Chân Lý mới nói đến đó, Thạch Đế tức giận bừng mặt, giãy nảy:
- Ta đánh nhau với quân xâm lược để giải phóng đất nước, ta không cho phép gọi đó là nội chiến!
Chân Lý vẫn giữ quan điểm của mình:
- Trăm vạn người ngã xuống ở cả hai bờ con sông đau thương đều cùng dòng máu màu da ngài ạ! Vũ khí ngoại bang làm cho dân tộc ta đổ máu.
Thạch Đế nghiến răng, đấm tay xuống bàn:
- Ta đánh nhau với kẻ thù quá to lớn, quá hung hãn nên được anh em đồng cảm chi viện, ta biết ơn sự giúp đỡ chí tình đó. Nàng không được xúc xiểm gọi sự giúp đỡ đó là “vũ khí ngoại bang”! Nàng phản động về quan điểm, lập trường, cần được giáo dục lại!
Chân Lý thở dài:
- Ta là vợ chồng, không thể dùng ngôn ngữ ngoại giao với nhau!
Thạch Đế vẫn hầm hầm:
- Mới khen quân đội ta là những dũng sĩ bách chiến bách thắng, giờ lại muốn đánh đồng ta với bọn đánh thuê?
Chân Lý dịu giọng:
- Bệ hạ rất thông minh khi gọi những đơn vị dũng sĩ của mình bằng tên sông, tên núi hiền hòa, tên làng mạc yêu thương. Đối thủ hữu ngạn của ngài có đoàn quân toàn mang phiên hiệu dã thú như: hắc báo, cọp biển, quái điểu, trâu điên, mãng xà… Đây là đội quân được các thái thú Tây Dương lập ra để chống lại những anh hùng và nghĩa quân Rồng muốn lật đổ ách đô hộ. Sau này nó được A Mễ Công Đế đầu tư rất nhiều tiền nâng cấp để chết thay quân đội của ông ta trong kế hoạch gọi là “Thay màu da trên xác chết”. Từ lúc hùng mạnh nhất với hơn trăm vạn quân - tướng, đến mấy mươi năm sau ngày bại trận, và chạy ra nước ngoài, đội quân này chỉ khao khát một điều: không bị coi là lính đánh thuê! Còn lực lượng vũ trang của ngài xuất hiện trước yêu cầu đấu tranh chống xâm lược giành độc lập dân tộc nên đã hiện thân cho chính nghĩa. Giá trị đó không bao giờ thay đổi, cho dù ngài đã sử dụng vũ khí được chế tạo ngoài biên giới xứ Rồng, cho dù sau này có ý kiến rằng: nước ta đã bị biến thành bãi thử vũ khí tối tân trong cuộc chạy đua vũ trang giữa các cường quốc của hai phe! Ba mươi năm sau kết thúc cuộc chiến, quốc vương kiêm nguyên soái tối cao của lực lượng hữu ngạn trước khi từ trần còn dặn con cháu: “Ngày trước ta gọi A Mễ Công Đế là người anh lớn, là đồng minh chí tình. Thực ra ta còn thù hận ông ta hơn cả Thạch Đế - người đã đuổi ta chạy khỏi ngai vàng, sống đời lưu vong! A Mễ Công Đế là kẻ đểu giả mang con bỏ chợ!”. Gần đây, A Mễ Công Đế còn thẳng thừng giải mật lịch sử. Ông ta tuyên bố rằng đã từng có ý định xử trảm quốc vương hữu ngạn khi muốn làm trái ý ông ta. Đời vua trước đó của hữu ngạn cũng từng bị A Mễ Công Đế tru di với lý do tương tự. Ngài là Thạch Đế - đối thủ đáng sợ của A Mễ Công Đế chứ không phải “cây gậy” trong tay của ông ấy như quốc vương hữu ngạn. Nhưng ngài có tự chủ hoàn toàn trước sự giúp đỡ của anh em đồng cảm không? Đó có phải là sự giúp đỡ vô điều kiện, khi mà diễn biến của cuộc chiến có ảnh hưởng sâu sắc đến đối sách của nhiều nước lớn ở cả hai phe?
