tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23009453
Những bài báo
15.05.2018
Nhiều tác giả
Những bài viết về GS Phan Đình Diệu


Được tin Giáo sư Phan Đình Diệu, nhà toán học, khoa học máy tính của Việt Nam đã qua đời lúc 10:00 sáng ngày 13/5/2018, tại Hà Nội, nhà văn Triệu Xuân và anh chị em văn nghệ sỹ Nhóm Văn Chương Hồn Việt thành kính chia buồn của tang quyến. Cầu chúc hương hồn ông sớm siêu sinh tịnh độ!


GS Phan Đình Diệu, một trí thức lớn của Việt Nam


Một khối nghĩ suy đã đi xa...


GS Phan Đình Diệu sinh năm 1936 tại Hà Tĩnh. Ông được ghi nhận là một trong những người có công lao đầu tiên xây dựng và phát triển ngành tin học tại Việt Nam. Trong cuộc đời mình, ông cũng nổi tiếng với sự chính trực và có những đóng góp tâm huyết về chính sách phát triển khoa học giáo dục nước nhà.


GS Phan Đình Diệu trong một lần trả lời phỏng vấn VietNamNet về những người mở đường đưa internet vào Việt Nam. Ảnh: Lê Anh Dũng


Ông là viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học tính toán và Điều khiển (nay là Viện Công nghệ thông tin Việt Nam), người sáng lập Hội Tin học Việt Nam, Phó Trưởng ban thường trực Ban chỉ đạo Chương trình quốc gia về Công nghệ thông tin khoá 1 (1993-1997).


Sinh ra và lớn lên ở Hà Tĩnh, ông học Trường ĐH Sư phạm Khoa học với một lý do đơn giản là để có học bổng vì kinh tế khó khăn. Ở đây, ông tìm thấy sự say mê với ngành Toán học. Năm 1957, ông tốt nghiệp thủ khoa và được giữ lại trường giảng dạy.


Sau khi hoàn thành luận án tiến sĩ khoa học ở Liên Xô ngành Toán học tính toán và Điều khiển học, ĐH Tổng hợp quốc gia Moskva, ông về nước và bắt đầu tập trung nghiên cứu và phát triển ngành Khoa học máy tính ở Việt Nam.


Năm 1971, ông được đề nghị làm Trưởng phòng Toán học tính toán của Uỷ ban Khoa học Nhà nước vào thời điểm cả nước chỉ mới có một dàn máy tính đuợc đặt tại đây, đòi hỏi phải được nghiên cứu để sử dụng và đào tạo cán bộ. Ông đã tìm hiểu và học tập để xây dựng những tập thể cán bộ không những biết sử dụng máy tính, mà còn có khả năng nghiên cứu ở trình độ cao về một số hướng phát triển hiện đại của khoa học máy tính và tin học.


Không chỉ là một nhà khoa học tài năng, GS. Phan Đình Diệu còn là một người thầy gần gũi, tận tình mà nghiêm khắc với học trò. Ông có thời gian làm cán bộ giảng dạy ở Khoa Công nghệ Thông tin (sau này là Trường ĐH Công nghệ, thuộc ĐHQG Hà Nội), và là chuyên gia cao cấp của đại học này.


Ông cũng là Ủy viên Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về khoa học giáo dục.


Gia đình GS Phan Đình Diệu có 3 người con. Các con trai, gái, dâu, rể đều theo đuổi sự nghiệp khoa học - giáo dục và công tác tại các môi trường Pháp, Mỹ, Việt Nam. Trong đó GS Phan Dương Hiệu, PGS Phan Thị Hà Dương, là những nhà toán học sớm đạt được nhiều thành tựu từ khi còn trẻ.


Nhớ lại những kỷ niệm với GS Diệu, anh Giang Công Thế (làm việc tại Ngân hàng Thế giới) – thường được biết tới với bút danh Hiệu Minh – kể lại: “Là người có tâm với khoa học và rất yêu toán và tin, anh (GS Diệu) bỏ không biết bao công sức để xây dựng ngành này cho nước nhà cùng với những giáo sư đầu ngành như Tạ Quang Bửu, Hoàng  Tụy, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Văn Đạo…


Đi sang Pháp, thay vì dành tiền mua xe Peugeot về bán lấy lãi như nhiều người, anh mua rất nhiều linh kiện PC cho Viện”.


