tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và
hội họa
truyện dân gian Việt Nam
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 1220017
Tiểu thuyết
07.12.2009
Lại Văn Long
Thạch đế

CHƯƠNG II


 Từ ngày công chúa phục sinh, đức vua có phần vui vẻ hơn. Song đó chỉ là bề ngoài, bên trong ngài ngấm ngầm thù Sanh - tên ăn mày rách rưới dám từ chối lời mời làm phò mã của ngài. Vốn tính thâm nên nỗi nhục này ngài giấu tận đáy lòng. Từ bao lâu nay ở cương vị ông vua, ngài quen thái độ ban ơn, bố thí. Quen được nghe ca ngợi tri ân. Vương quốc muôn vạn dân này thành hình ra sao? Sung sướng, đau khổ thế nào? Ngài cóc cần biết. Ngài cũng chả quan tâm đến xương máu, mồ hôi của những ai gầy dựng nên non sông gấm vóc, thành quách, lâu đài, làng mạc này! Ngài chỉ biết đang là vua, đang nắm quyền lực tối cao thì tất cả vật chất đến tinh thần ở xứ sở này là của riêng ngài. Chỉ mình ngài có quyền ban phát, tiêu xài hay tước đoạt. Dù đó là vàng bạc, sắt, gỗ hay xương máu. Đến trước ngài, từ tể tướng tới dân đen đều phải mọp lạy nói lời cung kính. Vậy mà thằng khố rách Thạch Sanh dám từ chối ân huệ của ngài. Chỉ với cái gật đầu, nó sẽ được hưởng lạc thú với thân thể đàn bà đẹp đẽ, danh giá nhất vương quốc. Một cái gật đầu, từ tên cùng đinh ngủ gốc đa thành hoàng tộc, ngựa xe đầy tớ, lâu đài xênh xang…


Hắn ngu thì kệ hắn! Hắn ngu thì tài sản của ngài bớt bị chia sẻ. Nhưng sao hắn dám từ chối ân huệ của quyền lực tột đỉnh? Dám xúc phạm từ công chúa cưng của ngài đến danh dự hoàng tộc trước đám đông? Đã vậy còn lên giọng dạy đời: “Hãy để Chân Lý là của chung như bệ hạ từng sáng suốt tuyên bố!”, có nghĩa là lúc ban ân huệ cho hắn, ta không sáng suốt? Hừm! Láo đến thế là cùng! Hơn nữa cãi lời vua thì khác nào muốn phản loạn!


 Ấm ức trong bụng, vua nghĩ kế trả thù và cũng là đập tan mầm mống phản loạn. Một hôm vua gọi Sanh từ nhà trọ vào hỏi một câu ghê rợn:


 - Ta muốn cưới mẹ mi làm thứ phi?


 Sanh chưa hiểu nên giương mắt ngơ ngác:


 - Tâu bệ hạ, mẹ tôi chết rồi!


 - Ta muốn làm chồng của cái xác ấy!


 Mặt vua tím bầm, mắt trắng dã, nụ cười vừa phóng đãng vừa thâm độc. Bá quan văn võ đứng hai bên nghe xong kinh sợ, không ai dám ngước lên. Sanh trừng mắt, run lên vì căm giận, dẫm chân thùm thụp rồi vung tay chửi toáng:


 - Đồ hôn quân bệnh hoạn!


 Vua cười nhạt, rít từng lời:


 - Tội khi quân, chết!


 Dứt câu, nền nhà dưới chân Sanh kêu “toác”, sụp “ầm”. Quên cả lễ nghi, bá quan bu đến xem thấy Sanh đã đứng dưới hố sâu cả vài sải tay. Trên ngai vàng vua lại phẩy tay. Tiếng ròng rọc rít lên ken két rồi từ trần cung điện, một khối đá lớn vuông vức được từ từ thả xuống lấp hố.


