Bảo Thắng lại hỏi tiếp:
- Thế đây có phải là cây cầu nổi tiếng nhất không anh?
- Đúng thế, nhưng ngoài cầu Mới còn có hai cầu khác cũng nổi tiếng. Đó là cầu Alexandre đệ tam và cầu Nghệ sỹ (Pont des Arts).
Phương Dung từ lúc lên thuyền vẫn ngồi yên, bỗng lên tiếng:
- Anh Bảo Long ơi, tại sao lại gọi là cầu Alexandre đệ tam?
Bảo Long từ tốn trả lời em:
- Chỉ một lát nữa thôi là chúng ta sẽ đi qua chiếc cầu này, các em sẽ thấy đó là một trong những cây cầu đẹp nhất của thành phố Paris. Hoàn thành năm 1900, cầu Alexandre đệ tam là quà tặng của Sa hoàng Alexandre đệ tam của Nga cho nước Pháp nhân dịp triển lãm quốc tế tại Paris cùng năm. Tiếng Pháp viết tên Sa hoàng thành Alexandre đệ tam. Đó là cây cầu bằng kim loại, rộng 40m, dài 107m với ba điểm nối. Cầu chỉ có một nhịp, bắc qua sông Seine, không có cột chống nào ở trung gian. Trên cầu, những cột đèn trang trí mang phong cách Tân nghệ thuật. Ở mỗi đầu cầu, có hai cột lớn bằng đá và trên đỉnh cột đặt các bức tượng kim loại màu vàng.
Vừa đúng lúc đó, tàu đi qua cây cầu Alexandre đệ tam, Bảo Thắng vỗ tay reo lên:
- A đây rồi! Cây cầu đẹp nhất Paris đây rồi. Đúng như anh Bảo Long nói, trang trí của cây cầu đẹp thật.
Tiếng vỗ tay của Bảo Thắng đã cắt ngang cuộc nói chuyện của bà Nam Phương và hai cô con gái lớn là Phương Mai và Phương Liên. Phương Liên đến lúc đó vội tham gia vào cuộc nói chuyện giữa Bảo Long với Bảo Thắng và Phương Dung:
- Anh ơi, hình như lát nữa thôi là ta sẽ đi qua cầu Nghệ sỹ phải không anh? Em đọc sách thấy nói đó là cây cầu lãng mạn nhất, anh có biết vì sao không?
Bảo Long chỉ tay về phía trước và nói:
- Chính xác là như vậy. Các em thấy không? Cây cầu Nghệ sỹ chính là cây cầu trước mắt ta đó, chỉ mấy phút nữa là các em sẽ đi qua. Còn vì sao nói là cây cầu lãng mạn? Lãng mạn bởi vì cây cầu này nối liền Học viện Pháp với sân vuông thuộc bảo tàng Louvre, là nơi gặp gỡ thường xuyên của giới nghệ sỹ và những người yêu thích nghệ thuật. Đôi khi nó được sử dụng để làm địa điểm triển lãm. Đây cũng là nơi thu hút nhiều họa sỹ, nhiếp ảnh gia, du khách và người dân Paris, đặc biệt là các đôi tình nhân. Cây cầu này cũng như những cây cầu khác bắc qua sông Seine luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo cho biết bao nghệ sỹ khắp nơi trên thế giới.
Bảo Thắng tiếp lời anh:
- Thế cầu Nghệ sỹ được xây dựng lâu chưa anh?
- Được xây dựng từ năm 1802 đến năm 1804. Đây là cây cầu kim loại đầu tiên được xây dựng ở Paris dưới thời Napoléon Bonaparte.
Tiếp đó Bảo Long giải thích cho các em nghe về bảo tàng Louvre, về nhà hát Opéra, về đại lộ Champs-Elysées, quảng trường Concorde hay đồi Montmartre, nhà thờ Sacré-Coeur… mỗi khi tàu đi qua.
Nghe các con tíu tít trò chuyện, bà Nam Phương cũng thấy vui lây. Bà tự hào và sung sướng về những hiểu biết của Bảo Long. Niềm vui nhìn thấy các con ngày càng khôn lớn đã phần nào khuây khỏa nỗi buồn vô bờ bến trong lòng bà.