Trong một buổi gặp gỡ tại Sài Gòn với nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải, khi được hỏi  "Tại sao ông mê khoa học xã hội?", GS Phan Đình Diệu trả lời: "Nó hấp dẫn. Tôi thích tìm hiểu từ nhân văn, văn học, nghệ thuật, khuynh hướng hậu hiện đại. Tôi cảm thấy người ta nói đến hậu hiện đại một cách thời thượng chứ chưa thật sự hiểu".


Hồi tưởng lại những kỷ niệm với GS Phan Đình Diệu, anh Đào Kiến Quốc (công tác tại Trung tâm Ứng dụng Công nghệ thông tin của ĐHQG Hà Nội) đã viết:


"Ông là người cực kỳ uyên bác và khúc triết. Nhưng bài ông trình bày trong semina đều rất sâu sắc. Thời làm tiến sĩ khoa học bên Nga, thầy làm về toán học kiến thiết, một thứ toán có liên quan mật thiết đến lý thuyết tính toán. Toán học kiến thiết không thừa nhận luật phản chứng, không thừa nhận vô hạn tiềm năng, chỉ thừa nhận vô hạn thực tai, không thừa nhận sự tồn tai theo kiểu kinh điển mà tồn tại tức là phải có một quy trình chỉ ra được sau hữu hạn bước. Điều này thật phù hợp với tư duy máy tính... Nghe nói, khi thành lập Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển, người ta giao cho TSKH Nguyễn Thúc Loan làm Viện trưởng và chính ông Loan sau một thời gian ở vị trí này đã nói, xin để anh Diệu làm Viện trường, anh ấy làm sẽ tốt hơn tôi.


Thầy Diệu chuyển về làm cho Chương trình Quốc gia về CNTT giai đoạn 1996-2000 (thường được gọi là IT2000). Chương trình này đã đặt ra những vấn đề nền tảng cho sự phát triển CNTT của VN sau này trong đó có việc thành lập các khoa CNTT trọng điểm, việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, việc tin học hóa hành chính nhà nước. Năm kia, tôi đọc lại các tài liệu về chương trình này và vẫn không hết ngạc nhiên về tầm nhìn của GS mặc dù đã qua 20 năm".


Theo GS Nguyễn Đăng Hưng, Chủ nhiệm chương trình cao học Việt – Bỉ kể lại, trong khoảng thời gian dài hợp tác khoa học giáo dục với Viêt Nam đã có gần 20 giảng viên, giáo sư được ông mời sang Bỉ giao lưu khoa học. Buổi thuyềt trình về “Tin học và trí thông minh nhân tạo” của GS Phan Đình Diệu đã để lại ấn tượng rõ nét nhất trong tâm hưởng các nhà khoa học Bỉ.


"Khác với nhiều nhà khoa học sao nhãng khoa học trong thời gian dài - điều khó tránh khỏi là họ và nhanh chóng trở thành tụt hậu - GS Phan Đình Diệu vẫn tiếp tục nghiên cứu trong những điều kiện khó khăn. Kết quả là khi qua các nước phát triển giao lưu khoa học ông không có dấu hiệu đến từ một nước chậm phát triển như tôi thường thấy”.


Từ năm 2003, ông tham gia diễn đàn cải cách giáo dục của 23 nhà khoa học trong và ngoài nước do GS Toán học Hoàng Tuỵ khởi xướng, có tên là “Hướng về giáo dục”. Phương châm “cải cách giáo dục: mệnh lệnh của cuộc sống” đã được nhóm duy trì trong các hoạt động góp ý, phản biện chính sách sau này.


Hạ Anh - Nguyễn Thảo/ vietnamnet.vn


Giáo sư Phan Đình Diệu 'là kẻ sĩ chân chính, cương trực'


Một cựu quan chức Ban Dân vận nói với BBC rằng bi kịch "không được lắng nghe" của giáo sư Phan Đình Diệu cũng là của giới trí thức Việt Nam.