Thạch Sanh ở dưới gồng mình, đưa tay chống không cho khối đá nén xuống, sức mạnh ghê gớm ấy làm khối đá không xuống được, lồi cao hơn nền nhà đúng bằng chiều cao chống đỡ của Sanh. Vua cười khanh khách thú vị, ngài sai lính khiêng ngai vàng đặt lên đó rồi ung dung trèo lên ngồi, vuốt râu tự mãn:


 - Đè đầu, cưỡi cổ anh hùng được mới là vua giỏi!


 Các quan toàn thứ nịnh thần nhao nhao tán tụng. Ngài sướng quá lim dim, đê mê tận hưởng…


 


*


 Bị tước hết quyền chức, tài sản, mẹ Lý Thông buồn, bệnh, chết. Thông một mình lủi thủi về quê cày cuốc kiếm cơm. Đêm đêm nghiền ngẫm sách “Kinh bang tế thế” của thần tài, Thông vẫn tin rằng: “Hoàng đế của ngày mai sẽ thống trị thế giới bằng phương thức làm ra của cải nhiều nhất thay vì bằng những đạo binh”. Ngày còn làm tể tướng, Thông lập ra hàng trăm lò rượu trên khắp mọi miền đất nước. Cứ mỗi xã một lò. Nay vua lệnh hủy hết. Bởi vua và triều đình chỉ dùng rượu ngoại nhập, quên rằng dân chúng cũng có nhu cầu giải ưu phiền bằng rượu như quí tộc. Dưới con mắt của kẻ lên ngôi nhờ lý lịch hoàng tộc, quần chúng nhân dân luôn bị khinh rẻ, coi thường! Mặt khác, vua cũng sợ những cơn say của nghệ sỹ. Một thằng Thạch Sanh say sưa ca réo chửi đời làm dân kinh đô mê tít, muốn theo nó, chẳng phải là bài học đầu tiên về chống phản loạn đó sao?


 Mùi vị ngọt ngào, nồng nàn và những khoái cảm tuyệt diệu của rượu Lý Thông nổi tiếng một thời vẫn cứ âm ỉ thèm khát trong dân chúng. Khi Thông về ở ẩn, lý trưởng vùng đó mò đến đề nghị hợp tác nấu rượu lậu. Hắn nói:


 - Trước hết mình có thứ để vui, sau nữa bán rượu lời lắm!


 Thông vặn:


 - Vua cấm, nấu làm sao?


 Lý trưởng cười:


 - Vùng này xa kinh đô, dân đang thèm, ngu gì mách vua.


 Thông nghĩ phận mình đang bị lưu đày, có thêm tội nữa chẳng sao, nhận lời. Họ lập lò nấu lén trong các bụi lau, đế ngoài đồng (nên gọi lái rượu sang đế). Mỗi tuần hai lần xuất thành phẩm, toàn vào ban đêm. Dân khắp nơi cắn cỏ ngậm tăm xếp thành hàng dài chờ chực được phân phối. Lấy rượu xong bọc vò trong áo, tất tả về, chui vào buồng kín nhâm nhi từng chút, từng chút cho thỏa cơn thèm.


 Từ ngày có thêm hơi men kích thích hoan lạc, mỗi sáng dậy, phụ nữ có chồng hai má đỏ bừng, mặt mày phây phây thỏa mãn. Các bà thích lắm, hôm nào trước khi vào mùng cũng hít hít mồm chồng xem đã được bồi bổ bằng mấy ve đế chưa? Con nít theo những cuộc mây mưa cứ tì tì ra đời, nhận khổ. Mò tro, bốc trấu qua ngày rồi cũng lớn, cũng thành đàn ông, đàn bà. Ngày quần quật trên đồng, tối về quần nhau trên giường. Tồn tại của họ gắn với lao khổ, nghèo, say sưa và nhục dục.


