gặp trong ngày hôm ấy, lúc chúng đang đi tới một cái hồ nhỏ, nơi các loài thú trong vùng tụ tập lại buổi chiều, cũng bỏ chạy khi trông thấy con voi, và vòng suốt bờ hồ để sang phía bên kia uống nước. Ban đêm, bị buộc một chân vào cây, King canh giữ cái lều mà Nel đang ngủ, đó là một người lính canh tin cậy đến nỗi tuy Staś  vẫn bảo đốt lửa, nhưng em coi việc vây hàng rào gai quanh trại là không cần thiết, mặc dù em biết rằng trong một vùng có những đoàn linh dương đông đúc như vậy sinh sống thì không thiếu mặt sư tử. Ngay trong đêm hôm ấy, mấy con sư tử gầm thét trong khóm cây cảm lảm to lớn mọc trên sườn núi[5]. Mặc dù có ánh lửa chiếu sáng, nhưng lũ sư tử − bị hấp dẫn bởi mùi ngựa vẫn tiến gần lại phía trại; song tới khi con King bị quấy rầy bởi tiếng rống của chúng, khi trong đêm thanh vắng đột nhiên vang lên như tiếng sấm động giọng “baritus” kinh khủng của nó [6] thì lũ sư tử liền câm bặt, hẳn là chúng hiểu rằng không nên cố tiếp xúc gần gũi hơn với loại “nhân vật” như thế làm chi! Bọn trẻ ngủ ngon trong phần còn lại của đêm và mãi đến sáng chúng mới lên đường đi tiếp.


Song đối với Staś  lại bắt đầu những lo lắng và suy nghĩ mới. Trước nhất em hiểu rằng cả đoàn đi rất chậm và không thể đi được quá mười cây số mỗi ngày. Theo tốc độ này thì đến một tháng cũng tới được biên giới Abixinia, nhưng vì Staś  đã quyết định là trong mọi chuyện sẽ hành động theo lời khuyên của ông Linđe, mà ông Linđe lại khẳng định một cách quả quyết rằng bọn trẻ không thể nào vượt sang Abixinia nổi, nên chỉ còn lại con đường đi đến đại dương mà thôi. Song theo tính toán của người Thụy Sĩ ấy thì chúng còn cách đại dương khoảng trên nghìn kilômét nữa − đó là tính theo đường chim bay, chứ thực ra thành phố Mombasa nằm lệch về phía nam còn xa hơn nữa − thế có nghĩa là cả cuộc hành trình phải kéo dài mất ba tháng.


Staś  lo sợ nghĩ rằng, đó là ba tháng trời khốn khổ, mệt nhọc và nguy hiểm về phương diện những bộ lạc da đen mà bọn trẻ có thể sẽ phải chạm trán. Chúng hiện vẫn đang đi trong vùng trắng đã bị dịch đậu mùa và tin tức về những chuyến tảo thanh của bọn phiến loạn khiến cho dân chúng bạt đi, nhưng nói chung châu Phi vốn đông người sinh sống, nên trước hay sau gì chúng cũng sẽ đi vào vùng có những bộ lạc xa lạ cư trú, những bộ lạc này thường bị thống trị bởi những vị tiểu vương hoang dã và độc ác. Thật không phải là một chuyện đơn giản để có thể giữ được mạng sống và tự do khi trải qua những cái lò lửa như vậy.


Staś  chỉ tính đơn giản rằng, nếu như bọn trẻ gặp trúng người Vahima thì chúng sẽ huấn luyện cho khoảng vài mươi chiến sĩ của dân tộc này biết bắn súng, rồi dùng những phần thưởng lớn hứa với họ để họ đồng ý tháp tùng hai đứa tới tận đại dương. Song Kali không hề biết những bộ lạc người Vahima hiện sinh sống nơi đâu, còn ông Linđe có nghe nói chút ít về họ nhưng cũng không thể chỉ đường đi đến với họ, cũng không chỉ được chính xác vùng họ đang cư trú.


Ông Linđe có nhắc đến một cái hồ lớn nào đó mà ông được nghe nói tới, Kali thì cam đoan rằng người Vahima sinh sống trên một bờ của cái hồ đó, được gọi tên là Bassa Narok, còn người Samburu thì sinh sống ở bờ hồ bên kia. Staś  lo ngại chính vì môn địa lí châu Phi mà em được dạy rất kĩ trong trường học ở Port Said không hề nói tới cái hồ có tên như thế. Giá như chỉ có mỗi mình thằng bé Kali nói với em về chuyện đó, thì hẳn là em sẽ cho rằng đó là hồ Victoria Nianza, nhưng về chuyện đó thì ông Linđe không thể nào nhầm lẫn được, vì chính ông đã từ hồ Victoria đi lên phía bắc, dọc theo rặng núi Caramôiô, và qua những tin tức thu thập được của thổ dân trong dãy núi này, ông đã đi đến kết luận rằng cái hồ bí ẩn nọ nằm xa hơn nữa về phía đông và phía bắc.


Staś  không biết nghĩ về tất cả những chuyện đó thế nào, nhưng em e rằng sẽ không gặp được cả cái hồ đó lẫn người Vahima, em còn lo sợ cả những bộ lạc dã man, sợ những vùng rừng hoang thiếu nước, những dãy núi không thể băng qua, sợ ruồi tsetse sẽ giết chết súc vật, sợ bệnh ngủ, sợ bệnh sốt rét cho Nel, sợ cái nóng bức và sợ những vùng đất mênh mông đang chia cách chúng với đại dương.


Nhưng sau khi rời khỏi núi Linđe, không còn con đường nào khác ngoài việc tiến về phía trước, cứ tiến mãi, tiến mãi về phái đông. Ông Linđe có nói rằng đó là một cuộc hành trình vượt quá sức người thám hiểm nhiều nghị lực và giàu kinh nghiệm, song Staś  cũng đã thu được rất nhiều kinh nghiệm, còn nếu về nghị lực, thì vì Nel em quyết sẽ khai thác triệt để bản thân mình. Lúc này cần phải tiết kiệm sức lực cho cô bé, nên em quyết định chỉ đi từ lúc sáu giờ sáng tới mười giờ trưa, còn giai đoạn hai từ ba giờ tới sáu giờ chiều, nghĩa là tới khi mặt trời lặn thì chỉ tiến hành khi nào chỗ nghỉ chân thứ nhất không có nước mà thôi.


Lúc này vì trong mùa mưa dầm, nên mọi nơi đều có nước. Những chiếc hồ do nước mưa đọng trong các lòng thung hãy còn rất đầy, từ trên núi thỉnh thoảng lại có những dòng suối nước trong như pha lê và mát lạnh chảy xuống, tắm trong những dòng suối đó vừa tuyệt diệu vừa an toàn vì lũ cá sấu chỉ sinh sống ở những vùng nước lớn, nơi không thiếu cá là thức ăn chính cho chúng.