Thạch Đế trầm ngâm:
- Giữa vợ chồng ta mỗi người là một vũ trụ riêng tư, hợp tan khó lường, yêu ghét như tảng băng trôi, phần nổi nhỏ bé hơn phần chìm bí ẩn. Giữa một thế giới trùng điệp mâu thuẫn, quyền lợi chồng chéo thì phức tạp còn tăng lên vạn lần. Sứ mệnh của ta là mềm dẻo khôn khéo, khi cần thì tỏ rõ cương quyết. Ta làm tất cả vì sự nghiệp lớn của trăm họ xứ Rồng -Thạch Đế thở dài - cũng có lúc trong các quan hệ lớn, ta không thể làm theo ý mình! Còn nhiều chuyện ân oán với các đại quốc ta nghĩ phải đến đời con cháu, khi nước nhà cường thịnh hơn nữa mới mong giải quyết được…
Thấy vua buồn, Chân Lý dịu dàng kết thúc cuộcđối thoại:
- Ngày mai A Mễ Công Đế sang thăm xứ ta, cuộc gặp này vô cùng trọng đại. Chàng nghỉ ngơi để tỉnh táo với trận đánh ngoại giao này!
Chuyến công du của A Mễ Công Đế đến xứ Rồng là sự kiện chính trị chấn động hoàn vũ. Vua của tất cả các đại quốc, bình quốc, tiểu quốc đều tập trung theo dõi bằng tất cả khả năng, phương tiện. Có nước cài các điệp viên vào đoàn tùy tùng, hộ giá lên đến năm ngàn người người của A Mễ Công Đế. Có nước dùng thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ. Có nước cho sứ thần đóng giả du khách, thương nhân, văn nhân tài tử… đến thuê nhà ở gần các khu vực phái đoàn của A Mễ Công Đế được nước chủ nhà bố trí ăn ở tiếp đón, để thu tin tức. Nhiều lý do dẫn đến sự quan tâm đặc biệt đối với cuộc hội kiến của hai hoàng đế này:
Thứ nhất: Họ là cựu thù của nhau trong cuộc chiến tranh đẫm máu kéo dài hơn hai mươi năm. Một nửa đất nước của Thạch Đế đã bị tàn phá nặng nề theo chủ trương “Cho trở về thời nguyên thủy” của A Mễ Công Đế. Một nửa còn lại là bãi chiến trường tan hoang, đổ vỡ! Hơn ba trăm vạn người đã chết, gấp đôi số đó bị thương tật. Khi chiến tranh đã kết thúc vài chục năm, ngoài nền kinh tế bị tàn phá đến kiệt quệ gây đói kém trầm trọng cho nhân dân, vẫn còn hàng trăm vạn người chịu di chứng do nọc độc của bầy rắn dữ mà A Mễ Công Đế đã thả xuống đất nước này. Biết bao trẻ em sinh ra có hình thù dị dạng, biết bao dòng họ, gia đình phải khóc hận vì không còn người thừa kế, ruộng đồng cũng bị nhiễm độc không còn canh tác được… di chứng chất độc kéo dài suốt ba, bốn thế hệ, trở thành một thảm họa nhân đạo được cả thế giới quan tâm. Là quân đội xâm lược liên quốc, mạnh hơn và có tiềm lực kinh tế, khoa học gấp hàng trăm lần so với đối phương; nhưng A Mễ Công Đế đã cay đắng nhận thất bại. Lực lượng kháng chiến với sức mạnh toàn dân của Thạch Đế âm thầm men theo con đường mòn phía Tây, bất thần chia làm năm cánh quân dũng mãnh tràn như thác lũ vào các căn cứ của địch. Đội quân chính quốc tóc vàng, mắt xanh, da trắng