 Người càng đông, rượu Thông bán càng chạy nên Thông trở thành phú hộ trong vùng, nhưng tư duy chiến lược không cho phép Thông dừng lại. Hắn bắt đầu lén lút mở rộng sản xuất và thị trường ra những miền lân cận. Lò rượu lậu mọc tới đâu, hệ thống chính quyền ở đó bị vô hiệu hóa. Thông còn cho đóng rượu vào các vò nhỏ, dán nhãn hiệu, địa chỉ sản xuất rồi thả trôi nổi ra sông biển. Tàu buôn nước ngoài vớt được, nhấp thử, mê quá, mò đến ký hợp đồng xuất khẩu lậu với Thông


 Thông cho chuyển hàng từ các lò nấu trong nội địa ra bến cảng đã mua quan thuế trước, xuất ra nước ngoài đổi thiết bị nấu rượu tiên tiến về, xây dựng thành những đô thị công nghiệp mà ông vua quan liêu vẫn không hề biết. Dần dần Thông kiểm soát một hệ thống ngầm ôm trọn vương quốc về tài chánh, nhân lực, quân sự, pháp luật. Ý Thông là ý trời, vua chỉ còn đủ sức làm vua thật sự với đám vệ binh trung tín và bầy cung nữ héo hon. Sau khi mở thêm nhiều đại lý tiêu thụ ở mười tám quốc gia lân bang, mối quan hệ giữa Thông với giới tư sản liên quốc trở thành những đường dây ràng buộc quyền lợi chặt chẽ lẫn nhau


 Một phía lâm vào khủng hoảng, phía kia sẽ ảnh hưởng trầm trọng theo. Một hiệp ước liên minh an ninh thương mại đã đưa hơn trăm vạn quân liên quốc áp sát biên giới, gióng trống, bắn pháo, giăng cờ, làm hậu thuẫn cho Thông ra mặt đòi chia quyền lực với nhà vua.


 Người đứng đầu hoàng cung phong kiến cổ hủ, lạc hậu bây giờ mới hiểu sức mạnh ghê gớm của phương thức sản xuất Lý Thông đối với vương quyền của mình. Ngài cấp tốc thiết triều, kêu gọi các tướng lĩnh, quan lại, nhân hào hãy cùng vua chống lại tên nhà giàu họ Lý. Lạ lùng thay, quan tướng xìu xìu ểnh ểnh, giới nhân sỹ thì không chút khí thế. Đau khổ và ngạc nhiên, vua mời công chúa Chân Lý đến.


 Chân Lý lạnh lùng bảo:


 - “Tư bản” đã tha hóa chúng hết rồi!


 Vua hỏi:


 - “Tư bản” là gì?


 Công chúa cười nhạt, nói:


 - Cách đây lâu lắm rồi, hành tinh của chúng ta chỉ có một quốc gia duy nhất, đó là nước nguyên thủy lạc hậu như thú và bình đẳng tuyệt đối. Khi con người bắt đầu chuyển từ hái lượm, săn bắt lên canh tác lúa nước, phát triển công cụ sản xuất thì bầu trời bắt đầu xuất hiện năm mặt trời: đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo, pháp luật, triết học. Sau đó bản thân mặt trời triết học tự phân thành ba: triết học, khoa học, giáo dục. Thế gian văn minh có 7 mặt trời cung cấp năng lượng cho mọi nảy nở sinh sôi. Đời sống thái hòa sung túc, người người phát huy nhân vị độc đáo của mình. Thấy thế gian giàu có, hạnh phúc, vị thần sinh ra từ bóng tối căm ghét các mặt trời. Ông xuống cai trị và trở thành nhà chính trị đầu tiên của trần thế, ông triệu tập một hội đồng cố vấn, mục tiêu là tìm cách hủy hoại mọi nguồn sáng ngoài lửa và châu báu. Trong buổi khai cuộc, một pháp sư có tiền kiếp là loài rắn độc, đứng lên:


 - Thưa Thế vương. Tổ tiên tôi vốn căm ghét loài người lúc nào cũng nêu giòng giống nhà tôi như mặt đối lập với điều họ dựa dẫm vào và gọi là đạo đức. Từ cuộc chiến kéo dài muôn vạn năm đó, chúng tôi dã nhìn ra bản chất sâu kín của loài người và có cách hủy hoại chúng. Mặt trời đạo đức sẽ tự hóa đen khi ngài in lá bùa này ra muôn triệu lá bùa rải khắp thế gian. Sau đó ngài ra lệnh rằng ai có lá bùa này sẽ đổi được châu báu, chức tước, sắc đẹp và cả danh dự, học vấn nữa. Nhưng nhớ là khi đưa vào lưu thông ngài đừng gọi nó là “bùa rắn độc” mà đặt cho nó cái tên ngắn gọn, dễ nhớ. Theo thiển ý của hạ thần, nên cho nó danh xưng là Tiền.


 Ngay hôm sau quân lính cải trang đi rải những lá bùa bằng bàn tay, màu vàng, trên có in hình con rắn vắt mình qua cây gậy. Sau đó, theo ý nhà vua, biểu tượng được thêm một gạch ngang, thành hai gạch tượng trưng cho thiên địa: con rắn vắt mình quanh trời đất thống trị nhân gian.Nếu nhìn đứng thì ý nghĩa là sợi dây trói buộc quan hệ giữa hai người


Một sáng lạnh lẽo, tiếng loa róng riết đánh thức hẳn những ai còn lưu luyến với giấc mơ. Loa rằng:


 - Các thần dân nghe đây, đêm qua Thượng đế đã gởi xuống cho đức vua những lá kim ngân. Nhưng một trận cuồng phong đã làm kim ngân bay tứ tán. Nay đức vua lệnh cho ai nhặt được đem nộp quan sở tại sẽ được trọng thưởng: người già được ăn ngon, ngựa tốt. Trẻ con, phụ nữ được cho lụa là, châu ngọc. Trai tráng được đổi kim ngân lấy vợ đẹp. Ai nhặt được trăm lá sẽ bổ chức quan! Nghe đây! Nghe đây!


 Mọi nhà nhao nhao xuống giường, lần mò tìm hiểu thì thấy đúng thật. Trong vườn, ngoài sân, trên đường kim ngân tỏa sáng rực rỡ, chờ đợi… Vài người nhanh chân đến sở quan với mấy tờ kim ngân nhặt vội vàng và được thỏa mãn nguyện vọng.


Thế là trần gian đang từ yên tĩnh chuyển sang náo nức, rồi hỗn loạn. Thiên hạ đổ xô vào cuộc. Từ làng xóm xa xôi đến kinh đô tráng lệ, một trận bão của những dục vọng đã cuốn già, trẻ, lớn bé, gái trai vào cơn say tiền…Vợ chồng giành giật, cắn xé nhau. Cha con, anh em, bằng hữu dẫm đạp lên nhau. Trật tự nghìn năm đổ nhào trong nháy mắt!


 Cuộc tìm kiếm chấm dứt, người người mở mắt ra, tỉnh táo lại thì cuộc phân định đã rõ ràng. Có kẻ ôm tiền không xuể, có kẻ vài tờ, kém may mắn hơn chỉ tay không… Thế là thời kỳ tranh cướp thay thế giai đoạn kiếm tìm. Dao kiếm, bùa rìu, gậy gộc thay thế cái bắt tay thân thiện. Lừa đảo, cướp giật thay thế nhân nghĩa, tình cảm. Máu, danh dự, trinh tiết ứa ra thấm đẫm từng tờ giấy có giá trị trao đổi mang biểu tượng của loài rắn độc.


 Kết thúc một ngày sôi bỏng, mặt trời đạo đức đau đớn vĩnh biệt loài người bằng cơn giãy chết. Máu, một trận mưa máu trùm xuống trần gian, đạo đức trút tất cả sinh lực cuối cùng rồi âm thầm hóa đen trên đầu thế gian nhờ nhờ tối, hỗn loạn và đầy rẫy tội ác! Pháp sư rắn độc sướng rên vì chiến thắng. Hắn cho chế tạo tiếp chiếc nỏ bắn những mũi tên khổng lồ. Trên đầu những mũi tên liên lục địa này, hắn cho dán đầy tiền, các dụ phong chức tước, bổng lộc, rồi cột thêm những cô gái đẹp vào. Mỗi mũi tên bắn đi, một mặt trời xót xa tạm biệt loài người. Cứ thế cho đến lúc thế gian tối mù…


