tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Doanh nghiệp Sách Thành Nghĩa TP. Hồ Chí Minh

 

 

Nhà hàng Việt Phố

 

Khách thăm: 11995607
Những bài báo
27.07.2009
Hồng Lê Thọ
Trong nỗi đau lặng lẽ



 


            Vào những ngày cuối năm, người Nhật cũng như người Việt Nam hay Trung Quốc họ tưởng nhớ những người trong gia đình đã qua đời không những bằng tâm niệm mà còn đi tảo mộ, làm cỏ, quét dọn sạch sẽ nơi người thân an giấc nghìn thu; đốt nén nhang an ủi trước khi đón Xuân sang.



            Trước đêm Ba mươi, bàn thờ đã được chuẩn bị chu đáo, trang nghiêm để đón tổ tiên, người thân nơi cỏi vĩnh hằng về, cùng hưởng những giây phút thiêng liêng ngày Tết. Đó là một nét văn hóa mang tính tôn giáo phương Đông. Vậy mà ở nước ta hiện nay, không phải tất cả mọi người đều được hưởng sự thiêng liêng đó. Đã 24 năm trôi qua sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, nhiều và rất nhiều gia đình vẫn chưa biết chồng, cha, con, anh em của mình đã hy sinh phương nào sau khi rời quê hương đi chiến đấu trên các chiến trường. Con số 300.000 người mất tích trong chiến tranh đang được tìm kiếm trong các chương trình "Nhắn tìm đồng đội" trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những lời kêu gọi tha thiết tìm giúp thân nhân, nhắn gửi bạn bè cùng đơn vị ngày trước của người mất tích với hi vọng mong manh ấy luôn làm tôi xúc động, đặc biệt là vào một buổi chiều cuối năm ngồi trên xe từ Tây Ninh trở về thành phố sau hai ngày cùng hai anh em bạn đi tìm người cha của họ. Bật công tắc nghe Đài Tiếng nói Việt Nam, tình cờ gặp đúng chương trình "Thông tin về những người con hy sinh vì Tổ quốc" trong khi bên ngoài cơn mưa áp thấp nhiệt đới còn sót lại,ntuôn xối xả, lại càng nhức nhối thêm.


            Không phải là một lời hứa, và cũng không hẹn trước, tôi được dịp theo chân hai anh em có người cha đã hy sinh ở mặt trận, mà nhiều nguồn tin trước đây cho biết có thể ông đã mất tại Tây Nguyên; thầy "bói" còn nói cụ thể là chết tại Dăk Lăk. Họ đã tìm kiếm suốt 23 năm qua nhưng vẫn bặt vô âm tín. Cuối cùng hai anh quyết tâm đi sóc Con Trăng thuộc huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh theo lời kể của một người bạn cùng chiến đấu với người cha các anh ngày trước là ông đã hy sinh tại nơi ấy. Trong cái nắng chói chang đầu mùa khô, chúng tôi về Nghĩa trang liệt sĩ Dương Minh Châu tìm tên ông trong hàng chục quyển sổ đã sờn rách do ban quản trang giữ gìn, nhưng tiếc thay, hài cốt của người được đem về đây chôn cất mà theo một đồng đội của ông kể, có thể đó chính là người cha của hai anh em, thì chỉ trùng họ, còn tên thì lại khác, nguyên quán lại được ghi một cách chồng chéo là quê Hòn Gai -  Quảng Ninh - Quảng Bình (?). Người cha của hai anh em bạn tôi là một tham mưu trưởng cấp trung đoàn từ Quảng Bình vào chiến trường Tây Nguyên tháng 5-1965, cuối năm 1968 lại được điều vào miền Đông Nam bộ, giấy báo tử chỉ ghi thật ngắn gọn "Thi hài đã mai táng tại khu vực rừng của đơn vị gần mặt trận" vào tháng 2-1969.


            Sau hai ngày lui tới Sở  Lao động - Thương binh Xã hội Tỉnh, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Dương Minh Châu và dò tên trên các nghĩa trang tại Tỉnh Tây Ninh; truy cập trên máy vi tính của những nơi có trách nhiệm quản lý hồ sơ liệt sĩ đã được quy tập, các anh không thể xác định được tên và ngôi mộ nào là của cha mình, rất có thể hài cốt của ông đã bị thất lạc. Hai người bạn cùng tôi thắp đều trên mỗi ngôi mộ một cây nhang. Bia trên nhiều ngôi mộ văng qua một bên, bị cỏ dại bao phủ hay không còn, trông rất đau lòng.Theo lời kể của một cụ già ở địa phương, Dương Minh Châu ngày xưa  bạt ngàn rừng nguyên sinh, có suối Đá, suối Nước Trong nay đã chìm dưới lòng hồ Dầu Tiếng, có thể người cha của các anh đã an nghỉ nơi đây. Chúng tôi cũng đã tìm đến Sóc Con Trăng -khu vực gần biên giới Campuchia nay là một vùng dân cư đông đúc- dấu vết của chiến tranh đã lùi về quá khứ. Sóc Con Trăng ngày trước đã bị bom đạn, xe tăng và thuốc độc khai quang, chà xát biết bao lần, nhiều chiến sĩ anh hùng của ta đã ngã xuống nơi đây.