Tuy nhiên, Staś  không cho phép cô bé uống nước lã, mặc dù em được thừa hưởng của ông Linđe một bình lọc rất tốt mà hoạt động của bình bao giờ cũng khiến cho Kali và Mêa ngạc nhiên. Khi nhìn thấy cái bình lọc nhúng vào nước đục ngầu nhưng lại chỉ cho chảy vào bình chứa thứ nước trong vắt thì cả hai lăn ra cười, đập đập tay vào đầu gối tỏ ý kinh ngạc và vui sướng.


Nói chung, ban đầu, chuyến đi khá thuận lợi. Được thừa hưởng của ông Linđe rất nhiều thức ăn dự trữ: Cà phê, chè, đường, viên canh, nhiều loại đồ hộp khác nhau và đủ loại thuốc, Staś  không cần phải tiết kiệm đạn, vì đạn có nhiều hơn số mà bọn trẻ có khả năng mang theo. Chúng không thiếu những vật dụng đủ mọi loại khác, nhiều cỡ súng khác nhau và đạn pháo hiệu, thứ đạn mà trong những cuộc chạm trán với người da đen có thể rất có tác dụng. Vùng đất này màu mỡ, đầy các giống thú rừng, nghĩa là không thiếu thịt tươi. Hoa quả cũng thế, thảng hoặc, ở những vùng trũng, bọn trẻ gặp phải bùn lầy, nhưng bùn lầy hãy còn bị nước bao phủ nên không làm ô nhiễm không khí bằng những mùi hôi thối khó chịu. Trên cao nguyên không hề có giống muỗi truyền bệnh sốt rét cho máu người. Từ mười giờ sáng trở đi, trời nóng nực rất khó chịu, nhưng trong những giờ được mệnh danh là “giờ trắng” ấy, những người bộ hành nhỏ bé của chúng ta dừng chân dưới bóng mát của những cây gỗ to, không một tia nắng mặt trời nào lọt nổi qua tán lá của chúng. Sức lực của Nel, Staś  và bọn trẻ da đen vẫn đang rất dồi dào.


 


Chương 38


Ngày thứ năm của cuộc hành trình, Staś  đi cùng với Nel trên lưng con King, vì bọn trẻ gặp phải một rặng xiêm gai mọc dày đến nỗi ngựa chỉ có thể đi theo con đường voi đã mở ra mà thôi. Bấy giờ là sáng sớm, một buổi sáng nắng lộng lẫy và nhiều sương. Bọn trẻ trò chuyện với nhau về chuyến đi, mỗi ngày chúng càng tiến gần đại dương hơn, đến gần cha hơn, những người cha mà hiện nay chúng nhớ nhung vô hạn.


Từ lúc chúng bị bắt cóc ở Phaium tới nay, đó là chủ đề của biết bao nhiêu cuộc trò chuyện, những cuộc chuyện trò bao giờ cũng khiến cho bọn trẻ cảm động rơi lệ. Chúng cứ nhắc đi nhắc lại mãi: Cha của chúng đang nghĩ rằng cả hai hoặc là đã không còn sống trên đời nữa, hoặc là đã mất đi vĩnh viễn, hai ông buồn phiền, tuy thế họ vẫn thường xuyên phái những người Ả Rập tới Chartum để săn tin tức, ấy thế mà bọn trẻ lại đang ở rất xa Chartum, rất xa cả Fasoda nữa. Sau năm ngày đường nữa còn xa hơn, rồi sau đó lại cứ xa thêm mãi, mãi cho tới khi tới được đại dương, hoặc trước đó, tới được một chỗ có thể đánh điện.


Người duy nhất trong cả đoàn biết được những gì đang chờ đợi là Staś , còn Nel thì đang tin tưởng rất sâu sắc rằng, không có việc gì trên đời này Staś  không thể làm được, và cô bé hoàn toàn tin chắc rằng Staś  sẽ đưa được cô tới bờ đại dương. Cho nên nhiều lần cô bé vượt trước sự kiện để hình dung trong cái đầu óc nhỏ bé của mình những gì sẽ diễn ra khi tin tức đầu tiên về bọn trẻ đến được tay các ông bố, và líu lo như một con chim non, Nel kể cho Staś  nghe những điều tưởng tượng đó.


− Các ba đang ngồi, − Cô bé nói, − ở Port Said và than khóc, bỗng nhiên có một thằng bé mang tới bức điện. Cái gì thế này? Ba em hoặc ba anh sẽ mở điện ra, nhìn chữ kí và đọc thấy “Staś  và Nel!”. Ô, đến lúc ấy cả hai mới sung sướng nhé, cả hai ông bố mới bật ngay dậy để đi đón chúng mình. Đến khi ấy cả nhà mới náo nức cả lên, cả hai ba cùng mừng, tất cả mọi người đều mừng, tất cả mọi người đều ca ngợi anh, rồi mọi người tới đây, rồi em sẽ ôm thật chặt cổ ba, rồi sau đó chúng mình sẽ mãi mãi bên nhau... rồi...


Và mọi sự kết thúc ở chỗ là cái cằm nhỏ bé của cô bé bắt đầu run run, đôi mắt tuyệt đẹp biến thành hai “đài phun nước”, rồi ngả đầu vào vai Staś , cô bé khóc òa lên vì buồn, vì nhớ và vì vui sướng với ý nghĩ về cuộc sum họp trong tương lai. Còn Staś , với trí tưởng tượng bay bổng vào tương lai, em đoán rằng cha em sẽ tự hào vì em, ông sẽ nói: “Con khá lắm, xứng đáng là một người Ba Lan chân chính!”. Em vô cùng xúc động, trong trái tim tràn ngập nhớ nhung, nhiệt tình và lòng quyết tâm không thể nào bị nhụt, rắn như thép. “Ta phải cứu bằng được Nel.” − Em nhủ thầm. − “Ta phải sống bằng được tới cái giây phút ấy!”. Và khi ấy, chính em cũng cảm thấy rằng không có nỗi hiểm nguy nào mà em không thể chiến thắng, không có trở lực nào em không thể san bằng.


Nhưng đến chiến thắng cuối cùng này hãy còn xa lắm. Lúc này bọn trẻ đang phải băng qua rừng cây xiêm gai. Những cái gai dài của loài cây này vạch nên những vết xước màu trắng ngay cả trên làn da của con King. Nhưng mãi rồi rừng cây cũng thưa dần, và qua những cành cây ngổn ngang đã có thể trông thấy rừng xanh xa xa. Măc dù cái nóng đã khiến em thấm mệt, Staś  vẫn tụt xuống khỏi bành, lên ngồi trên đầu voi để trông xem có thấy những đàn linh dương hay ngựa vằn phía trước hay không, vì em quyết định phải củng cố số thịt dự trữ.