Giáo sư Diệu là người sáng lập và Chủ tịch đầu tiên của Hội Tin học Việt Nam.


"Ông Diệu được ghi nhận là một trong những người có công lao đầu tiên xây dựng và phát triển ngành tin học tại Việt Nam. Trong cuộc đời mình, ông cũng nổi tiếng với sự chính trực và có những đóng góp tâm huyết về chính sách phát triển khoa học giáo dục nước nhà," theo VietnamNet hôm 13/5.


Thập niên 1990, ông là cựu đại biểu Quốc hội khóa VI nhưng sau đó có tin ông "bị gạt bỏ khỏi danh sách đại biểu Quốc hội" vì tham gia hoạt động phong trào dân chủ, đòi đổi mới chính trị để phát triển đất nước.


'Tiếng nói bị bỏ ngoài tai'


Hôm 14/5/2018, trả lời BBC từ Hà Nội, Giáo sư, Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, cựu Vụ trưởng Nghiên cứu, Ban Dân vận Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nói: "Qua những dịp trò chuyện cùng Giáo sư Phan Đình Diệu, tôi nhận thấy ông là kẻ sĩ chân chính, cương trực."


"Ông có nhiều tư tưởng mới và phát biểu thẳng thắn về những vấn đề dân chủ, không tán thành chế độ độc đảng."


"Đáng tiếc là giới lãnh đạo đã bỏ ngoài tai, không nghe, không sửa."


"Lẽ ra người ta phải đem ý kiến của ông ra phân tích, tranh luận để cho đất nước tốt đẹp hơn."


"Bi kịch không được lắng nghe của Giáo sư Phan Đình Diệu cũng là của giới trí thức Việt Nam."


"Dù ông mất đi, nhưng hy vọng tinh thần Phan Đình Diệu vẫn vĩnh hằng trong giới trí thức chân chính."


Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng viết trên trang cá nhân: "Giáo sư Phan Đình Diệu hẳn để lại niềm thương tiếc sâu sắc cho các đồng nghiệp, các học trò cũ, những con người tử tế trong giai đoạn vàng thau lẫn lộn, thế sự không bình thường của đất nước."


GS Phan Đình Diệu, sinh năm 1936 ở Hà Tĩnh.


Xây dựng và phát triển ngành tin học tại Việt Nam, viện trưởng đầu tiên của Viện Khoa học tính toán và Điều khiển (nay là Viện Công nghệ thông tin Việt Nam)


Tiến sĩ khoa học ở Liên Xô ngành Toán học tính toán và Điều khiển học


"Khi còn tại chức tại Bỉ, trước năm 1990, theo dõi tình trong nước, tôi chú ý đến ông vì những phát biểu khách quan, vô tư của ông về tình hình chính trị, kinh tế, khoa học, xă hội Việt Nam lúc bấy giờ! Trong bối cảnh đơn điệu của những bế tắc triền miên, đây là thái độ dũng cảm hiếm hoi đầy khí phách của một trí thức xă hội chủ nghĩa!"


"Nét thông tuệ đáng nể nhất của ông Diệu là những nhận xét, những quan điểm của ông về tình hình xă hội chính trị Việt Nam và quốc tế. Ông không hề ngần ngại tỏ rõ chính kiến của mình khi có dịp phát biểu thông qua các phương tiện thông tin đại chúng."


'Trong những năm sau 1975, được hỏi về ảnh hưởng chính trị đối với đất nước của một vị quan to nhất lúc bấy giờ, Giáo sư Diệu đã không ngần ngại phát biểu: "Vị lãnh đạo ấy rất vĩ đại, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ tới thắng lợi, nhưng vĩ đại hơn, nếu ông từ chức ngay bây giờ".


"Giáo sư Diệu đã dự đoán không đúng. Vị quan đứng đầu nước ấy làm sao từ chức được và ảnh hưởng về những quyết sách của vị lãnh đạo này trong những năm bao cấp 1975-1986 như thế nào thì nay ai cũng biết."