là lực lượng lính quí tộc đã rút khỏi chiến trường trước hai năm, với gần sáu vạn xác chết, hơn ba mươi vạn thương binh và những di chứng xã hội nặng nề! Để “thay màu da trên xác chết”, hơn một trăm vạn người bản xứ được A Mễ Công Đế bỏ tiền ra xây dựng thành quân đội, chính quyền hữu ngạn sông Thập Thất. Đội quân dù rất hùng mạnh này vẫn không chống đỡ nổi cuộc tổng tấn công bằng sức mạnh tổng hợp của Thạch Đế, nên cấp báo xin cứu viện. A Mễ Công Đế lạnh lùng tuyên bố: “Ta đã rút đi trong danh dự, không bao giờ quay lại chiến trường chết tiệt ấy!”. Đoàn quân bị chủ bỏ rơi đã tan rã rất nhanh sau trận đánh cuối cùng. Một phần mười chạy được ra biển đến các tàu mẹ khổng lồ và các căn cứ hải quân của A Mễ Công Đế. Tòan bộ số còn lại phải đầu hàng và bị Thạch Đế đưa vào hàng trăm trại cải tạo. Nhưng chiến tranh vẫn âm ỉ tiếp diễn hàng chục năm sau đó dưới hình thức khác – chiến tranh lạnh! Thạch Đế và nhân dân của mình phải căng đầu đối phó với tình trạng bao vây cấm vận của A Mễ Công Đế. Bây giờ lịch sử đã sang trang với cơ hội cho ngoại giao hai nước.
Thứ hai: Sau khi Đại Quốc Đông Liên với lãnh thổ chiếm gần một phần năm địa cầu tự phân rã thành hàng chục quốc gia lớn nhỏ, A Mễ Công trở thành siêu cường không đối thủ, ảnh hưởng mọi mặt phủ lên toàn cầu. Một cái hắt hơi của A Mễ Công Đế đủ làm cả thế giới ớn lạnh theo, huống hồ khi người khổng lồ này bước qua đại dương vào đất cựu thù. Cả thế giới dĩ nhiên phải rung chuyển theo bước đột phá của quan hệ song phương này. Nếu liên minh giữa họ được thiết lập, sức mạnh của cả hai sẽ càng tăng lên, tầm ảnh hưởng đối với thế giới sẽ thay đổi về chất!
Dù là người khổng lồ có sức mạnh khủng khiếp, nhưng khi bước chân vào đất cựu thù, A Mễ Công Đế vẫn không tránh được hoang mang, lo lắng. Vì thế ông ta đã kinh ngạc khi được nhân dân và triều đình Thạch Đế đón tiếp nồng hậu, văn minh. A Mễ Công Đế càng vui hơn khi thấy những người trong hoàng gia đi cùng ngài, như: nhạc mẫu, hoàng hậu, công chúa tỏ ra rất thích thú với đất nước chưa phát triển này. Họ ăn ngon lành các món ăn và đẹp lên rất nhiều trong y phục truyền thống của nước chủ nhà. Họ tung tăng trên bờ biển nhiệt đới và suốt ngày nhảy nhót, mua sắm, hồ hởi với đám đông thân thiện…
Trong buổi tiếp chính thức được tổ chức long trọng, A Mễ Công Đế đã gây kinh ngạc cho cả triều đình và muôn dân của Thạch Đế khi ngài ngân nga một đoản thơ quốc hồn quốc túy của nước chủ nhà, với đại ý: Khi tiết xuân về, cỏ hoa tươi tốt, lòng người hoan hỉ thư thái, gặp ai cũng muốn nở một nụ cười… Tiếp đó ngài vung tay hô lớn: “Hòa bình muôn năm, tình hữu nghị hợp tác phát triển giữa các dân tộc muôn năm!”