Về phía bên phải, em trông thấy một đàn linh dương arien chừng vài con, lẫn giữa chúng là hai con đà điểu, nhưng khi cả bọn vừa đi qua lùm cây cuối cùng và con voi quành về phía trái, thì một cảnh hoàn toàn khác hẳn đập vào mắt cậu bé: ở đó cách chừng nửa cây số, em trông thấy những nương sắn rộng, và ở rìa nương là hơn chục bóng người màu da đen, hình như đang bận làm đồng.


− Người da đen! − Em quay lại phía Nel kêu lên.


Tim em bắt đầu đập nhịp lo lắng. Em do dự một hồi không hiểu có nên quay lại ẩn vào rừng xiêm gai hay không, nhưng em chợt nghĩ rằng, trong một vùng dân cư đông đúc thì sớm hay muộn cũng sẽ gặp phải dân, phải quan hệ với họ, và tùy thuộc vào những mối quan hệ đó, số phận của cả đoàn sẽ được định đoạt, nên sau khi suy nghĩ một chút, em hướng con voi đi về phía cánh đồng.


Chính vào lúc ấy Kali cũng tiến lại gần, và trỏ tay vào phía rặng cây, nó bảo:


− Ông lớn, kia là một làng của người da đen, còn đây là những người đàn bà đang làm nương sắn. Kali có phải vào làng không?


− Chúng ta sẽ cùng vào làng. − Staś  đáp. − Cậu sẽ nói cho họ biết rằng chúng ta đến đây như những người bạn.


− Thưa ông chủ, Kali biết sẽ phải nói với họ điều gì.


Nó đưa tay lên miệng làm loa và gọi to lên:


Yambo, he! Yambo sana!


Nghe thấy tiếng gọi này, những người đàn bà đang đào sắn bật dậy và đứng như trời trồng, nhưng chuyện đó chỉ kéo dài trong nháy mắt, vì ngay sau đó, họ vứt hết thuổng cuốc, vừa kêu ré lên vừa ù té chạy về phía những rặng cây bao quanh làng.


Những người bộ hành trẻ tuổi thong thả và bình tĩnh tiến lại gần làng. Trong rặng cây có tiếng hú hét của hàng trăm con người, rồi đột nhiên im lặng bao trùm. Tiếp theo đó là tiếng trống trầm hùng vang động phá vỡ bầu không khí im lặng, tiếng trống về sau không ngừng lại một giây phút nào cả.


Rõ ràng đó là hiệu lệnh chiến đấu cho các chiến sĩ, vì hơn ba trăm người bỗng nhô ra khỏi rặng cây. Tất cả dàn thành một hàng dài trước làng, Staś  cho voi dừng lại cách chừng trăm bước chân và bắt đầu ngắm nghía họ. Mặt trời chiếu sáng những thân hình lực lưỡng của họ, những lồng ngực rộng rãi, những cánh tay khỏe mạnh. Họ được vũ trang bằng cung tên và giáo mác. Chung quanh đùi họ che một chiếc quần ngắn làm bằng cây thạch thảo, một số người khác − bằng da khỉ. Đầu họ mang những chiếc lông chim đà điểu, lông vẹt, hoặc những túm lông chỏm đầu vượn. Trông họ thật thiện chiến và dữ dằn, nhưng họ lại đứng bất động trong im lặng, vì sự kinh ngạc của họ thật quá lớn, khiến cho ý muốn đánh nhau bị đè bẹp đi. Mọi cặp mắt đều dán vào con King, vào cái bành màu trắng và vào người da trắng đang ngồi trên đầu voi.


Voi đối với họ không phải là một con vật xa lạ gì. Họ sống triền miên trong bạo lực của voi, những đàn voi đêm đêm tàn phá những nương sắn, những vườn chuối cùng những vườn cọ đum của họ. Vì giáo và tên không xuyên thủng được da voi nên những người da đen tội nghiệp nọ đành phải chiến đấu với chúng bằng lửa, bằng tiếng kêu la, bằng cách giả tiếng gà, bằng cách đào những hố sâu và đặt bẫy bằng những cây gỗ. Thế nhưng chưa một ai trong đời được trông thấy, thậm chí chưa một ai nghĩ tới chuyện voi có thể trở thành nô lệ cho người và để cho người ngồi trên cổ. Chính vì thế, cái cảnh đang ở trước mắt họ đây vượt quá xa mọi khái niệm và trí tưởng tượng của họ, khiến họ không biết nên làm gì: Chiến đấu hay chạy trốn để mặc cho số phận định đoạt mọi sự.


Cho nên, trong nỗi phấp phỏng, lo sợ và kinh ngạc, họ chỉ biết thì thào bảo nhau:


− Mẹ ơi! Không biết cái giống gì đến với chúng ta và cái gì đây đang chờ chúng ta với bàn tay của hắn?


Khi đó, Kali bèn tiến cách họ một tầm phóng lao, đứng nhổm dậy trên bàn đạp và gọi to lên:


− Hỡi các người, các người! Hãy nghe đây tiếng nói của Kali, con trai Phumba, vị vua hùng cường của người Vahima trên bờ Bassa Narok! Ôi! Hãy nghe, hãy nghe đây! Nếu như các ngươi hiểu được tiếng nói của hắn, thì hãy chú ý đến từng lời nói của hắn!


− Chúng ta hiểu! − Tiếng đáp lại từ ba trăm cái miệng nghe vang động.


− Vậy thì xin mời vua của các người hãy bước ra, hãy nói rõ tên họ của mình, hãy mở thật to tai và miệng để nghe cho rõ!


− M'Rua! M'Rua! − Nhiều giọng xôn xao kêu lên.


M'Rua bước lên trước hàng người, nhưng không quá ba bước chân. Đó là một người da đen đã già, cao to lực lưỡng, nhưng hình như không mấy can đảm, vì bắp đùi run run đến nỗi ông ta phải cắm cây giáo xuống đất và tì vào cán gỗ mới có thể đứng vững nổi trên đôi chân.


Theo gương của ông ta, các chiến sĩ khác cũng cắm ngược mũi giáo xuống đất, tỏ ý rằng họ muốn được nghe một cách ôn hòa lời nói của vị khách mới tới.