"Giáo sư Diệu là nhà khoa học, ông không phải là nhà chính trị nhưng những chính kiến công khai và minh bạch của ông về tình hình chính trị xã hội thật là sắc sảo, những phản biện thẳng thắn của ông về chính sách của chính phủ hiện hành thật là thấu đáo thông tuệ," ông Hưng viết.


Về ý thức hệ, trí thức và giáo dục


Hồi năm 1992, khi trả lời Stein Tønnesson, người Na Uy, GS Phan Đình Diệu đã nói về trí thức ở Việt Nam:


"Trái ngược với nền giáo dục thời Pháp, chế độ xã hội chủ nghĩa đào tạo ra những chuyên viên hơn là những trí thức. Chúng tôi có nhiều nhà toán học, nhà vật lý học, nhà sinh học, kỹ sư... và bây giờ thêm nhiều nhà kinh tế. Nhưng chưa bao giờ họ được học để suy nghĩ về các vấn đề của xã hội. Đảng nghĩ hộ cho mọi người. Ý thức chính trị của các chuyên viên nói chung là yếu. Những người giỏi tham gia chính quyền, và tự nhiên là đảng viên.


Rất có thể nhiều chuyên viên, trong cuộc sống riêng, cũng có tư tưởng dân chủ, nhưng không có cách gì kiểm nghiệm điều đó cả.


Thành phần thứ ba là những trí thức được đào tạo trước đây ở miền Nam. Phần đông đã bỏ đi. Tất nhiên có thể họ sẽ trở về giúp nước bằng cách này hay cách khác, nhưng muốn đóng một vai trò chính trị có ý nghĩa, thì người trí thức phải gần gụi nhân dân. Cuộc sống kéo dài ở hải ngoại không phải là mảnh đất thuận lợi cho một lực lượng trí thức tích cực.


Cuối cùng là thanh niên, những người vừa được hay còn đang được đào tạo trong những năm gọi là đổi mới. Những năm gần đây, quả đã có một nền văn nghệ độc lập khởi sắc. Nhưng còn phải có thời gian thì các xu hướng nói trên mới có thể hình thành một lực lượng xã hội chính trị thực sự. Nói tóm lại, kết luận của tôi là hiện nay Việt Nam chưa có một giai cấp trí thức."


Cũng từ khi đó, trong bài trả lời phỏng vấn sau được đăng trên Nordic Newsletter of Asian Studies (1993), ông nói với nhà sử học Na Uy về hệ thống xã hội chủ nghĩa và ý thức hệ Marxist-Leninist như sau:


GS Phan Đình Diệu từng được học giả nước ngoài ví với Andrei Sakharov nổi tiếng của Liên Xô cũ, người sau phản đối nhiều chính sách của Kremlin


"Là một người làm khoa học, đã từ khá lâu tôi phát hiện ra rằng chủ nghĩa Mác-Lê khó có thể mang lại điều gì hữu ích cho một nước muốn thoát ra khỏi nghèo nàn. Nghiên cứu khoa học điện toán, thuyết hệ thống và các vấn đề quản lý hiện đại, tôi nhận ra rằng mô hình xã hội chủ nghĩa như học thuyết Mác-Lê xác định không phù hợp với một nước muốn phát triển về xã hội, kinh tế và khoa học.


Vì những lý do hiển nhiên, Marx và Lenin không có điều kiện tìm hiểu xã hội hiện đại. Song đảng cộng sản ở Việt Nam cũng như ở các nước khác đã ngây thơ tìm cách áp dụng học thuyết của họ vào xã hội hiện đại. Sự thất bại của họ đã được minh chứng rõ rệt nhất trong cuộc cách mạng điện toán, đặc trưng của thế giới trong thập niên 1980.


Sự thất bại của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa ngày nay hầu như mọi người đều thấy rõ. Vấn đề còn lại là biết rút ra kết luận một cách đầy đủ và từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lê."


Được biết, Stein Tønnesson đã hỏi Phan Đình Diệu khi gặp nhau tại Hà Nội rằng ông có phải là 'Sakharov' của Việt Nam, và được nghe câu trả lời:


"Tôi không phải là một chính khách và tôi không có tham vọng (chính trị). Song, với tư cách một nhà khoa học và một công dân yêu nước, tôi muốn tham gia việc nước. Dân chủ là tham gia việc nước."


