tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và
hội họa
truyện dân gian Việt Nam
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 1203145
09.02.2010
Nguyễn Liên
Nắng miền biên thùy

Nghỉ trưa nấn ná ở trung tâm huyện Ea Súp tránh cái nắng gắt gao, rồi chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình  bởi phải tới các đồn Biên phòng trước khi trời tối. Kể cũng lạ, trong nội vi dải đất Dak Lak lại có nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau. Khi ở Buôn Ma Thuột những đợt gió lồng lộng như cơn lốc, sợ lên trên đó lạnh hơn tôi đã đề phòng mang theo áo ấm, ai dè tới địa phận huyện biên giới Ea Súp gió lặng như tờ, cái nắng hầm hập trùm xuống. Nhìn sang hai bên đường rừng khộp rụng hết lá trơ gốc trụi cành, dưới đất những cụm le xác xơ khô quăn lại, đàn bò rong ruổi tóp bụng lần mò ngọn cỏ khô trệu trạo.  Trung tá Lê Huy Thành trưởng ban tuyên huấn bộ đội biên phòng Tỉnh là người thường viết văn làm thơ, anh đưa ra những mẩu chuyện câu thơ làm không khí rôm rả bớt đi cái nóng đang tụ lại trong xe; nhìn rừng khộp trụi lá anh tức cảnh.


          “...Nhớ mùa nắng đỏ rừng le


Khẳng khiu rừng khộp tay  xòe chờ mưa...”


Mùa khô Tây Nguyên không có mưa nhưng lại thừa nắng và gió. Nghe đài báo thời tiết lúc này ở miền Bắc có không khí lạnh, mưa phùn, nghĩ  mà thèm. Giá như xẻ một chút nắng chuyển ra ngoài ấy, đón một ít mưa lạnh vào đây cho dịu bớt cơn khát. Ông trời thật không công bằng, ngay cả dải biên thùy Dak Lak cũng đem đo sức chịu đựng con người khác nhau. Cánh Bắc thêm độ nóng, cánh Nam lại tăng cường gió. Thành kể về những con gà của các chiến sĩ biên phòng phía Nam chăn nuôi, gió thổi ràn rạt đi xiêu đi vẹo rụng hết cả lông đuôi, trần trụi như con chim cun cút phải nhảy xuống chiến hào đi tránh gió. Cuối tháng hai năm ngoái tôi cũng đã đến các đồn biên phòng cánh Nam, từng biết những trận gió xé rách lá cây nhưng cách quan sát của Thành về con gà bị gió quất trụi lông đuôi thì làm tôi thấy ngỡ ngàng thú vị.


Chiếc xe Uoát chạy trốn nắng lao trên con đường đất đỏ cuốn theo bụi mù mịt. Tôi đang thảng thốt nhận ra cánh rừng trần trụi, mặt đất khô cong cạn kiệt  độ ẩm, những sinh linh ở đây ra sao, bỗng chiếc xe giảm tốc độ giúi lại, lượn vòng vào cái cổng màu xanh có bảng chữ : Đồn biên phòng 735. Mọi người vội vàng rời xe vào trong  nhà; Đồn trưởng Y Thi tươi cười ra đón chúng tôi, anh đậm đà khổ người, da săn chắc, tôi hình dung ra hình ảnh chàng Đam San khoẻ mạnh trong sử thi của người Êđê. Cỡ người ấy sẵn sàng đương đầu với nắng gió giữa vùng biên khắc nghiệt này.


Anh nói lời cảm thông với chúng tôi:“ Các anh rửa tạm cho mát, ở đây không có điện lưới nên không có quạt”. Rồi anh cười gượng:“ Chúng tôi chịu đựng quen rồi!”. Ngoài sân những người lính đang  xoay trần lao động, người thì nai nịt sẵn sàng nhận ca tuần tra. Tôi được gửi lại Đồn biên phòng 735, để chiếc xe tiếp tục hành trình đưa những người còn lại tới 2 đồn nữa. Đồn trưởng Y Thi muốn tôi nghỉ lại, sáng ngày mai xuống địa bàn cùng đội công tác; nhưng thấy quyết tâm của tôi muốn đi ngay nên anh vội tìm người đưa đi. Đã 5 giờ chiều mà xuống địa bàn phải đi quãng đường rừng hơn ba chục cây số; anh liền điều Y Đan người sĩ quan quân y lấy xe máy đi cùng tôi. Chúng tôi rời Đồn thì mặt trời đỏ lừ cũng rơi xuống phía sau cánh rừng khộp xương xẩu.