. Cả thế giới đang nhìn vào cuộc hội kiến cao cấp này. Dù biết chỉ là ngôn ngữ ngoại giao, song A Mễ Công Đế đang chinh phục thành công muôn vạn khán giả. Mái tóc vàng óng bồng bềnh, dáng người to khỏe, chắc nịch vì thể thao, nụ cười quyến rũ và ánh mắt xanh màu thâm trầm; vị đế vương hàng đầu này, hôm nay trông giống một nghệ sĩ lãng mạn, lịch lãm hơn là một hung thần chiến tranh! Hoàng hậu của ngài, đồng thời cũng là nhà ngoại giao của cường quốc A Mễ Công. Rất giản dị, gọn gàng từ y phục đến mái tóc, bà vẫn toát lên nét sang trọng, quý phái mà không cần đến gấm vóc xa hoa hay châu báu huyền ảo. Bà càng xuất sắc hơn khi mới hôm qua, bà đã đội chiếc nón lá truyền thống của xứ Rồng, lặn lội đến những thôn xóm nghèo tặng một ít tiền bạc và nói chuyện với những phụ nữ bình dân thân mật như bạn bè. Cô công chúa ở tuổi mười tám đẹp một cách thú vị trong tà áo dài truyền thống của người xứ Rồng. Cành vàng lá ngọc này đổ mồ hôi nhễ nhại vì nắng, nóng, bụi bặm mà vẫn cười hồn nhiên như một thiên thần.
Theo ý của hoàng hậu Chân Lý, Thạch Đế hôm nay tiếp quốc khách không có long bào luộm thuộm, bộ đại cán của thời chiến tranh hay khăn đóng áo dài cổ hủ, mà bệ vệ trong Tây phục thẳng nếp. Hậu nói với Đế:
- Lúc mới lên ngôi, dân gian gọi chàng là “vua nhà binh” vì vẫn thích cởi trần, quấn khăn, đóng khố và lủng lẳng bầu rượu, cây búa. Nay đất nước khá lên rất nhiều, lại giao lưu hội nhập, vua càng cần phong thái xứng tầm. Chàng phải phúc hậu, hồng hào, tươi tắn lên thì trăm họ mới qua được hoạn nạn, thiên tai. Dân gian kể rằng quan hộ đê của nước mình mặt mày khổ sở quá nên năm nào cũng lũ lụt, trôi đê, ngập làng…
Thạch Đế gật gù:
- Bây giờ ta đã là sự chọn lựa của nhân dân rồi, ngoài cơm ăn áo mặc, y tế, học hành; ta còn có trách nhiệm giữ thể diện cho đất nước, đâu thể lùi xùi như xưa. Thời đi xin viện trợ đánh giặc, cứu đói qua rồi. Mai mốt quan lại nào không biết làm giàu chân chính cho gia đình, xã hội, ta đuổi về quê chăn gà hết!
Thạch Đế cùng các quan tham mưu ngồi chụm đầu, dò lại từng chữ của bài phát biểu chính thức cho ngày mai. “Chúng tôi muốn khép lại quá khứ, hướng đến tương lai trên tinh thần hợp tác bình đẳng để cùng phát triển vì lợi ích hai dân tộc, hai quốc gia!”. Câu này hay rồi, nhưng chúng ta cần cân nhắc kỹ có nên đưa phần yêu cầu A Mễ Công Đế bồi thường chiến tranh không? Cuối cùng tất cả thống nhất chuyện này cứ để đại diện ngoại giao của hai bên đàm phán song phương trong những cuộc gặp sau này. Nhiều khả năng vì thể diện nước lớn, đối phương chỉ chấp nhận chi tiền viện trợ nhân đạo, chứ không phải bồi thường như những nước bại trận phải làm.