Sang năm 2008, trả lời BBC Tiếng Việt, GS Phan Đình Diệu nói về giáo dục Việt Nam:


"Nếu cứ bám chặt quan điểm về giáo dục là phải bồi dưỡng một ý thức hệ nào đó thì sẽ rất khó khăn,"


"Mục tiêu của giáo dục không phải là dạy cho học trò biết đủ mọi thứ".


Theo ông các chính sách về giáo dục ở Việt Nam [cho đến gần 2008] vẫn mang tính chạy theo thành tích bề nổi mà không đề cập đến những vấn đề cơ bản một cách thỏa đáng, hay "chưa trúng đích".


Nguồn: BBC.


Tâm và Tầm của một trí thức Việt


Hồi đầu Xuân 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bỗng đi thăm một số trí thức lão thành, trong đó có GS. Phan Đình Diệu. Khi đó, GS đã không còn minh mẫn. Nhưng cuộc viếng thăm của Thủ tướng tới tận nhà ông, chứng tỏ sự trọng thị trí thức của Chính phủ mới, đó là tín hiệu tốt lành cho thời kỳ kiến tạo và phát triển.


Tôi đón nhận tin này với tâm trạng rất vui bởi GS. Diệu là đồng nghiệp, một nhà khoa học lớn, một nhân sỹ đáng kính với sự chính trực của một trí thức theo đúng nghĩa.


Có một kỷ niệm nho nhỏ. Năm 1977, tôi đang học năm cuối của khoa Toán Tin của Đại học Tổng hợp Warsaw, tốt nghiệp thì về nước, còn trẻ nên chả lo tìm việc. Nhớ trưa đó, có người gõ cửa và bảo, muốn nhờ cắt tóc cho một vị khách từ trong nước.


Gặp một người trán rộng, rất trẻ khoảng trên dưới 40 tuổi, giọng Nghệ Tĩnh khỏe và khá thân thiện, tự giới thiệu là Phan Đình Diệu, Viện trưởng Viện Khoa học Tính toán và Điều khiển, tiền thân của Viện Công nghệ Thông tin bây giờ.


Sinh viên học nước ngoài 5-6 năm nên chả biết trong nước ra sao, chẳng có thông tin như bây giờ, thư đi cả tháng mới tới so với thời internet có thể inbox nhắn nhau vài giây với khoảng cách hàng chục ngàn km. Vừa cắt tóc cho anh (thực là xén qua cho gọn bằng kéo) vừa được anh hỏi chuyện thân tình.


Hỏi cậu học gì. Dạ em học tin học ạ. Ôi, viện mình đang tìm người tốt nghiệp ngành này đây. Mình thật thà, nhưng em học kém lắm, không có bằng đỏ. Mình lấy người về làm việc chứ không lấy bằng đỏ. Và anh ghi cho tôi mảnh giấy hẹn, nếu về Hà Nội thì tìm anh.


Cứ nghĩ anh hứa cho qua, nhưng tốt nghiệp về Hà Nội mới thấy xin việc với bán kính quanh hồ Gươm vài km, mốt thời thượng hồi đó, là không hề dễ vì ngành tin mới quá. Chợt nhớ ra địa chỉ liên lạc, tìm lên khu Đồi Thông trong làng Liễu Giai hoang vắng, nhà cửa tồi tàn, dân trồng hoa tưới phân tươi, thế mà vẫn có một viện khoa học đầu ngành với những cán bộ nghiên cứu trẻ măng đang miệt mài bên những trang sách với những giấc mơ đưa đất nước bay xa.


Thật bất ngờ, GS Diệu vẫn nhớ bạn trẻ cắt tóc ấy và bằng một cái giấy viết tay lên Bộ Đại học, sau vài tuần, tôi nhận việc ở viện mà không hề tốn một điếu thuốc nào.