Y Đan là người Êđê quê ở huyện Cư M’ga nhưng vợ lại là người BaNa đang công tác tại trung tâm y tế huyện Ajunpa, Gia Lai. Đồn trưởng Y Thi có gia đình vợ con ở ngay huyện Ea Suõp mà mỗi lần về Tỉnh họp mới te tắt chớp nhoáng, huống  hồ vợ chồng Y Đan cách nhau gần hai trăm cây số . Anh thỏ thẻ:“Vợ mới sinh con trai đầu lòng, gia đình điện lên báo nhưng em làm sao về được!”. Xe chạy đã phải lên đèn, con đường được binh đoàn 16 mở rộng thông lên biên giới, như trước đây chỉ có đường mòn lở lói hun hút giữa rừng khổ lắm. Bây giờ thì đường ngang đường dọc xẻ ô cánh rừng khộp mênh mông hàng bốn năm chục cây số vuông để trồng điều lập làng lập xã - Y Đan vưà lái xe vừa giới thiệu - những dãy nhà kia là của binh đoàn làm kinh tế dựng lên cho những cặp vợ chồng tình nguyện ở lâu dài, có nhiều hộ tận Bến Tre cũng lên đây lập nghiệp. Trong nhập nhoạng trời đêm tôi thấy nổi lên những dãy nhà, những thân cây khộp sừng sững, những dãy điều xòe tán giống những hàng quân quện lại xếp hàng như bức tường thành vững chắc giữa miền biên thùy.


Đội công tác nằm ngay  trụ sở xã Ia Lốp, dưới ánh đèn điện ngắm lại mình tôi phát hiện bụi đường bám đỏ quần áo, chưa kịp đập phủi thì Y Đan báo: “Anh  em xuống  cơ sở dạy  lớp xóa mù chữ cho đồng bào BaNa”. Vậy là chúng tôi lại đi tiếp. Xe lao vào đêm hun hút giữa rừng già, chạy được chừng chục cây số thì gặp một mái nhà nằm im ỉm lọt giữa vòm rừng, hỏi thăm thì đó là một đội lâm trường mới biết chúng tôi đã lạc đuờng, phải quay lại 5 cây số rẽ vào ba cây nữa là buôn Jơ Lơi của đồng bào Ba Na. Trời mới tối mà như đã đêm thâu, rừng lặng im u tịch, những tàn than rực lên vài ngọn lửa chập chờn của người đốt rẫy. Tôi nhảy ra khỏi xe cho Y Đan lần mò dắt xe qua con suối cạn lổn nhổn đầu đá. Y Đan bảo: “Đây gọi là suối Funrô!”.


            - Tại sao gọi là suối Funrô?


           - Trước đây là lãnh địa của bọn Funrô hoạt động, cách đây hơn chục năm ta đang còn vất vả với chúng nó ở đây lắm.


- Nếu mùa lũ thì đi qua suối làm sao?


            - Đội công tác đã làm cầu treo, có lần Y Duyên chàng trai biên phòng to khỏe vậy  mà dắt đồng bào qua suối còn bị lũ cuốn cả hai đi một đoạn xa.


            Cái đất Tây Nguyên vậy đấy, mùa khô  thì khô đến cạn kiệt, đã mưa thì lũ lồng lũ quét.


            Buôn Jơ Lơi nằm thưa thớt, nhà cửa còn đơn sơ, xuống khỏi cầu thang là bước vào rừng. Với khí hậu khắc nghiệt, đồng bào ở đây chỉ thu hoạch một mùa rẫy. Đất đai mênh mông trù phú là thế, bởi cái mùa khô chỉ có nắng rát đến cây rừng còn khô trụi lá, thì có thể làm được gì. Đồng bào ở đây mới 3 năm, nguyên do cũng từ rừng Gia Lai cằn cỗi đói khát triền miên mà lần đến. Dải đất mênh mông này còn có cả đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc tìm vào sinh cơ lập nghiệp. Những con người du cư ấy, đậu vào mảnh đất ấy còn nhọc nhằn với miếng cơm manh áo lắm. Công việc của người lính biên phòng nặng nề chồng chất, vừa lo bảo vệ an ninh biên giới, vừa lo tuyên truyền vận động để đồng bào quanh năm đối mặt với rừng già, với sự mưu sinh hiểu được chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước mà cùng nhau xây dựng cuộc sống mới. Ngoài ra những người lính biên phòng còn làm vai trò của một người giáo viên đem cái chữ đến với đồng bào.