Những năm học ở trường Roches, Bảo Long cố gắng khép mình vào kỷ luật của trường. Tước vị hoàng tử kế nghiệp cũng mang lại cho anh một số đặc quyền: mỗi buổi sáng được tắm nước nóng trong khi các bạn phải tắm nước lạnh; khẩu phần ăn tối được chia nhiều hơn. Tuy nhiên cũng như các bạn, ở đây anh cảm thấy cô độc. Nhiều lúc, anh thấy nhớ nhà, nhớ mẹ và các em da diết. Vốn là con người trầm lặng, lạnh lùng, anh ít kết giao với bạn bè, không ưa lối xưng hô “mày tao chí tớ” như thường thấy giữa những người bạn cùng lớp cùng trường. Đa số những học sinh khi tốt nghiệp trường này đều trở thành tu sĩ mặc dù đây không phải là trường thuộc giáo hội.
Khi còn học ở trường này, sau mấy sự kiện giật gân đăng trên báo: “Thái tử Bảo Long bị đe dọa bắt cóc”, anh được bảo vệ quá chặt chẽ. Cứ mỗi lần anh đến trường là cả một đội cảnh binh trang bị tiểu liên được cử đến đấy túc trực. Và cũng vì chuyện bắt cóc có thể là bịa đặt này mà anh đã bị đưa trở về với những quy chế kỳ quặc của con trai nối nghiệp một vị hoàng đế có tương lai không chắc chắn. Vậy là anh bị đưa đến Chủng viện dòng Benoît ở Madrian thuộc Pyrénées-Hạ. Một lần nữa anh lại phải sống với các thầy tu. Anh chán ngán, buồn bã còn mẹ anh lại thấy đó là nơi an toàn nhất cho con mình.
Hai tháng ở Chủng viện, anh bị cách biệt với thế giới bên ngoài, hầu như không liên hệ gì với người xung quanh. Anh muốn được trở về cuộc sống bình thường như mọi người nên đã viết hàng chục lá thư cho cả cha và mẹ nhưng không ai trả lời anh.
Mặc dù cuộc sống đầy biến động và không theo ý muốn nhưng kết quả học tập của anh vẫn xuất sắc. Mười bảy tuổi anh đỗ tú tài triết học nhưng vẫn luôn có cảnh binh đi kèm. Anh là người quá điềm tĩnh, lặng lẽ và quá nghiêm trang so với tuổi, đôi lúc lại quá ý tứ dè dặt, kiên nhẫn và lạnh lùng. Vậy mà mẹ anh vẫn muốn anh học ở những trường có kỷ luật khắt khe, thiếu thốn đủ thứ, có lẽ bà muốn tránh cho anh khỏi bị nuông chiều quá, tránh cuộc sống phóng đãng như cha anh, một lối sống đã gây cho bà quá nhiều đau khổ.
4.
Ngày mồng 9 tháng 4 năm 1954, một bữa tiệc được tổ chức để tiễn quốc trưởng Bảo Đại trở lại Paris.
Về Pháp, ông lại trở về lâu đài Thorenc ở Cannes. Nơi đây lúc này đã trở thành dinh Chính phủ. Trong tòa nhà bằng đá cẩm thạch, ông làm việc cùng khoảng hai mươi người cộng sự. Đó là tổng lý văn phòng, thư ký, cố vấn, sĩ quan hầu cận, lái xe. Bà Nam Phương cũng có một văn phòng riêng và ông Nguyễn Tiến Lãng luôn là thư ký của bà.
Ông và bà vẫn ở trong cùng một mái nhà, làm việc trong cùng một dinh nhưng mỗi người đều có văn phòng riêng và phòng ngủ riêng. Họ chỉ bàn bạc những việc liên quan đến các con, đến một số công việc đại sự. Còn lại mỗi người có một cuộc sống tình cảm riêng. Ông vẫn có bà Mộng Điệp và những cô gái trẻ đẹp khác. Chính vì vậy mà người dân thành phố Cannes mỗi lần nói về ông là nhớ đến một ông hoàng ham thích hưởng lạc với những thú vui trần thế.