Còn Kali cất giọng cao hơn nữa:


− Hỡi M'Rua và các người, lũ làng của M'Rua! Các người đã nghe thấy rằng chính con trai của vua người Vahima đang nói chuyện với các người, vị vua mà đàn bò của Người phủ kín các ngọn núi cạnh hồ Bassa Narok dày đặc như đàn kiến phủ kín xác con hươu cao cổ bị giết chết vậy. Thế nhưng, Kali, con trai của vua người Vahima nói gì đây? Ta xin báo trước cho các người một tin vui lớn là có cả Mdimu Tốt đến làng các ngươi đó!


Rồi nó gọi to hơn nữa;


− Đúng thế! Mdimu Tốt! Ô ô ô!


Qua sự im lặng bao trùm, có thể hình dung ra được những lời của Kali đã gây nên ấn tượng to lớn đến thế nào. Hàng ngũ các chiến sĩ xao động như sóng dậy, vì một số người tò mò thì nhích thêm lên vài bước, còn những kẻ khác thì lùi lại vì sợ hãi. M'Rua tì cả hai tay lên cán giáo, và im lặng câm đặc bao trùm một hồi lâu. Lát sau, tiếng lao xao mới dần lan khắp hàng quân và từng giọng lẻ tẻ lặp đi lặp lại: “Mdimu!" "Mdimu!”, đây đó vang lên tiếng kêu “Yancig , yancig!” vừa biểu thị sự kính trọng, vừa biểu thị sự chào đón.


Nhưng tiếng nói của Kali lại át hẳn trong tiếng xì xào cùng những tiếng kêu đó:


− Các người hãy nhìn đi và hãy vui mừng lên! Đó, Mdimu Tốt đang ngồi trên kia, trong cái nhà màu trắng trên lưng con voi khổng lồ đó, và voi khổng lồ vâng lời Mdimu, như một tên nô lệ vâng lời ông chủ, như đứa trẻ vâng lời mẹ vậy! Ôi! Đến cha các người cũng như các người chưa từng thấy chuyện thế này bao giờ đâu...


− Chưa thấy! Yancig! Yancig!...


Mắt của tất cả các chiến sĩ đều trông về phía “cái nhà”, tức là cái bành.


Còn Kali, người mà trong những buổi học tôn giáo trên núi Linđe đã được dạy rằng lòng tin có thể lay chuyển cả núi, đồng thời lại tin chắc rằng, lời cầu nguyện của cô bé da trắng có thể xin được Thượng đế ban cho tất cả mọi điều, nên giờ đây tiếp tục kể về “Mdimu Tốt” hoàn toàn chân thành:


− Hãy nghe đây, nghe đây! Mdimu Tốt đi trên mình voi về phía mặt trời thức dậy từ sau núi non và những con nước, đến đó Mdimu Tốt thưa với Linh thần Vĩ đại để Người gửi về cho chúng ta những đám mây, và trong những hạn hán, những đám mây này sẽ trút mưa xuống cho kê, cho sắn, cho chuối, cho cỏ trong rừng của các người để các người có nhiều thức ăn, để những đàn bò sữa của các người có nhiều cỏ ăn, để rồi chúng cho các người thứ sữa thật đặc, thật béo! Các người có muốn nhiều cái ăn và nhiều sữa không, ơ lũ làng?


− Hê! Muốn chứ, muốn chứ!


− Rồi Mdimu Tốt sẽ nói với Linh thần Vĩ đại để Người gửi gió đến cho các người, gió sẽ xua đi khỏi làng các người thứ bệnh khiến cho thân thể con người trở thành lỗ chỗ như lát mật cắt ngang. Các người có muốn gió thổi sạch cái bệnh đó đi không, ơ lũ làng?


− Hê, cứ thổi sạch đi!


− Và theo lời khẩn cầu của Mdimu Tốt, Linh thần Vĩ đại sẽ bảo vệ các người tránh khỏi những cuộc tấn công và cảnh đời nô lệ, và những trận mất mùa... và khỏi sư tử, khỏi báo, khỏi rắn rết, khỏi châu chấu nữa...


− Xin hãy làm như thế!...


− Vậy thì hãy nghe tiếp đây và hãy nhìn xem, ai đang ngồi trước cái nhà giữa hai cái tai của voi vĩ đại kia? Ngồi đó là bvana kubva − ngài da trắng vĩ đại và nhiều sức mạnh khiến voi cũng phải sợ...


− Hê!


− ...Người cầm sấm sét trong tay và dùng sấm sét đó giết chết lũ người ác...


− Hê!


− ... Người giết chết sư tử...


− Hê!


− ... Người thả những con rắn lửa.


− Hê!


− ... Người phá tung những khối đá...


− Hê!


− ...Nhưng Người sẽ không làm gì hại cho các người, nếu như các người tôn kính Mdimu Tốt.


Yancig! Yancig!


− Nếu như các người mang đến cho người bột chuối khô, trứng gà, sữa tươi và mật ong.


Yancig! Yancig!


− Vậy thì các người hãy lại gần đây và hãy cúi đầu trước Mdimu Tốt đi!


M'Rua và các chiến sĩ của ông ta vừa không ngừng kêu “yancig” vừa tiến hơn chục bước lên phía trước, nhưng thật thận trọng vì cái sợ đầy mê tín đối với Mdimu cũng như cái sợ hãi thuần túy đối với con voi khiến cho những bước chân của họ bị hãm lại. Nhìn thấy con Saba, họ lại hoảng lên lần nữa, vì họ cứ tưởng nó là con vôbô, một loài vật to bằng con báo, lông hoe, sinh sống ở vùng này và vùng phía nam Abixinia [7] mà cư dân trong vùng sợ hơn cả sư tử, vì nó thích thịt người hơn mọi thứ khác và rất táo bạo, dám tấn công cả những người đàn ông có vũ trang. Nhưng họ lại yên lòng ngay khi trông thấy thằng bé da đen nhỏ con bụng tròn ung ủng túm cổ dề giữ con vôbô kinh khủng ấy lại.


Song chính cái đó còn khiến cho những điều hình dung của họ về quyền lực to lớn của Mdimu Tốt và ông da trắng càng to lớn hơn, và nhìn con voi, nhìn Saba, họ thì thào với nhau: “Nếu như họ đánh bùa được cả vôbô thì ai trên đời này có thể chống nổi họ?”.