      Chúng tôi đến sân nhà rông, ánh điện từ bình  ắc quy tỏa ra sáng trắng. Mấy anh chiến sỹ biên phòng lo sắp lại bàn ghế chuẩn bị cho buổi học. Tiếp xúc với những người lính biên phòng tôi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, những người quên mình gác lại mọi việc riêng, gạt hết những khó khăn, sống hết mình với trách nhiệm công việc. Tiếng kẻng báo học vừa dứt tôi đã thấy ngay một vài ánh đuốc rồi nhiều ánh đuốc như sao sáng rõ dần cùng tiếng nói cười râm ran đến lớp học. Người đến trước mở vở ôn lại bài cũ, rất nhanh chóng các bàn trong nhà rông đã kín người ngồi, có cả những nguời già xung phong đi học, những gương mặt hồ hởi đau đáu đón nhận con chữ. Đội trưởng Vương Văn Bảy giới thiệu tôi với ông Ma Hoa trưởng buôn đang ngó nghiêng lớp học. Chúng tôi ra ngoài sàn hiên ngồi hóng gió, ông Mai Hoa cứ bồn chồn nhìn vào lớp học:


- Trưởng buôn cũng đi học sao?


- Không. Biết chữ rồi. Mình động viên bà con thôi!


- Buôn Jơ Lơi có bao nhiêu hộ?                  


- 17 hộ, nhà ai cũng đi học cả đấy, thích lắm!


         Chúng tôi đang nói chuyện thì trong nhà đã vang lên tiếng đọc bài râm ran. Bỗng chốc không gian rừng sâu sôi động hẳn lên. Suốt từ trưa vật vã với nắng nóng, vật lộn với đường rừng bụi bậm tôi bỗng thấy khỏe ra, không đói, không khát bởi những nguời lính biên phòng cũng còn xong lớp học mới về ăn cơm chiều. Con đường từ Buôn Jơ Lơi về đến đội công tác chừng 8 cây số đường đất đỏ, vậy mà nhiều lần mưa gió các anh vẫn đi bộ bằng đôi chân dẻo dai của người lính đến với dân, không để lớp học nghỉ buổi nào.


         Bữa cơm tối đơn sơ nhưng thật ấm áp không khí thân tình. Hóa ra chỉ mới mình đội trưởng Vương văn Bảy có vợ con lại ở ngay ngoài trung tâm huyện.


          - Ngày mai chủ nhật, Bảy có về thăm nhà không?- Tôi hỏi, Bảy trả lời tỉnh queo:


          - Anh em lính chúng tôi ở đây làm gì có chủ nhật.


         Trịnh Xuân Tuyên, Y Duyên, Y Ka… vừa ăn vừa tra khảo nhau về một cô giáo dạy học ở khu lẻ, có người vạch ra cả tương lai có một gia đình ở gần nơi công tác cho tiện. Nhắc chuyện ấy lòng Y Đan lại chông chênh nhớ về đứa con mới sinh chưa biết mặt ở tận Ajun Pa hàng trăm cây số. Tôi quay sang hỏi: “Sao không xin chuyển vợ về công tác ở huyện này cho gần?”.


- Em muốn lắm, nhưng xin việc bây giờ đâu có dễ.


        Thực ra, tôi cũng không thể nói điều gì giúp những người lính biên phòng như Y Đan để có điều kiện “việc nước việc nhà trọn vẹn”. Đang cơm nước truyện trò vui vẻ bỗng Y Duyên được báo có việc phải vào buôn, vậy là anh mượn xe máy của Y Đan tuông ngay vào đêm, sáng hôm sau mới thấy anh lững thững đi bộ về, xe bị thủng săm. Đường rừng cứ quốc bộ bằng đôi chân lại ăn chắc.


*


Đêm Buôn Ma Thuột gió hiu hiu mát, lòng tôi cứ  trộn rộn, miên man nghĩ về miền đất biên thùy Ea Suõp đang cồn cào trong cơn nóng khát. Đêm nay ai trong phiên tuần tra? Ai đang xuống các buôn làng làm công tác giúp dân? Đêm nay ai đang thức cùng đất trời để quên đi cái oi nồng của thời tiết, lắng nghe con tim mình đập bồi hồi mà nhớ về những người thân thương của mình đang êm đềm trong giấc ngủ bình yên.


Nguồn: Rút từ Cửa Hà, dòng sông gấm. Ký của Nguyễn Liên. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 

Số lần xem: 310 bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phở - Nguyễn Tuân 23.07.2010
Thương nhớ mười hai (2): Tháng Tư, Tháng Năm - Vũ Bằng 17.06.2010
Chuyện cổ tích thời mình - Thanh Giang 08.03.2010
Như hoa mẫu đơn - Nguyễn Đức Tùng 08.03.2010
Hà Nội dạy tôi biết yêu - Tư liệu 25.02.2010
Nước Mỹ ký sự - Tư liệu 16.02.2010
Lang Biang, miền rượu ngon, gái đẹp - Tư liệu 16.02.2010
Ngoại ô Hà Nội trước năm 1945 qua Nguyễn Đình Lạp - Tư liệu 16.02.2010
Cái Tết khó quên (3) - VŨ HẠNH 12.02.2010
Cái Tết khó quên (2) - VŨ HẠNH 11.02.2010
xem thêm »