            Cơn mưa trên đường trở lại thành phố vẫn chưa dứt, đài phát thanh tiếp tục đọc tên, đơn vị, ngày tháng tham gia chiến đấu, có người đã ra đi từ những năm 50, rồi 62, 67 và cả những năm 70, 75 đến nay vẫn chưa về... Hai người con trai yên lặng nhìn ra cửa xe, tay run run cầm chặt tấm ảnh người cha; trong chiếc ba lô đặt ngay chân ghế, những phẩm vật để sửa sang mộ cho cha được chuẩn bị từ trước vẫn còn nguyên vẹn, nặng trĩu.


            Hình ảnh những nghĩa trang liệt sĩ với những ngôi mộ được xây ngay ngắn nhưng hoang vu; tiếng thở dài thất vọng của hai anh em người bạn từ Huế vào đây tìm mộ cha đã làm mắt tôi đỏ cay. Chiến tranh trên đất nước ta đã kết thúc gần một phần tư thế kỷ nhưng noi đau mất mát vẫn còn đó, thật âm thầm và day dứt như hàng chục nghìn em bé Nhật Bản bị bỏ lại ở Trung Quốc, sống lạc loài sau chiến tranh trong suốt 53 năm qua, chưa một lần gặp gỡ người thân, cha mẹ... Thời gian trôi nhanh, niềm hi vọng của họ càng mong manh hơn...


            Thầm nghĩ, ước gì ở Côn Đảo, Phú Quốc, ở mỗi nghĩa trang liệt sĩ khắp đất nước ta có một ngôi nhà tưởng niệm* có tấm đá hoa thật đẹp ghi rõ họ tên, ngày tháng của từng con người đã hy sinh vì Tổ quốc một cách trang trọng để những người thân và thế hệ mai sau đi hành hương, tưởng niệm.


            Chia tay hai anh em bạn, tôi trở về khi đường phố đã lên đèn, rộn ràng không khí đón Xuân sang. Những ngày được nghỉ ngơi cuối năm, theo tôi cũng là những ngày bình yên giúp ta ôn lại, nhớ về nguồn cội để biết ơn...


                                               


HLT.


1-1999


 


(*) Sau 10 năm, đến nay, nhiều nơi đã xây dựng ngôi nhà như thế.


 


Bài đã đăng trên Sài Gòn Giải Phóng


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


SỨC SỐNG CỦA MỘT DÒNG VĂN HỌC


 


Giữa đám đông xa lạ ở xứ người, tình cờ trông thấy bóng dáng một người con gái Việt Nam nào đó mặc chiếc áo dài thướt tha trên sân ga, chắc chắn dù không quen biết, bạn cũng sẽ không dằn được tình cảm và ước muốn gửi đến một lời chào hỏi, nần ngần xao xuyến cho đến khi bóng người mất hút. Những cảm xúc tương tự như vậy đã đến với tôi thật đột ngột, sung sướng khi vào một ngày cuối năm 1998, đang loanh quanh khu phố sách Kanda (Tokyo - Nhật Bản) để sưu tầm tư liệu khảo cổ học, tôi gặp được một tập truyện và ký có nhan đề "Văn học giải phóng Việt Nam" (*), ra đời hơn 22 năm về trước. Đó là tác phẩm gồm 12 truyện và ký của các nhà văn Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Nguyễn Thi, Tô Nhuận Vỹ, Phan Tứ ... do chính anh em trong phong trào yêu nước tại Nhật Bản (1969 - 1976) dịch ra tiếng Nhật với mục đích giới thiệu rộng rãi với bạn bè và công luận một dòng văn học mới đầy sắc thái và nhân bản trong cuộc chiến đấu vì độc lập, tự do, vì sự nghiệp giải phóng đất nước.


 


Điều mừng khôn tả là tập truyện và ký này vẫn được tiếp tục tái bản đến ngày nay và đủ sức sánh vai cùng với hàng trăm tác phẩm văn học nổi tiếng trên thế giới, có mặt một cách trang trọng tại cửa hàng sách báo nổi tiếng và lớn nhất ở đây mặc duv nó đã được ra đời từ năm 1976, đúng ngày kỷ niệm 1 năm đất nước hoàn toàn giải phóng. Ôi, những câu chuyện ngắn từ vùng giải phóng sang đến bên này với chúng tôi qua đường chuyền tay trên 25 năm về trước, đã là một trong những động lực kéo anh em chúng tôi trở về với nguồn cội, dẫn dắt lớp trẻ vào vòng tay lớn để từ đó đóng góp phần nhỏ bé của mình trong cuộc đấu tranh chưa biết lúc nào chấm dứt (vào thời buổi bấy giờ) nhưng đầy nhiệt huyết ấy, hôm nay vẫn còn đây, tiếp tục "sứ mệnh" của nó, là một trong những áng văn đại biểu cho dòng văn học tiến bộ và kiên cường, đầy tình người và tính chiến đấu. "Chiếc lược ngà" của Nguyễn Quang Sáng, "Về làng" của Phan Tứ, "Con tôi" của Anh Đức, "Chuyến tàu tuần tra đầu tiên" của Tô Nhuận Vỹ, "Câu chuyện làng tôi" của nguyễn Thi... đã một thời không chỉ làm cho chúng tôi khóc mà đã có hàng ngàn độc giả khắp nước Nhật gửi thư đến để nói lên niềm xúc động thật sự sau khi đọc xong tập truyện, bày tỏ thiện cảm, ước mong chia sẻ và đồng tình đối với công cuộc đấu tranh vô cùng gian khổ của nhân dân Việt Nam. Trong số 12 truyện và kýt, đã có 7 bài được đăng lần lượt trên báo Phá Xiềng (báo băng tiếng Nhật do tổ chức Người Việt Nam yêu nước biên tập) từ năm 1972 trong mục giới thiệu "Văn học vùng giải phóng" và chính nó đã trở thành một mặt bằng chiến đấu mới, một mục được quan tâm và ưa chuộng nhất.