Làm việc với giáo sư sau gần hai chục năm, tôi hiểu ông nhìn vào hiệu quả công việc chứ không dựa vào bằng đỏ bằng xanh hay học vị, học hàm. Chỉ cần chi tiết đó thôi đã làm cho lớp trẻ khoa học như tôi lao động hết mình, cơm cặp lồng rau muống luộc nhưng thức thâu đêm để tìm lỗi cho hàng ngàn dòng lệnh ngôn ngữ máy.


Đi theo ông là những nhà khoa học trẻ, muốn cống hiến hết mình cho cái máy vi tính đầu tiên tại Việt Nam cũng như ở châu Á, mà bản thân ông cũng phải xách tay nhưng chip từ Pháp về thay vì mua xe máy Peugot tương đương với một căn hộ cao cấp.


Nhưng theo một nghĩa nào đó, chúng tôi chỉ là những thợ lập trình, thợ công trình khoa học, thợ các dự án, nhưng chưa phải một trí thức biết suy nghĩ về thời cuộc. Nói chuyện với ông lúc trà dư tửu hậu mới biết sự trăn trở của ông về hệ thống, về phe Liên Xô, Đông Âu, bên này bên kia, mà ông từng phát biểu trong các hội nghị, nói với các nhà lãnh đạo cao cấp thời đó, cái được và chưa được với những giải pháp cấp bách.


Cách đây gần 30 năm, khi bàn về vai trò của trí thức, GS cho rằng, nước ta có nhiều nhà toán học, nhà vật lý học, nhà sinh học, kỹ sư, và nhà kinh tế. Theo GS, đào tạo những “nhà trên” thành chuyên viên thì dễ nhưng thành trí thức khó hơn bởi họ phải học để độc lập trong tư duy và luôn suy nghĩ về những vấn đề của xã hội.


So sánh ba thời kỳ, ông chỉ rõ, trí thức thời Pháp thuộc có những người dũng cảm và đáng kính, lớp người được đào tạo sau 1954 mang bóng dáng các chuyên viên, lớp trí thức miền Nam sau 1975 thì phần lớn đã ra đi hoặc chọn sự im lặng, nếu họ muốn quay về phục vụ thì cũng khó bởi họ xa rời môi trường trong nước mà hải ngoại không phải là mảnh đất thuận lợi cho lực lượng trí thức tích cực.


Theo ông, lực lượng trí thức phải độc lập về xã hội và chính trị, là cánh chim báo bão cho thời đại. Thế hệ chúng tôi quả là thiếu vắng tầm nhìn đó bởi cơm áo gạo tiền, ăn chưa đủ, nước điện phập phù, bụng đói làm sao nghĩ được vĩ mô, có tâm chưa đủ.


Làm việc một thời gian dài, tôi biết ông sinh ra trong một gia đình giầu truyền thống hiếu học ở Can Lộc, Hà Tĩnh, cha là giáo viên thường xa nhà, mẹ làm ruộng nuôi 7 người con ăn học, từ nhỏ ông đã tỏ ra là học sinh xuất sắc trong vùng. Năm 1954 tốt nghiệp cấp 3, cậu học trò Diệu đi bộ 10 ngày từ Hà Tĩnh ra học ĐH Sư phạm ở Hà Nội.


Vợ GS Phan Đình Diệu là Văn Thị Xuân Hương, em gái nhà giáo Văn Như Cương. Gia đình GS Diệu có 3 người con, đều theo nghiệp khoa học giáo dục.


Từ đó là đam mê toán học và sau này thành tài năng khi đi nghiên cứu sinh năm 1962 ở Liên Xô, bảo vệ tiến sỹ khoa học lúc 30 tuổi, công trình Tiến sỹ này được in như một cuốn sách của tạp chí khoa học uy tín Steklov của Nga và năm 1974 được Hiệp hội Toán học Mỹ dịch và xuất bản bằng tiếng Anh.


Nhớ hồi về viện dự các buổi seminar do ông giảng về otomat hữu hạn, lưới Petri, dù kiến thức toán tin rất cao siêu nhưng cách giảng của ông rất dễ hiểu, hội trường lúc nào cũng đông nghịt. Nhưng ít ai biết vị giáo sư này thường dậy từ 3 giờ sáng đợi hứng nước và xách lên tầng 5 cho vợ đang nuôi con nhỏ ở cái thời mà “ban ngày cả nước lo việc nhà, ban đêm cả nhà lo việc nước”.