Trong khi đó, bà Nam Phương, ngoài công việc, lấy việc chăm sóc dạy dỗ các con làm niềm vui, bà vẫn cô đơn. Không phải không có ai xao xuyến vì bà, không những có mà còn có rất nhiều là đằng khác. Bởi vì bà vẫn rất duyên dáng, xấp xỉ bốn mươi tuổi nhưng bà vẫn đẹp, một vẻ đẹp không lộng lẫy như các cô gái trẻ mà là một vẻ đẹp mặn mà, đằm thắm, một vẻ đẹp như được hoàn thiện hơn sau những bước thăng trầm của cuộc đời. Trong số những người yêu thương, mến mộ bà có cả nhiều vương công hoàng tử đặc biệt là giáo chủ Agha Khan của Ấn độ. Ông nhiều lần mời mọc và đón tiếp bà cùng các con trong dinh thự mênh mông của ông. Nhưng không một lần nào bà đến một mình. Và người ta chưa bao giờ nghe một lời đồn đại liên quan đến bà trong những chuyện quan hệ “mây mưa” như Bảo Đại, bà không mấy thích thú cuộc sống ở Cannes, một thành phố quá ồn ã, đông đúc. Đôi khi bà cũng tham dự những cuộc vui ở Palm Beach nhưng không bao giờ bà theo chồng vào các phòng đánh bạc. Bà không ưa những người bà gặp ở đây và căm ghét những thói hư tật xấu của chồng, không chịu được lối sống buông thả của ông, không thể quen được các thủ đoạn lừa dối trâng tráo, làm giàu bất minh như vụ đổi tiền Đông dương ra tiền francs và ngược lại, không thể chấp nhận được những hành vi bội bạc của ông. Lòng bà như vậy làm sao bà vui được. Vì vậy, đối với người dân ở thành phố này, bà Nam Phương chỉ để lại kỷ niệm về một bà hoàng buồn bã. Tâm trạng của bà đúng như Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Trong khi đó các con bà lại mê thành phố Cannes. Mỗi ngày có những thú vui, những môn thể thao riêng cho ngày đó. Cả những chuyến đi chơi xa không dứt. Chúng tíu tít suốt ngày.
Riêng Bảo Long, anh vẫn đam mê ô tô như trước. Vào dịp sinh nhật anh được cha anh tặng một chiếc ô tô. Có lẽ đó là niềm đam mê duy nhất từ người cha được truyền sang anh một cách trọn vẹn. Năm cuối cùng anh học ở trường trung học, cha anh cứ đến thăm anh mỗi quý một lần vào ngày chủ nhật. Ông tự lái xe đến. Ông thường đi một chiếc Ferrari hay Bentley giản dị chứ không phải là những chiếc Rolls sang trọng của giới thượng lưu ăn chơi.
Sau khi đỗ tú tài anh ghi danh học dự thính cả hai trường một lúc: Khoa học chính trị và Luật.
Nhưng rồi đột nhiên anh muốn từ bỏ tất cả và muốn xin đứng vào hàng ngũ chiến đấu. Anh cho cha mẹ anh biết ý định từ bỏ vai trò kế vị ngôi báu mà người ta giao cho anh từ khi chào đời và muốn trở về nước theo học trường võ bị Đà Lạt mới thành lập để trở thành sĩ quan quân đội quốc gia trẻ tuổi. Thấy con tha thiết theo đuổi binh nghiệp hơn làm chính trị, Nam Phương và Bảo Đại chiều ý con nhưng cho con vào học trường võ bị Saint-Cyr, có tiếng hơn và cũng là an toàn hơn.
5.
Ngày mồng 7 tháng 5 năm 1954, sau năm mươi sáu ngày đêm chiến sự diễn ra ác liệt, chiến thắng Điện Biên Phủ đã vang vọng năm châu, trên khắp địa cầu. Tại Paris, Pierre Mendès France thay Joseph Laniel. Ở Sài Gòn, hoàng thân Bửu Lộc xin từ chức. Bảo Đại giao cho Ngô Đình Diệm đứng ra thành lập chính phủ mới.
Bà Nam Phương cũng ủng hộ ông trong việc đề cử ông Diệm thay ông bởi chính bà cũng không lường trước được lòng dạ đổi trắng thay đen nhanh đến chóng mặt của Diệm. Có lẽ đó cũng lại là bi kịch tiếp theo của cuộc đời bà.
Sau khi được bổ nhiệm làm quốc trưởng, lại được sự hậu thuẫn của Mỹ, Diệm nhanh chóng gạt bỏ Bảo Đại. Tại Sài Gòn, những phe nhóm ủng hộ Bảo Đại bị quét sạch. Quân Diệm đánh bật quân Bảy Viễn, người thân cận của Bảo Đại, ra khỏi đô thành. Tàn quân Bình Xuyên lui về căn cứ của họ ở rừng sác[1], cách thành phố vài kilômét. Mang danh quốc trưởng, Bảo Đại vẫn ru rú ở Cannes. Và tiếp theo, Diệm đã làm một chuyện động trời. Diệm đề nghị một cuộc trưng cầu dân ý. Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ lựa chọn: hoặc là đi với Diệm tiến hành cuộc chiến tranh chống cộng, hoặc theo chủ trương của Bảo Đại là hòa hợp với Việt Minh. Với âm mưu xảo quyệt đã được tính trước của mình lại có quan thầy là Mỹ ủng hộ, cuộc trưng cầu dân ý đã trở thành một cuộc bỏ phiếu toàn dân cho Diệm.