Tuy nhiên, giây phút long trọng nhất diễn ra, khi Staś  quay lại phía Nel, trước hết là cúi đầu thật thấp, rồi vén bức vách của cái kiệu được dùng làm tấm che, và trước mắt của đám người đang tụ tập hiện ra dung nhan của Mdimu Tốt. M'Rua cùng tất cả các chiến sĩ cúi mặt xuống đất, thân thể của họ nối nhau thành một chiếc cầu sống. Không ai dám cử động, sự hãi hùng trùm lên mọi con tim càng tăng hơn nữa khi con King − không hiểu theo lệnh Staś  hay do ý muốn của bản thân − vươn vòi lên trời và rống lên vang động, rồi theo gương nó, con Saba cũng cất cái giọng trầm hùng của mình lên, cái giọng trầm hùng nhất mà nó có thể phát ra được. Khi đó, từ mọi lồng ngực đều bật ra một tiếng giống như lời van xin: “Aka! Aka!” − và tiếng ấy cứ kéo dài mãi cho tới khi Kali lại nói tiếp:


− Ô, hỡi M'Rua và các người, cháu con của M'Rua! Các người đã kính cẩn chào Mdimu Tốt, vậy các người hãy đứng dậy, hãy nhìn xem và hãy thu vào mắt hình ảnh của Mdimu, vì ai làm được điều đó sẽ được Linh thần Vĩ đại ban phước lành. Hãy xua đuổi cái sợ ra khỏi lồng ngực và cái bụng các người đi, và hãy nhớ rằng, nơi nào Mdimu Tốt tới, thì máu người không thể đổ ra!


Nghe những lời này, nhất là tuyên bố rằng với Mdimu Tốt thì tử thần không ai bắt được hết, M'Rua bèn nhổm dậy, và theo gương ông, các chiến sĩ khác cũng bắt đầu e dè nhìn vị thần tốt bụng nọ. Hẳn họ phải thừa nhận một lần nữa − nếu Kali có hỏi lại lần thứ hai − rằng cả cha ông họ lẫn bản thân họ đều chưa trông thấy chuyện lạ thế bao giờ. Vì mắt họ vốn quen nhìn những tượng thần khắc đẽo bằng gỗ và bằng những vỏ dừa xù xì, thế nhưng giờ đây trước mắt họ, đứng trên lưng voi là một vị linh thần nhỏ bé, trắng trẻo, hiền dịu, ngọt ngào và tươi cười, trông giống như một con chim trắng. Chính vì thế mà nỗi sợ hãi trong lòng họ qua đi, ngực họ thở thoải mái hơn, những đôi môi dày của họ bắt đầu mỉm cười, và cánh tay họ vô tình chìa về phía cái hiện tượng thần diệu nọ.


− Ô, yancig! Yancig! Yancig!


Tuy nhiên, vốn lưu tâm để ý thật chăm chú đến tất cả mọi chuyện, Staś  nhận thấy một người da đen, đội cái mũ da chuột, sau khi nghe những lời nói cuối cùng của Kali bèn lẻn ra khỏi hàng và trườn như một con rắn trong cỏ về phía ngôi nhà đứng riêng biệt bên sườn đồi, bên ngoài hàng rào chung, nhưng được bao quanh bằng một hàng rào cọc gỗ cao, ken bằng những sợi dây leo.


Trong khi đó cô Mdimu Tốt − bối rối vì vai trò thần linh của mình − theo lời Staś , đưa bàn tay bé bỏng ra chào những người da đen. Những người chiến sĩ da đen dõi theo mọi cử chỉ của bàn tay ấy với cặp mắt long lanh sung sướng và tin tưởng sâu sắc rằng trong đó có những “phép thuật” linh thiêng, bảo vệ che chở cho họ tránh khỏi biết bao chuyện chẳng lành.


Một số người đập tay vào ngực và vào đùi nói: “Mẹ ơi! Bây giờ chúng ta mới sung sướng đây, chúng ta và lũ bò sữa của chúng ta!”. Đã hoàn toàn bạo dạn, ông lão M'Rua tiến lại gần con voi, cúi chào Mdimu Tốt một lần nữa, sau đó cúi chào Staś  và cất tiếng nói như sau:


− Không hiểu ông lớn, người đưa vị thần màu trắng đi trên mình voi, có muốn ăn một miếng thịt của M'Rua và liệu có thuận để cho M'Rua ăn một miếng thịt của ông hay không, để cho chúng ta có thể trở nên anh em, giữa hai bên không còn dối trá và phản bội nữa?


Kali lập tức dịch lại những lời này, nhưng qua nét mặt Staś , thấy cậu không hề có chút nào muốn “ăn một miếng” của M'Rua, thằng bé bèn quay lại phía ông lão da đen và nói:


− Ô, hỡi M'Rua! Ông có thật nghĩ rằng, ông lớn da trắng hùng mạnh như thế, người mà voi cũng phải sợ, người có sấm sét trong tay, người giết được cả sư tử, người mà vôbô phải vẫy đuôi vâng lời, người thả đàn rắn lửa và đập vỡ các khối đá to, lại có thể kết anh em máu thịt với loại vua chúa thường thường? Hãy nghĩ xem, ô M'Rua, liệu linh thần Vĩ đại có trừng phạt ông không về tính ngạo mạn đó, và liệu đã đủ vinh dự cho ông hay chưa, nếu ông ăn một miếng thịt của Kali − con trai Phumba, thủ lĩnh của người Vahima, và nếu như Kali − con trai Phumba, ăn một miếng thịt của ông?


− Mày không phải là nô lệ chứ? − M'Rua hỏi.


− Ông lớn không bắt cóc Kali, cũng không mua Kali, mà chỉ cứu Kali thoát chết, cho nên Kali mới đưa Mdimu Tốt và ông lớn đến xứ sở của người Vahima, để người Vahima và vua Phumba chào hỏi và dâng những món cống vật lớn mà thôi.


− Thế thì cũng được, cứ như lời mày nói, để cho M'Rua ăn một miếng thịt của Kali, còn Kali ăn một miếng thịt của M'Rua.


− Hãy cứ thế, cứ thế! − Các chiến sĩ họa theo.


− Thầy phù thủy đâu rồi? − Vua hỏi.


− Phù thủy đâu? Phù thủy đâu? Camba đâu rồi? − Nhiều giọng kêu lên.


Chính vào lúc đó bỗng xảy ra một chuyện khiến cho tình thế có thể hoàn toàn thay đổi, làm vẩn đục quan hệ hòa hảo và biến những người da đen thành kẻ thù đối với các vị khách mới tới. Từ ngôi nhà cô độc đứng trên sườn đồi có hàng rào cọc gỗ vây quanh, bỗng nhiên vang lên những tiếng động khủng khiếp. Tiếng đó giống như tiếng rống của sư tử, như tiếng sấm, như tiếng trống, như tiếng cười của linh cẩu, tiếng hú của chó sói và tiếng cọt kẹt kinh người của những bản lề cửa bị hoen gỉ. Nghe thấy tiếng ấy, con King bắt đầu rống lên, con Saba sủa dữ đội, còn con lừa mà Nasibu đang cưỡi cũng hí lên. Các chiến sĩ nhảy dựng lên như phải bỏng và rút phắt những chiếc giáo đang cắm mũi xuống đất lên.