 - Tiền là như vậy! Nếu phát minh ra lửa đưa con người thoát khỏi giới động vật, thì phát minh ra tiền giúp nhân loại duy trì bản chất mông muội của mình. Tiền tích tụ lớn qua sản xuất, lưu thông hàng hóa và có khả năng đẻ ra nhiều tiền khác gọi là “tư bản”. Tư bản đã phát triển sớm ở một số quốc gia phía Tây với những đoàn quân viễn chinh tham lam, hung bạo. Trên đường tìm kiếm thị trường và tài nguyên, chúng đã biến rất nhiều quốc gia chậm tiến thành thuộc địa; đã tàn sát ngàn vạn người và cướp bóc, hủy hoại biết bao nền văn hóa đặc sắc. Ở giai đoạn đầu lịch sử, tư bản được tích lũy bằng máu, nước mắt và căm hờn của nhiều dân tộc. Tội ác đó được ghi trong Mẫu thư cùng với những lời hiệu triệu chống lại “tư bản”. Những lời đó lan tỏa trong tâm trí người nghèo như gió mưa ngấm vào lòng đất, như con người sinh ra đã biết khóc, như mặc khải của đấng vô hình an ủi cho những đau khổ trần thế… Với vương quốc của ta, tư bản là tiền mẹ - tiềm lực ghê gớm nhất hiện Lý Thông đang có.


 Vua lo lắng hỏi:


 - Chống lại nó được không?


 Chân Lý cười:


 - Vô ích! Đó là qui luật, bảy mặt trời còn chết kể gì một ông vua!


 Vua hỏi như muốn khóc:


 - Thế phải làm sao?


 - Chia đôi ngai vàng cho Lý Thông!


 Hôm sau vua lại thiết triều, cho mời Lý Thông vào cùng ngồi trên ngai vàng. Đã nhận thức tất yếu khách quan qua lời dạy của Chân Lý nên vua vui vẻ giới thiệu với Thông:


 - Ngai vàng đặt trên khối đá nặng muôn tấn. Dưới sức đè nén khủng khiếp này là thân xác kiệt quệ của thằng khố rách Thạch Sanh!


 Thông bắt tay vua:


 - Chúng mình liên kết nhau đè đầu cưỡi cổ thằng khố rách!


 Sau này khi vương quốc trở thành thuộc địa của thực dân Tây Dương, vua đã mời luôn quan Thái thú toàn quyền mắt xanh, mũi lõ, tóc vàng cùng ngồi trên khối đá đè nén này. Để giữ thể diện cho ông vua bù nhìn, Thái thú toàn quyền kê ghế thấp hơn vua, nhưng cao hơn ghế của tư bản dân tộc Lý Thông. Câu hát nhân gian “Sanh ta một cổ ba tròng” là vậy!


(còn tiếp)


Nguồn: Thạch đế. Tiểu thuyết của Lại Văn Long. NXB Văn học, 2009.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hãy trả lại tình yêu - Phạm Thanh Quang 10.09.2010
Bóc vỏ trái đất - Mã Thiện Đồng 10.09.2010
Minh bạch - Nguyễn Hồng Cẩn 09.09.2010
Đường xưa mây trắng - Nhất Hạnh - Nguyễn Lang 09.09.2010
Một ngày cho trăm năm - Nguyễn Bá Trình 08.09.2010
Nỗi oan - Vũ Mỹ Dung 08.09.2010
Cuộc đời người thợ - Lê Minh Đức 20.08.2010
Ái tình họa lang - Trương Kháng Kháng 18.08.2010
Hai mươi năm sau - A. Dumas 17.08.2010
Zorba tay chơi Hy Lạp - Nikos Kazantzakis 04.08.2010
xem thêm »