Trở lại với cuộc hội kiến lịch sử giữa hai ông vua là đối thủ của nhau trong quá khứ và vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau trong một số vấn đề hiện tại. Sau khi A Mễ Công Đế phát biểu đề cao hòa bình, hợp tác và ca ngợi nền văn hóa lâu đời, phong phú và mang nhiều giá trị nhân bản của dân tộc Rồng; Thạch Đế lên diễn đàn đáp từ. Là một thủ lĩnh xông pha trận mạc, bản lĩnh hơn người và chưa bao giờ bại trận; song hôm nay Thạch Đế vẫn có cảm giác lo lắng. Cả thế giới, cả dân tộc đang hướng về ngài, đang dỏng tai nghe, suy ngẫm về từng lời ngài nói. Ngôn ngữ lúc này có giá trị khủng khiếp. Phải mất một phần tư thế kỷ sau chiến tranh, bằng những nỗ lực vô bờ của cả dân tộc, cộng thêm với “thiên - thời - địa - lợi”, mới có cuộc gặp cấp cao này. Phải cám ơn một số cựu chiến binh A Mễ Công từng tham chiến ở xứ Rồng. Từ cuộc viễn chinh khốc liệt trở về cố hương, họ mang theo những đau khổ, dằn vặt, ân hận vì bàn tay đã nhuốm máu người già, trẻ thơ, phụ nữ… Họ đã trở thành những nhà chính trị thiên tả, có lương tâm, cố làm mọi cách thuyết phục A Mễ Công Đế quay trở lại đất nước của cựu thù bằng tình hữu nghị. Nhiều người như vậy có mặt trong cuộc hội kiến này, họ đứng sau lưng A Mễ Công Đế và âm thầm khóc vì sung sướng trước cái bắt tay của hai nhà lãnh đạo. Những nỗ lực to lớn từ nhiều phía suốt một giai đoạn lịch sử dài dặc như vậy, đã làm A Mễ Công Đế dần dần thay đổi. Từ xóa bỏ bao vây cấm vận, bình thường hóa quan hệ ngoại giao, đã tiến đến bước cao hơn là sang thăm xứ Rồng. Việc này cũng không hề đơn giản ngay cả với một hoàng đế nhiều quyền lực nhất thế giới. Các phe phái trong chính trường nước ngài, vẫn còn những kẻ hiếu chiến. Họ muốn ngài phải phục thù. Một số phù thủy ngổ ngáo trong cộng đồng một trăm sáu mươi tám vạn Rồng kiều đang sống lưu vong trên đất của ngài, cũng hùa vào quan điểm này. Họ là sản phẩm của mưu kế “thay màu da trên xác chết” bốn mươi năm trước A Mễ Công Đế dùng trên xứ Rồng. Xưa họ có địa vị, tiền bạc, quyền lực chính trị, quân sự… do ngài ban tặng để mặc giáp, cầm gươm xông trận chết thay cho quân lính viễn chinh của ngài. Để tự thấy mình có chính nghĩa, họ tuyên bố chiến đấu để bảo vệ tự do cho phần lãnh thổ hữu ngạn và gọi ước mơ thống nhất xứ Rồng của Thạch Đế là “tham vọng xâm lược”. Chiến tranh kết thúc, một bộ phận của đội quân bại trận hùng hậu ấy bị dồn ra biển, trôi nổi đen đặc khắp mặt đại dương. Các tàu mẹ khổng lồ của ngài đã vớt họ lên đưa sang xứ sở của ngài định cư đến giờ. Họ trở thành cộng đồng A Mễ Công gốc rồng trong xứ sở bao la, đa sắc tộc này. Những ngày đầu chỉ hơn chục vạn. Tiếp theo đó là nhiều chục vạn khác là thân nhân, gia quyến của họ cũng tìm đường sang đây. A Mễ Công Đế đón nhận tất cả để chứng tỏ với thế giới rằng, ngài