 


Một nhà báo nổi tiếng ở Nhật Bản, anh Honda Katsuichi, phóng viên đầu tiên đặt chân vào vùng giải phóng năm 1966 với tập phóng sự chiến tranh "Một làng ở vùng giải phóng", hiện là một nhà văn trí tuệ hiện đại tiêu biểu, đã tham gia viết lời mở đầu cho tập Truyện và ký này, đánh giá sâu sắc: "Đọc được một tác phẩm như vậy, biết bao cảm súc đến với tôi, nhận ra được rằng song song với lịch sử có một nền văn học đầy sức sống mãnh liệt đã cùng tồn tại với xã hội, không cần đến một sự gọt giũa bằng thủ phsp, kỹ xảo trau chuốt nào cả vì sự thật của chân lý bao giờ cũng có đủ sức áp đảo, làm lu mờ cái cứng đơ gượng gạo mà các nước tiên tiến gọi là văn học thuần tuý". Nhận xét ấy thật đáng quí biết bao, Honda Katsuichi đã viết bằng một tấm lòng, sự nhân hậu mà anh đã cảm nhận được từ những tác phẩm đó, theo tôi là tuyên ngôn của những người đồng cảm trong văn học nghệ thuật. Hơn thế nữa, chính anh đã giúp chúng tôi ngay từ lúc thai ngén tác phẩm bằng cách hiệu đính, sửa chữa bản dịch tiếng Nhật thật nhuần nhuyễn, gọn ghẻ và sát nghĩa nhất với sự góp sức của 10 nhà văn, học giả và nhà thơ nổi tiếng của Nhật Bản, cùng tạo tiếng vang lớn cho dòng văn học giải phóng, Họ là các nhân vật trí thức hàng đầu không chỉ trong kĩnh vực chuyên môn mà còn là những người bạn thân của nhân dân VN, luôn đứng lên  phía trước cùng chúng tôi trong những buổi tuần hành, mít-tinh chống chiến tranh xâm lược của Mỹ, phản đối cuộc thảm sát ở Sơn Mỹ (Quảng Ngãi), chận xe tăng Mỹ rời căn cứ quân sự lên tàu sang VN tại cảng Yokohama... Vì vậy sự ra đời tập Truyện và ký này cũng làm một dấu ấn đặc sắc, kỷ niệm không thể nào phai mờ giữa những con người có cùng tâm huyết cho dù thuộc hai dân tộc khác nhau.


 


2-1998


HLT.


Báo SGGP 15-3-98


 


 


(*) Bản dịch tiếng Nhật "Betonamu No Haiho Bungaku" năm 1976, NXB Suzusawa (Tokyo), do tổ chức Người Việt Nam yêu nước tại Nhật Bản biên tập. Dịch giả, ông bà Lê Văn Tân (Việt kiều ở Nhật); 10 nhà văn, nhà thơ và học giả Nhật cùng hiệu đính.


-------------------


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà văn, nhà báo Nguyễn Xuân Hoàng qua đời - Nhiều tác giả 17.09.2014
Phạm Quỳnh yêu nước và cứu nước - Thu Tứ 17.09.2014
Tống Lệ Dung, bà quả phụ của TS, LS Nguyễn Mạnh Tường qua đời - Kiều Mai Sơn 11.09.2014
Lời chào từ biệt Facebook - Triệu Xuân 10.09.2014
Trường hợp Võ Phiến - Thu Tứ 10.09.2014
Nhà văn Võ Phiến an hưởng tuổi già - Phạm Xuân Đài 10.09.2014
Đô thị hóa ở Việt Nam: di sản, thực trạng - Lê Đỗ Huy 10.09.2014
Nguyễn Mạnh Cầm: Nhà ngoại giao của thời đổi mới và hội nhập - Bùi Hoàng Tám 10.09.2014
Tham nhũng: ‘rồng ăn thịt người’ ở Trung Quốc - Lê Đỗ Huy 10.09.2014
Trung Quốc xây căn cứ quân sự trái phép ở Trường Sa - Tư liệu 10.09.2014
xem thêm »