Dù kinh qua nhiều chức vụ quan trọng như Viện phó Viện Khoa học Việt Nam, Viện trưởng KH Tính toán và Điều khiển, sáng lập Hội Tin học và Chủ tịch đầu tiên, Đại biểu Quốc hội 1976-1981, nhiều chức danh khác hay chủ trì nhiều dự án lớn tầm quốc gia, nhưng có lẽ ông không thích nhắc đến. Nhưng là người biết ông khá rõ, tôi tin ông sẽ rất vui khi được nhắc đến như một người đóng góp lớn cho nền toán tin và nhất là khởi xướng thời đại vi tính tại Việt Nam ngay từ đầu những năm 1980 và coi đây là cuộc cách mạng lớn thay đổi nhân loại. Năm 1981, chiếc máy vi tính đầu tiên sản xuất tại VN và Đông Á có tâm huyết không nhỏ của ông.


Ngoài chuyện làm khoa học, với tư duy độc lập, logic và kết hợp với triết học của người làm toán, GS Diệu đã có những cách nhìn sâu rộng về thời cuộc, xu hướng phát triển và những sự đổi thay cần thiết để đổi mới đất nước. Những ý kiến phản biện thẳng thắn và chân thành của ông có ý nghĩa lớn vào sự đổi mới, góp phần giúp đất nước phát triển hơn, dân chủ hơn.


Những bài viết của ông được xây dựng trên cơ sở khoa học, phân tích các dữ liệu thực tế, phân tích các vấn đề cốt lõi của sự phát triển nền kinh tế và xã hội, mang một tầm nhìn xa và vẫn còn giá trị sau nhiều thập kỷ.


Không phải bỗng nhiên mà ông được gọi là trí thức – nhân sỹ bởi sự trung thực, tâm tài song toàn, những bài viết, những phát biểu để đời, những tiếng nói lay động thuyết phục, nhằm đóng góp chung.


40 năm trước ông đi tìm người cho nền tin học nước nhà và tôi may mắn gặp được ông. Giữ một lời hứa mà tôi có việc làm tại Hà Nội và nhân cách của ông giúp tôi hiểu thêm, trí thức ngoài việc giỏi chuyên môn cũng cần một tầm nhìn thời cuộc, biết chắp cánh ước mơ cho tuổi trẻ, dù đời thường vẫn phải xách nước giúp vợ đẻ.


Rất có thể từ một chuyện nhỏ GS Diệu nhớ cậu sinh viên trẻ cắt tóc bên Warsaw, nên một hôm có Thủ tướng nhớ tới ông có tâm và tầm của trí Việt để hỏi về chính phủ kiến tạo, bởi kiến tạo thì không thể thiếu giới trí thức đúng nghĩa.


 Hiệu Minh/ VNN


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hoài Anh và đồng nghiệp: Cuốn sách nghĩa tình - Phương Nguyên 24.06.2018
Giáo sư - bác sỹ Nguyễn Huy Dung: 'Cao niên tự vấn lòng mình bằng thơ' - Khôi Ngyên Thảo 24.06.2018
Hồng Nhu tuổi hồi xuân - Nguyễn Khắc Phê 24.06.2018
Những bài viết về PGS, TS, Nhà giáo Ưu tú Trần Đình Hượu - Nhiều tác giả 24.06.2018
Làng xã Việt Nam và ảnh hưởng của Nho giáo trong xã hội Việt Nam hiện đại (2) - Trần Đình Hượu 24.06.2018
Về đặc sắc Văn hóa Việt Nam* - Trần Đình Hượu 24.06.2018
Nho giáo với tư cách là một tôn giáo - Trần Đình Hượu 24.06.2018
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - cách gọi ngày tháng/thời gian (phần 6) - Nguyễn Cung Thông 23.06.2018
Trung –Việt vân vi - Nguyễn Xuân Hưng 19.06.2018
Võ Văn Kiệt, người của nhiều người! - Nguyễn Thế Thanh 19.06.2018
xem thêm »