là người hào hiệp không bỏ rơi những đồng minh bé nhỏ. Thạch Đế lúc đó đang thiếu gạo nuôi quan, lính và dân; lại phải gánh thêm mấy chục vạn sĩ quan, công chức chế độ cũ ở phần lãnh thổ hữu ngạn sông Thập Thất đang bị cách ly trong các trại cải tạo vì sợ họ làm loạn. Xứ Rồng đang hột gạo cắn làm ba (nuôi dân trong nước, chi viện chiến trường Tây Nam và trả nợ vay thời chiến tranh chống quân xâm lược A Mễ Công Đế), phải tốn thêm lương bổng, nhà ở, quần áo để nuôi hàng vạn quan quân canh giữ các trại này. Thạch Đế thấy tốn kém quá nên đã cho lực lượng này “ra đi trong trật tự” cùng với gia đình họ, để ngài vừa nhẹ gánh, vừa được tiếng thơm là rộng lượng, bao dung. Lúc đầu A Mễ Công Đế cứ tưởng đây là bàn thắng ngoại giao của mình nên tuyên truyền ầm ĩ vụ cưu mang đoàn người này. Cứ mỗi chuyến tàu cập cảng đều được đón chào bằng câu: “Chúc mừng các bạn đến với bến bờ tự do”, mỗi người như thế bước vào xứ sở của mình, A Mễ Công Đế đều trân trọng gọi họ là người tị nạn, được giúp đỡ để hòa nhập vào liên bang đa sắc tộc của ngài. Nhưng rồi dòng người tị nạn ấy cứ dài theo năm tháng do quê hương của họ đang đói kém và có những sai lầm về phân biệt đối xử. Đất nước giàu có của A Mễ Công Đế không thể nai lưng ra nuôi họ mãi. A Mễ Công Đế gào lên với các nước từng liên minh tấn công Thạch Đế: “Các ngài phải nhân đạo chứ, phải chia sẻ gánh nặng cho ta và bất hạnh cho những người tị nạn”. Thế là dân xứ Rồng được sinh con đẻ cháu khắp năm châu bốn biển. Đây là cuộc di cư và hòa huyết lân bang lớn nhất trong lịch sử 4000 năm của xứ Rồng. Mấy mươi năm sau, có nhà văn trong cộng đồng Rồng kiều lưu vong đã viết: “Hình như ngày xưa mẹ tổ của chúng ta đẻ ra đến một trăm mười cái trứng, chứ không chỉ trăm trứng như sử sách đã ghi: trăm trứng nở trăm con, năm mươi con theo cha lên núi, năm mươi con theo mẹ xuống biển, mười cái trứng bị quên lãng còn lại đã bị sóng cuốn ra biển, trôi dạt tứ xứ để trở thành bầy gà con mất mẹ, dáo dác, lưu vong đến bây giờ”. Những câu văn bình dị như thế, mà sao đọc xong đau xót đến tận tâm can? Mẹ tổ ơi, có linh thiêng thì dù muộn màng hãy cho chúng con đoàn tụ dưới mái nhà của mẹ! Đám hậu duệ non trẻ của mười cái trứng lạc loài đó bây giờ cứ nghĩ tổ mẫu của chúng là tượng người đàn bà to lớn, đội vương miện, tay cầm đuốc trên xứ người!
Chuyện người tị nạn là một bài ca buồn bã, một nỗi đau chung của cả dân tộc Rồng mà có lẽ phải mất vài thập niên nữa mới mong hàn gắn được vết thương nhức nhối do ngoại bang gây ra này! Đó cũng là nguyên nhân sinh ra đám phù thủy ngổ ngáo muốn phá hoại cây cầu vồng ba mươi sáu sắc màu rực rỡ nối hai bờ Đông – Tây đại dương để dân tộc Rồng tái hợp. Hãy nhìn lại trang sử này…
(còn tiếp)
Nguồn: Thạch đế. Tiểu thuyết của Lại Văn Long. NXB Văn học, 2009. |