Diệm đã cho tịch thu hết tài sản của Bảo Đại. Chua xót hơn cho gia đình Bảo Đại là Diệm đã cho lấy ngôi biệt thự của bà Từ Cung ở Sài Gòn và đuổi bà về Huế. Những chuyện phản trắc ấy của Diệm đã làm Bảo Đại phát điên. Tinh thần của ông tuột dốc từ đó và không gì cứu vãn được.
Bà Nam Phương thì quá đau khổ khi thấy chồng và con đều trong tình trạng tinh thần suy sụp. Đã từ nhiều năm nay ông bà đã thật sự ly thân nhưng bà vẫn cố gắng giữ hòa thuận, che đậy sự rạn nứt giữa hai vợ chồng để thiên hạ khỏi chê cười và để làm yên lòng các con, đặc biệt là Bảo Long. Nhưng đến lúc này thì không còn gì có thể cứu vãn được nữa. Cuộc sống gia đình tan nát, đổ vỡ thực sự cả trong và ngoài. Quốc trưởng Bảo Đại từ nay sẽ trở thành người sống lưu vong trên đất Pháp.
Về phần Bảo Long, hôm nhập trường võ bị Saint-Cyr, mẹ anh đi cùng anh. Thiếu tướng chỉ huy nhà trường đón tiếp hai mẹ con và mời họ ăn trưa. Từ nay anh là sinh viên trường võ bị. Chẳng bao lâu sau anh trở thành một học sinh gương mẫu và xuất sắc. Anh lặng lẽ chịu đựng cuộc sống khắc khổ trong quân ngũ, hòa nhập nhanh chóng với hai mươi bảy bạn đồng ngũ chung chạ trong một phòng. Suốt thời gian thử thách trong vòng ba tháng, mỗi đêm anh chỉ được ngủ ba hoặc bốn tiếng đồng hồ.
Nhưng khi năm học thực hành vừa kết thúc, anh thấy chán nản cuộc sống và chỉ muốn chết. Một cái chết nhanh chóng nhưng là cái chết vẻ vang nếu có thể. Anh không vượt qua được nỗi đau của gia đình và quên đi thất bại thảm hại của cha anh. Thay vì tự tử, anh xin chuyển sang đội quân lê dương đi chiến đấu ở Angiêri. Sau khi ra trường kỵ binh Saumur với cấp bậc chuẩn úy vào năm 1956, anh không được công nhận là một sĩ quan Pháp mà chỉ là một sĩ quan ngoại quốc. Đơn giản chỉ vì anh bây giờ là con của một kẻ sống lưu vong. Trong túi của anh không có một giấy tờ nào khác ngoài tờ hộ chiếu ngoại giao của một công dân trong khối liên hiệp Pháp.
Chính cuộc khủng hoảng tinh thần đó đã đẩy anh tìm đến cái chết. Nhưng anh không nói với ai, không hỏi ý kiến ai. Việc xin đi chiến đấu ở Angiêri là một mình anh tự quyết.
Thật sự là Bảo Long chỉ muốn kết thúc cuộc đời trên chiến trường. Nhưng mặc dù đã có lần anh lao vào xe để ngắt điện khi có một chiếc xe sắp nổ vì bị chập điện, anh lại không chết như mong muốn bởi có một người lính Việt Nam lao lên trước, xô anh ra để tự mình nhảy vào xe và rồi người lính này đã chết.
Sau khi giải ngũ, anh về làm nhân viên cho một ngân hàng của gia đình bên ngoại. Từ đó anh xa lánh mọi hoạt động chính trị. Ngoài giờ làm việc ở ngân hàng, anh đắm mình suy ngẫm về ý nghĩa của cuộc đời.
Bảo Long không lập gia đình. Có thời gian anh chung sống với Isabel Ebey, một cô gái nạ dòng đã có hai con, chuyên gia trang trí nội thất. Sau khi Isabel mất, anh không làm bạn với một người đàn bà nào khác nữa. Trái ngược hẳn với cha, anh ít giao thiệp với phụ nữ.
Anh qua đời tại bệnh viện Sens năm 2007.
(còn tiếp)
Nguồn: Tình sử Nam Phương Hoàng hậu. Tiểu thuyết của Trần Thị Hảo. NXB Văn học, 5-2010.
www.trieuxuan.info
|