Náo động cả lên. Những tiếng kêu đầy lo lắng vọng đến tai Staś : “Mdimu của chúng ta! Mdimu của chúng ta đây rồi!”. Lòng kính trọng và thân thiện đối với các vị khách biến mất tăm trong một giây. Mắt của những người hoang dã này bắt đầu ném ra những cái nhìn đầy nghi ngờ và thù hằn. Những tiếng thì thào đầy đe dọa từ đám đông lan ra, còn tiếng ồn ào khủng khiếp trong căn nhà cô độc nọ thì mỗi lúc một mạnh thêm lên.


Kali kinh hoàng, lần nhanh lại với Staś , nó nói với giọng đứt đoạn vì xúc động:


− Ông chủ, đó là gã phù thủy đã đánh thức con ma dữ, Mdimu Ác sợ rằng dân làng sẽ không cống nạp lễ vật nữa nên đang gầm lên vì tức giận. Ông chủ hãy dùng những món cống vật thật to để làm yên phù thủy và Mdimu ác đi, nếu không mọi người sẽ chống lại chúng ta đấy.


− Làm chúng yên đi à? − Staś  hỏi.


Và bỗng nhiên em thấy căm giận cho tính tráo trở và tham lam của gã phù thủy, nỗi nguy bất thần khiến em phẫn nộ cả tâm hồn. Nước da rám nắng của em biến đổi hệt như khi bắn chết Gebhr, Chamis và hai tên Bedouin. Mắt em long lên dữ dội, môi mím chặt, nắm tay nắm thành nắm đấm, gò má tái nhợt hẳn đi.


− À, để tớ làm yên chúng nó cho! − Em thốt lên.


Rồi không cần suy nghĩ gì thêm, em thúc voi tiến tới ngôi nhà.


Không muốn ở lại một mình giữa những người da đen, Kali cũng đi theo. Lồng ngực các chiến sĩ hoang dã bật lên một tiếng thét − không hiểu là tiếng thét sợ hãi hay giận dữ, nhưng trước khi họ kịp định thần thì cái hàng rào cọc gỗ đã kêu răng rắc và đổ sụp dưới sức ép của đầu voi, rồi tiếp đó, những bức tường đắp bằng đất sét cùng cái mái nhà bị tung lên trong một đám bụi, và một giây sau, M'Rua cùng lũ người của ông ta trông thấy cái vòi màu đen vung lên không, còn ở đầu vòi là thầy phù thủy Camba.


Trên sàn nhà, Staś  trông thấy một cái trống lớn, làm bằng một thân cây rỗng lòng và bịt bằng da khỉ, em bèn bảo Kali đưa cho em, rồi quay trở lại, em đứng sừng sững trước mặt những chiến sĩ đang kinh ngạc.


− Hỡi mọi người! − Em nói to. − Đó không phải là Mdimu của các người gầm thét đâu, mà chính là cái tên đểu cáng này đã đánh trống để bắt các người phải cống nộp cho nó các thứ lễ vật, thế mà các người lại sợ hãi hắn như những đứa trẻ con.


Nói rồi, em túm lấy cái dây bện bằng da khô buộc vào trống và lấy hết sức quay xoắn nó thành vòng. Những âm thanh vừa nãy khiến cho những người da đen sợ hãi giờ đây lại vang lên, thậm chí còn nhiều phần hãi hùng hơn nữa, vì không còn bị bức tường của căn nhà chắn bớt.


−Ô, M'Rua và cháu con của ông ta mới ngu ngốc làm sao! − Kali kêu lên.


Staś  đưa trống cho nó, Kali bèn dùng trống làm ồn đến nỗi suốt một lúc lâu không thể nghe thấy tiếng ai nói cả. Cuối cùng, khi đã chán rồi, nó ném cái trống xuống chân M'Rua.


− Đó, cái ma Mdimu của các người đó! − Nó cả cười gọi to.


Rồi với sự lắm lời thường có của người da đen, nó nói với các chiến sĩ, không tiếc lời chế giễu cả họ lẫn ông M'Rua. Vừa chỉ vào gã Camba nó vừa nói rằng cái “tên ăn cắp” đội mũ da chuột này, suốt nhiều mùa mưa và mùa khô đã lừa bịp họ, còn họ thì nuôi béo hắn bằng đậu, bằng dê tơ và mật ong. Liệu trên thế giới này có thể có vị vua nào, có thể có dân tộc nào ngu dốt hơn chăng? Họ tin vào phép thuật của cái tên già chuyên lừa đảo, vào sức mạnh của y, vậy giờ xin họ hãy nhìn xem vị phù thủy vĩ đại nọ đang treo lơ lửng trên vòi voi và kêu lên: “Aka!” để xin ông lớn da trắng hãy thương tình. Sức mạnh của hắn đâu rồi? Pháp thuật của hắn đâu rồi? Tại sao chẳng có cái Mdimu Ác nào gầm lên để bảo vệ hắn lúc này? A! Mdimu của hắn là cái thá gì? Một miếng da khỉ và một mẩu thân cây gỗ rỗng lòng đã bị con voi giẫm nát. Ở vùng người Vahima thì ngay cả đàn bà và trẻ con cũng không thèm chơi bằng cái Mdimu như thế, ấy vậy mà M'Rua cùng những người của ông lại sợ hãi nó! Chỉ có một Mdimu chân chính duy nhất, chỉ có một ông chủ chân chính vĩ đại duy nhất đầy hùng mạnh mà thôi − Họ hãy mau mau thần phục, chào đón và mang thật nhiều lễ vật tới dâng đi, nếu không những tai họa sẽ đổ xuống đầu họ, những tai họa mà cho tới nay tai họ chưa từng được nghe nói tới bao giờ.


Thật ra, đối với người da đen, không cần phải có thêm những lời đó, vì chỉ cần việc tên phù thủy cùng Mdimu của y trở nên yếu ớt vô cùng so với vị thần da trắng mới cùng ông chủ da trắng đã hoàn toàn đủ để cho họ từ bỏ hắn và khinh miệt hắn rồi. Họ bắt đầu hô “Yancig! Yancig!” một lần nữa, còn thành kính và nhiệt thành hơn trước.


Song họ tức mình vì bao nhiêu năm đã để cho gã Camba lừa gạt, nên họ nhất thiết muốn giết chết lão ta. Chính ông M'Rua đã xin với Staś  cho phép trói hắn lại và giam giữ cho tới khi nào nghĩ ra được một cái chết thật tàn khốc xứng với tội của hắn. Nhưng Nel quyết định sẽ tha cho hắn được sống, và vì chính Kali tuyên bố rằng nơi nào Mdimu Tốt đặt chân tới, nơi đó máu người không thể nào bị chảy ra, nên Staś  cho phép họ đuổi cổ tên phù thủy bất hạnh nọ ra khỏi làng.


Vốn tưởng rằng mình sẽ phải chết đau đớn, nên giờ đây Camba quỳ phủ phục trước mặt Mdimu Tốt vừa nức nở vừa cảm ơn cứu mạng. Và kể từ lúc đó trở đi, không còn có chuyện gì khuấy động buổi lễ nữa. Từ sau hàng rào cọc gỗ, phụ nữ và trẻ con đổ ra vì cái tin những vị khách quý phi thường đến đây đã lan ra khắp làng, và ý muốn được nhìn thấy Mdimu Tốt đã thắng sự sợ hãi.


Lần đầu tiên Staś  và Nel được trông thấy cái làng của những người hoàn toàn hoang dã, những người mà ngay cả dân Ả Rập cũng chưa mò được tới nơi. Quần áo của những người da đen này làm bằng vỏ cây thạch thảo hoặc bằng da thú quấn chung quanh đùi. Tất cả mọi người đều xăm chàm. Cả đàn ông lẫn đàn bà đều đục thủng dái tai và xâu vào đó những mẩu gỗ hoặc những khúc xương lớn khiến cho dái tai chảy dài xuống gần chạm vai.


Ở môi dưới họ đeo cái pêlêlê, đó là một cái vòng bằng gỗ hay bằng xương, to như cái đĩa lót cốc. Những chiến sĩ danh tiếng hơn cùng vợ của họ mang trên cổ những chiếc vòng bằng dây đồng hay sắt, xếp chồng lên nhau cao và cứng đến nỗi họ khó khăn lắm mới cử động được cái đầu.


Rõ ràng họ thuộc về bộ lạc Sinlúc, bộ lạc này còn sinh sống chạy dài mãi sang phía đông, vì Kali và Mêa hiểu rất rõ thổ ngữ của họ, còn Staś  thì hiểu được một nửa. Tuy nhiên, họ không có được những đôi chân dài như những người anh em sinh sống ở vùng ngập nước sông Nin, vai họ rộng hơn, ít cao hơn và nói chung trông họ ít giống những loài chim chuyên môn mò lặn dưới nước hơn. Bọn trẻ con trông lanh lẹn như những con bọ nhảy, và do chưa phải mang pêlêlê, nên so với người lớn chúng xinh đẹp hơn hẳn.


Sau khi đứng đằng xa ngó Mdimu Tốt, những phụ nữ bắt đầu đua nhau với các chiến sĩ trong việc mang tặng vật tới, tặng vật là những con dê tơ, gà mái, trứng, đậu đen và bia nấu từ kê. Việc đó kéo dài mãi cho tới khi Staś  phải ngăn dòng thác những thức ăn ấy lại, và vì rằng nó trả đổi rất hào phóng bằng những chuỗi hạt và lụa màu, còn Nel thì phân phát cho bọn trẻ con mươi cái gương con được thừa hưởng của ông Linđe, nên niềm vui vô hạn ngự trị cả làng, và chung quanh túp lều nơi bọn trẻ nghỉ ngơi vẫn tiếp tục vang lên những tiếng kêu vui vẻ đầy ngưỡng mộ. Các chiến sĩ bắt đầu múa vũ điệu chinh chiến để đón chào những vị khách quý, họ đánh trận giả, và cuối cùng là việc tiến hành lễ uống máu ăn thề kết nghĩa anh em giữa Kali và ông M'Rua.


Vì thiếu phù thủy Camba, người nhất thiết phải có mặt cho buổi lễ này, nên một cụ già da đen biết đầy đủ các phù chú đã thay hắn. Sau khi giết một con dê và lấy lá gan của nó ra, ông lão chia gan ra thành nhiều miếng to tướng, rồi bắt đầu múa may chân tay như một con cù, lúc thì nhìn Kali, lúc thì nhìn M'Rua, và cất giọng trang nghiêm hỏi:


− Hỡi Kali, con trai của Phumba, mày có muốn ăn một miếng của M'Rua, con trai của M'Culi không? Và hỡi M'Rua, con trai của M'Culi, mày có muốn ăn một miếng của Kali, con trai Phumba hay chăng?


− Chúng tôi muốn! − Hai người anh em tương lai cùng đáp.


− Các người có muốn rằng trái tim của Kali sẽ là trái tim của M'Rua, còn trái tim của M'Rua là trái tim của Kali hay chăng?


− Chúng ta muốn.


− Và cả tay, cả ngọn giáo, cả lũ bò sữa?


− Cả lũ bò sữa!


− Và tất cả mọi thứ mà mỗi đứa đang có hoặc sẽ có?


− Những thứ đang có và sẽ có!


− Và để cho giữa các người không hề có dối lừa và phản bội, không có thù hằn?


− Không có thù hằn!


− Để cho người này không bao giờ ăn cắp của người kia?


− Không bao giờ!


− Để cho các người là anh em với nhau?


− Phải!


Ông lão quay mỗi lúc một nhanh hơn. Các chiến sĩ vây chung quanh mỗi lúc một thêm chăm chú dõi theo những cử chỉ của ông.


Ao! − Ông lão da đen kêu lên. − Nếu như một trong hai người nói dối người kia, phản bội người kia, ăn cắp của người kia, đầu độc người kia, giết chết người kia, hắn sẽ bị nguyền rủa.


− Xin cho hắn bị nguyền rủa! − Tất cả các chiến sĩ đồng thanh lặp lại.


− Còn nếu như hắn là thằng nói dối và âm mưu phản bội, thì xin cho hắn không nuốt nổi máu người anh em của hắn và xin cho hắn phải nôn ra ngay trước mắt chúng tôi.


− Ô, ngay trước mắt chúng tôi!


− Xin cho hắn phải chết!


− Phải chết!


− Xin vôbô xé xác hắn ra.


− Vôbô!


− Hoặc sư tử.


− Hoặc sư tử!


− Xin voi và tê giác cùng với trâu rừng hãy xéo nát hắn.


− Ô! Với trâu rừng! − Dàn đồng ca nhắc lại.


− Xin rắn hãy cắn chết hắn.


− Rắn!


− Xin cái lưỡi hắn trở nên đen kịt.


− Đen kịt!


− Và mắt hắn chạy ra sau gáy.


− Ra sau gáy!


− Xin cho hắn đi hai chân chổng ngược.


− Ha! Hai chân chổng ngược.


Không chỉ riêng Staś  mà cả Kali cũng phải cắn môi để khỏi bật cười, trong khi đó những lời nguyền cứ lặp đi lặp lại, mỗi lúc một kinh khủng hơn, con cù quay nhanh đến nỗi mắt người không thể dõi theo kịp vòng quay của ông. Cứ thế kéo dài mãi cho tới khi ông già người da đen hoàn toàn kiệt sức...


Kể từ giây phút này, quả thực không còn gì đe dọa những người bộ hành trẻ tuổi từ phía những cư dân hoang dã này nữa, kể từ hành động nhỏ nhặt cho tới mọi sự tấn công bất thần, ngược lại chúng được vây bọc trong tình mến khách và lòng thành kính gần như đối với vị thần.


Lòng thành kính này còn tăng lên hơn nữa, khi Staś  dựa theo cái áp kế to tướng của ông Linđe báo trước trời mưa, và ngay trong ngày hôm đó mưa khá tràn trề như trong mùa masica vậy, mặc dù mùa mưa đã qua đi khá lâu rồi, dường như ông trời muốn trút hết những lượng nước dự trữ của mình xuống đất. Những người da đen tin rằng chính Mdimu Tốt đã ban thưởng cho họ trận mưa đó, và lòng biết ơn của họ đối với Nel thật vô bờ bến.


Staś  nói đùa với cô bé rằng, vì cô bé đã là thần của người da đen nên sẽ chỉ có một mình em tiếp tục lên đường thôi, còn cô bé sẽ ở lại làng của ông M'Rua, nơi những người da đen sẽ xây dựng cho cô bé một cái giáo đường bằng ngà voi và sẽ mang đậu nành và chuối tới nuôi cô.


Nhưng Nel tưởng thật, bèn đứng nhón trên đầu ngón chân và thì thầm vào tai cậu bé theo thói quen của mình chỉ mấy chữ thôi:


− Anh không để em lại đâu! − Rồi cô bé nhảy cẫng lên vì vui sướng, nói − Nếu người da đen tốt bụng đến thế thì cả chuyến đi tới đại dương sẽ qua rất nhanh chóng và dễ dàng.


Chuyện đó diễn ra trước mặt đám đông, nên trông thấy Mdimu nhảy nhót, ông lão M'Rua cũng bắt đầu nhảy cẫng lên theo, cố gắng nhảy cao đến mức có thể được trên hai cái chân vòng kiềng của ông, vì ông tưởng rằng bằng cách đó ông có thể biểu lộ lòng thành kính của mình. Các vị đại thần, sau đó là các chiến sĩ, rồi phụ nữ và trẻ con − nói tóm lại là cả làng − cũng theo gương ông mà nhảy nhót một hồi như tất cả đều mất trí vậy.


Staś  buồn cười vì cái trò nhảy nhót theo gương vị thần nhỏ nọ đến nỗi cười bò ra. Tuy nhiên, đến đêm, chính em đã hiến cho nhà vua sùng tín nọ cũng như các thần dân của ông một công lao thật sự và lâu bền, vì khi đàn voi kéo vào đồng chuối, em bèn cưỡi con King đến đó và bắn lên mấy phát pháo hiệu. Sự kinh hoàng mà “những con rắn lửa” này gây ra vượt quá sự chờ đợi của nó. Những con vật khổng lồ điên lên hoảng sợ khiến cho cả khu rừng vang ầm tiếng rống và tiếng bước chân chạy trốn thục mạng của chúng, húc vào nhau, gạt đổ lẫn nhau. Con King hùng mạnh đuổi theo những người bạn đang chạy trốn với sự hăng hái vô cùng, nó không tiếc sức dùng ngà xua đuổi bọn bạn. Sau một đêm như thế, có thể tin chắc rằng, suốt một thời gian dài nữa sẽ không một chú voi nào còn dám bén mảng đến đồng chuối và cọ đum thuộc làng của ông già M'Rua nữa.


Trong làng vô cùng sung sướng, và những người da đen nhảy múa, uống bia làm bằng kê và rượu dừa suốt cả đêm. Kali tìm hiểu qua họ nhiều tin tức quan trọng, vì hóa ra có một số người đã từng nghe nói tới con nước lớn nào đó nằm về phía đông, có núi bao quanh. Đối với Staś , điều đó có nghĩa là cái hồ mà người ta không dạy cho em trong những bài học địa lí quả thực có tồn tại, và nếu cứ đi theo hướng đã chọn thì thể nào cũng tới được chỗ ở của người Vahima.


Xuất phát từ nhận xét rằng tiếng nói của Kali và Mêa không khác gì mấy so với tiếng nói của ông M'Rua, em đi tới kết luận rằng, tên gọi “Vahima” rất có thể chỉ là một cái tên gọi địa phương, và rằng những dân tộc sinh sống trên hai bờ hồ Baxxa Narốc thuộc về bộ lạc lớn Sinlúc, bộ lạc này cư trú bắt đầu từ sông Nin kéo dài mãi về phía đông, không biết tới tận đâu[8].


(còn tiếp)


Nguồn: Trên sa mạc và trong rừng thẳm. Tiểu thuyết của Henryk Sienkiewicz – Nobel văn học 1905. Nguyễn Hữu Dũng dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan. NXB Văn học in nhiều lần. NXB Hội Nhà văn in lần thứ 25 kỷ niệm 100 năm ngày tác giả từ trần (1916-2016).


www.trieuxuan.info


 








[1]  Lợn lòi châu Phi có đầu bẹt, nanh tròn chứ không phải hình tam giác và cái đuôi khá dài, khi chúng húc thì đuôi dựng đứng lên (chú thích của tác giả). 




[2]  Đười  ươi  sinh  sống  ở  vùng  rừng  tây  Phi,  tuy  nhiên  ông Livingstone đã gặp chúng cả ở miền Đông. Chúng thường bắt cóc trẻ con. Đười ươi miền Đông ít dữ tợn hơn miền Tây, vì khi đã bị thương chúng không giết thợ săn, mà chỉ nhằn nát các ngón tay của người đi săn mà thôi (Chú thích của tác giả).




[3]  Echinops giganteus, thường mọc ở vùng này, và thường rất tốt ở vùng nam Abixinia (theo Elisee: Địa dư − Chú thích của tác giả).




[4]  Theo Elisee Reclus (Chú thích của tác giả).




[5]  Cây cảm lảm ở Abixinia và trong núi Caramôiô có thể cao tới năm mươi mét. Theo Elisee Reclus (chú thích của tác giả).




[6]  Người La Mã gọi tiếng hát hay tiếng thét xung trận của các quân đoàn và của người German, cũng như tiếng voi rống bằng tên gọi này.




[7]  Theo E.Reclus − Lefebvre: Thám hiểm Abixinia. (Chú thích của tác giả).




[8]  Vào thời Mahơđi, vùng này chưa được nghiên cứu (chú thích của tác giả).


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »