tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và
hội họa
truyện dân gian Việt Nam
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 1219736
Tiểu thuyết
26.02.2010
Lê Minh Đức
Cuộc đời người thợ

Khi tôi học lớp 3 (cours élémentaire), thầy Phạm Văn Út thấy hoàn cảnh gia đình tôi như vậy, rất thương. Thầy gặp má tôi, bảo:


- Chị chỉ có thằng Đức là con trai, cháu không có cha nuôi dạy, tôi giúp chị dạy dỗ cháu năm nay (tức năm học 1931-1932) để cháu thi đậu học bổng (bourse). Vì chị không đủ sức nuôi cháu học, nên chị vui lòng cho phép tôi dạy. Nếu có lúc tôi đánh cháu, chị đừng nóng giận, để cháu học giỏi nên người.


Má tôi bảo:


- Thày Út là ông Bụt hiện ra để giúp con, giúp má. Ráng học cho giỏi, chớ phụ lòng ông Bụt nghe Đức!


Năm học đó, tôi được thầy kèm cặp dạy bảo trong giờ, ngoài giờ. Đến giữa năm 1932, tôi thi đậu học bổng với con số 14 là số chót trong 15 đứa được chọn (vì có hai đứa thứ 14) rồi tôi được sang học trường tỉnh Cần Thơ, được Nhà nước thuộc địa Pháp cấp học bổng, mỗi tháng 5 đồng (những năm sau xuống còn 4 đồng). Thời đó, 5 đồng rất lớn. Kể như tôi có lương từ khi còn đi học!


Tiền học bổng lãnh ra đưa cho má tôi trả nợ dần, còn tôi thì được dì và dượng Sáu (Mười Quế) nuôi ăn học tại phố 18 căn, đường Cái Khế (Cần Thơ). Tôi còn nhớ mãi kỷ niệm sâu sắc của đời tôi trong năm học 1931-1932. Đó là năm gia đình ông và bà ngoại tôi thất nghiệp, nghèo khổ không có cơm ăn trong những tháng mùa nước nổi. Đi học về, tôi ngó bếp lạnh tanh, ông bà bôn ba tứ tán. Tôi ăn từ trái dừa non, hết dừa ăn chuối, hết chuối non là nhịn đói. Thỉnh thoảng vài ba ngày có ông Tám Báu, nhà hàng xóm kêu qua cho hai chị em một chén cơm sống qua ngày.


Gần đến ngày thi học bổng, cần phải nộp Giấy khai sinh. Lúc sanh tôi ra, má tôi nghèo quá, không có tiền lấy giấy khai sinh mà chỉ báo với nhà Bảo sanh ghi vào sổ sanh đẻ tên cha và mẹ. Cuốn sổ đó nhiều năm sau chuyển về làng Tân An, thuộc làng ngoại thành Cần Thơ. Má tôi không thể biết được, nên đành đi vay 10 đồng bạc nợ - phải ở đợ thêm hai năm- để có tiền nộp lệ phí và đút lót cho người chánh lục sự làm cho bản khai sinh. Nhờ đó tôi mới có đủ giấy tờ nộp lên trường xin đi thi học bổng.


Lại còn một nỗi khác là phải chụp hình gắn vô thẻ học sinh để trình khi vào thi. Đào đâu ra tiền, dù chỉ là 3 cắc bạc (0,3đ). May thay, có thầy giáo Đặng Quang Nhâm (sau này ông đi kháng chiến chống Pháp, tập kết ra Bắc. Giải phóng miền Nam, ông trở về làm Giám đốc Sở Công nghiệp tỉnh Cần Thơ) đang dạy lớp 5. Thầy Nhâm hiểu rõ hoàn cảnh tôi, thầy kêu lên cho 3 cắc đi chụp hình làm thẻ đi thi. Làm sao và bao giờ tôi có thể trực tiếp đền ơn những ông Bụt của đời tôi như thế!


Hạnh phúc lớn nhất của đời tôi là có một người mẹ có chí hướng lớn, hy sinh tuổi xuân của mình để chăm lo cho đứa con trai ăn học thành người hữu ích cho xã hội. Má tôi còn hun đúc cho tôi ý chí cách mạng. Má và con trai đều theo con đường cách mạng do Bác Hồ lãnh đạo.


Quê hương tôi: Bình Minh, Vĩnh Long là một cù lao lớn, nằm giữa hai con sông lớn là sông Tiền và sông Hậu. Quanh năm nước ngọt, cá, tôm, cua, ốc, lươn, rắn, chim, gia súc nuôi vô cùng phong phú. Khí hậu bốn mùa mát mẻ, mùa nắng không nóng bao nhiêu, mùa lạnh cũng chẳng mấy khi xuống dưới 23 độ C. Sản vật nông nghiệp, thủy sản vô cùng dồi dào. Cây trái đủ thứ trở thành hàng hóa, đặc sản: bưởi Năm Roi, sầu riêng, cam, quýt, xoài, chôm chôm, nhãn. Rau củ cũng rất nhiều. Tôi ở với ngoại từ 5 tuổi đến 18 tuổi. Trong cái cực có cái vui như: câu cá, câu tôm, bắt cá bằng mọi cách, bắn chim, xay lúa giã gạo, quết chuối, nấu tấm cho heo ăn hàng ngày, giúp ngoại bơi xuồng chèo ghe đưa ngoại đi công việc rất thạo. Năm tôi 8 tuổi, ngoại bảo tôi đi đến nhà ông thầy thuốc bắc, ông Hai Tăng, kể bệnh và mua thuốc cho ngoại. Ông thầy Hai ở bên kia sông Mỹ Thuận (của làng Mỹ Thuận) sông rộng chừng 40m, đi vào độ 2 cây số, không có cầu qua sông. Tôi là trẻ con, khó quá giang qua sông. Tôi cởi quần áo, quấn lại cầm tay, lội (bơi) đứng, tay giơ cao không ướt quần áo, qua bờ sông bên kia phủi nước mặc quần áo vào đi lấy thuốc. Lúc trở về cũng vậy. Làm được gì giúp ngoại, lòng tôi rất vui mừng, không thấy cực khổ gì hết.


Tuổi thơ tôi lao động như vậy là bình thường. Tôi luôn vâng lời ông bà ngoại, má và chị, làm mọi việc để người lớn hài lòng. Ngày đi học hai buổi, thứ năm và chủ nhật nghỉ, ngoài giờ đi học về nhà thì giúp má làm việc nhà. Năm ấy, tôi 10 tuổi. Mồng một Tết, bà ngoại muốn sang chúc tết nhà sui gia, bên rạch Bà Lê, gần cầu Cái Răng - Cần Thơ. Ngoại bảo tôi bơi xuồng cùng một người bạn láng giềng 10 tuổi như tôi là anh Năm Xinh. Xinh cũng nghèo, thất học. Tôi bơi lái bà ngoại ngồi giữa, Năm Xinh bơi mũi. Xuồng nhỏ, chở sáu người, vậy mà chúng tôi bơi từ làng Mỹ Thuận sang sông Hậu Giang (Bắc Cần Thơ) rộng 2 km đến rạch Bà Lệ khoảng 12 km. Sáng đi sớm, đến nhà sui gia khoảng 11 giờ. Nhà ăn cơm nhưng chúng tôi không được dự. Đói quá, tôi lén hái trái ổi của những cây ổi de theo bờ mương. Ăn vô bụng, xót ruột càng đói. Tôi nói nhỏ với bà ngoại quay trở về. Đường xa 12 km, bụng đói, giữa trưa mà dám bơi xuồng qua sông lớn Hậu Giang, trưa hay có sóng to, vậy mà hai đứa trẻ ranh bụng đói cồn cào ráng bơi xuồng qua sông hơn một giờ đồng hồ mới tới bờ. Bây giờ tôi nghĩ lại mà rợn cả người! Trong kháng chiến, tôi qua lại sông này nhiều lần đi công tác, đi bằng xuồng chèo, đi bằng ghe lớn chèo tay, ấy là tuổi thanh niên sung sức. Giờ đây, tôi không dám chèo ghe lớn qua sông một mình chớ đừng nói đến việc bơi một chiếc xuồng con.


Thời kỳ 1922 đến năm 1936, làng tôi sống yên tĩnh, cuộc sống êm ả lắm. Người nghèo không có đất ruộng nhưng có sức lao động thì đi cày cấy thuê cho nhà giàu. Các nhà phú nông lớp trên giao ruộng cho người nghèo - ngoài Bắc kêu là cấy giẽ - mùa này, đong lúa vụ sau. Vào mùa nước, lũ lụt thì họ vay của nhà giàu, vay 10 giạ trả 15 giạ. Lúa vay ở dưới đáy bồ thường là ẩm, nấu gạo nở và mất chất, đến mùa trả phải trả bằng lúa tốt. Họ đi phát cỏ, dọn đất, cày cấy thuê, đến mùa gặt, thường là đong trả lúa nợ hết. Những người mướn đất để cày cấy thì đong trả theo lúa ruộng (thuê ruộng). Những năm thất mùa, coi như làm công không, và tiếp tục sống với cuộc nghèo đói bần cùng. Vậy nhưng cả làng đều lương thiện, nhân hậu. Họ tiếp tục đi vay, đi mượn đất làm mà không rượu chè, chơi cờ bạc như bây giờ. Bà con sống nghèo mà thanh bạch, không đi ăn xin, không ăn cướp, ăn trộm. Nếu có ai đó đi ăn trộm thì chỉ đi ăn trộm đào nền nhà, khoét vách của những nhà giàu có.


Quê tôi có vài nhà địa chủ giàu có, họ làm giàu bằng sức lao động của mình, bằng tài khéo léo tổ chức sản xuất và sự may mắn. Họ cho con đi học làm quan, nhưng họ chưa bao giờ là cường hào ác bá, bóc lột thậm tệ dân nghèo.


Thuở ấu thơ, vì không được cha chăm lo ăn học, nhiều lúc tôi sinh oán hận cha mình. Khi lớn lên, đi Sài Gòn học thì trong lòng tôi không còn cảm giác oán hận cha nữa! Đơn giản là vì cha tôi cũng không sung sướng gì sau khi bỏ má tôi. Chưa bao giờ má tôi tỏ ra oán hận cha. Má luôn dạy tôi phải tự lực mà sống và luôn tự hào có cha là một thày giáo. Cha tôi lấy vợ khác, sau 3 năm không có con và suốt đời cũng không có con, người đàn ông như thế thì còn sung sướng nỗi gì!


Năm tôi mới 2 tuổi, bị bệnh quá nặng, má sợ tôi chết, bên nội không có cháu đích tôn. Má tôi chở tôi sang trường cha đang dạy học là trường tiểu học Kinh Xáng - Xà No. Má bồng tôi một tay, tay kia che dù. Cha tôi đang dạy ở trường. Má tôi đến nhà thì bị người vợ của ba tôi lấy cây đuổi đánh. Má vừa lấy dù đỡ các đòn đánh để che chắn cho con, cây dù bị gãy rách và ngón tay út bên phải bị gãy xương. Vì không có thuốc chữa nên đến năm 1973, khi má chết, ngón tay vẫn còn tật.


Má tôi ở đợ thêm 2 năm 1933-1934, khi hết nợ, má tôi nghĩ cách lên Sài Gòn làm mướn, cho tôi tiếp tục học lên nữa. Năm 1935, má tôi lên làm công gói đường, kẹo cho hãng đường Hiệp Hòa (hồi đó thuộc Chợ Lớn, cách Sài Gòn 50km). Dì và dượng Sáu tôi làm thợ ở đó.


Từ những năm 1932đến 1936, bốn năm học tại trường Primaire, tỉnh Cần Thơ, tôi là một học trò khá, giỏi, thường được xếp hạng nhất, nhì và ba của lớp. Cũng trong năm 1936 trong lúc còn học để thi, tôi ở gần nhà anh Nguyễn Công Trung. Anh là Đảng viên Đảng Cộng sản lúc bấy giờ. Anh thương tôi nghèo, nhiệt tình hướng dẫn tôi học để thi. Tôi rất cảm phục anh Trung. Anh đấu tranh rất kiên cường chống Tây ngay khi còn đi học trung học. Có lần đi học, gặp cai ngục đánh tù đi làm, anh giật roi đánh lại cai ngục nên bị đuổi học. Anh vẫn tiếp tục viết báo đấu tranh, có lần bọn lính kính phát hiện, anh nhờ tôi chép lại những bài anh đã viết để gởi nhà báo, làm cho bọn mật thám không biết được bài của anh. Qua anh, tôi bắt đầu hiểu phải chống Tây để giành cuộc sống, giành đất nước độc lập.


Năm 1936, 14 tuổi, tôi thi đậu Certificat de primaire. Chủ nhật, tôi về thăm bà ngoại. Chiều ngày đó, bà bảo tôi lên xóm trên mua cho bà vài trái cau và một ốp trầu, bà ngoại ăn trầu. Tôi mới lên tới xóm vừa mua được cau trầu thì ở xóm nhà ngoại đánh mõ la làng cầu cứu. Không kịp nữa, bà con hàng xóm tận tình cứu chữa không được. Tôi chạy về thì ngoại tôi đã chết, người ta gọi là chết bất đắc kỳ tử. Chưa đến kỳ nghỉ hè, tôi phải ở lại làm ma chay bà ngoại tôi nên đến trường Cần Thơ trễ, vắng mặt 2 ngày không có phép. Tôi bị ông Đốc học Nguyễn Văn Tý (hiệu trưởng bây giờ) phạt, không cấp giấy cho tôi đi thi học bổng vào trường trung học Cần Thơ (Colêge de Can Tho). Chỉ vài ngày nữa là đến ngày thi mà tôi chưa có giấy gọi thi. Tôi đến trường lạy ông hiệu trưởng, thì ông nói ông thương con nên ông mới cấp giấy. Nỗi buồn dồn dập, đến ngày thứ hai, tôi vào thi với tâm trạng bà ngoại chết, rất đau buồn. Tôi được bà ngoại thương yêu nhất, là chỗ dựa cho đời tôi, nay ngoại đã chết, tôi hụt hẫng… Trong lúc đó thì má tôi đã lên làm công nhân gói đường tại hãng đường Hiệp Hòa tại Rạch Gốc, huyện Đức Hòa thuộc tỉnh Chợ Lớn lúc bấy giờ. Đó cũng là hướng của má tôi dọn đường cho tôi đi theo để lên học ở Sài Gòn.


Nói trở lại, tôi vào lớp ngồi thi mà tâm trạng thì buồn bã, nếu có thi đậu học bổng thì cũng không có tiền sắm sửa vào học nội trú, phải tốn ít nhất 30 đồng để mua sắm quần áo, đồ dùng, tiền đâu mà mua? Bữa cơm hằng ngày còn chưa biết ăn ở đâu, kiếm đâu ra ba chục? Tôi để giấy làm bài thi trên bàn, bỏ ra về. Ra khỏi cổng trường thì lại gặp cha, cha hỏi sao mầy đi ra mà không thi, lúc đó tôi tức quá (vì buồn tủi dồn dập nhiều thứ) nên tôi nói với ba tôi là tôi bỏ, tôi không thèm thi; và tôi đi luôn, không chào cha. Sau này lớn lên, tôi ân hận mãi vì việc không chào cha. Con mà như thế là hỗn láo. Đến bây giờ, khi viết những dòng này, tôi chưa bao giờ tha thứ cho mình.


Những ngày còn lại, tôi lãnh học bổng được tám cắc bạc, đủ mua một vé xe đi Sài Gòn.


Ông nội tôi làm Hương quản, nhà giàu có. Bà nội là một người vợ rất sợ chồng, cam phận theo nếp chồng chúa vợ tôi, lo chăm sóc chồng, thương yêu các con, nhưng không có quyền hành gì trong gia đình. Lễ giáo phong kiến như vậy. Đến bữa, ông nội ăn cơm trước, ở nhà trên, một mình; bà nội ăn sau ở nhà bếp, với những người ở đợ trong nhà. Nhưng bà nội tôi rất hiền đức, nhân hậu. Có vài lần, bên ngoại tôi đói, bà ngoại tôi chở hai chị em tôi đến nhà bà nội, đi lối cửa sau không cho ông nội thấy. Hai bà nói với nhau to nhỏ gì đó, rồi bà nội đưa cho bà ngoại tôi vài đồng bạc và một thùng gạo 20 lít.


Tôi tên trong khai sinh là Lê Văn Đức. Năm 1934, trước khi bà nội chết, trối trăng lại là nên lót chữ “Minh” cho thằng cháu đích tôn. Bởi thế, khi đi kháng chiến, tôi lấy tên Lê Minh Đức suốt tới nay. Ngày bà nội chết, tôi được ông nội gọi về chịu tang. Không được ở gần ông bà nội, nhưng hình ảnh ông bà luôn luôn ngự trong trí óc tôi. Bên nội, ai cũng sợ ông nội. Vài lần đến nhà nội, tôi chỉ dám nhìn lén, ông rất nghiêm khắc với mọi người trong nhà.


Năm 1939, tôi học năm thứ ba của trường Kỹ nghệ Sài Gòn. Năm đó tôi 17 tuổi. Ông nội cho người đến trường gọi tôi ra khách sạn nơi ông ở. Tôi ra gặp ông. Ông rất niềm nở. Ông công nhận tôi là cháu nội, ông nói:


- Cha con không làm được gì, chú ba con thì hư hỏng, đã chết (chưa có vợ, chết năm 1933; bên nội có gọi má tôi cho tôi về chịu tang). Cô Năm thì đi lang thang, không chồng. Chú Sáu thì lêu lổng, ăn chơi. Vì vậy, ông thấy con là niềm hy vọng của gia đình và gia tộc. Con là người cháu có thể gìn giữ được gia phong, gia sản, thờ phụng ông bà, tổ tiên.


Lúc đó tôi học giỏi, là thợ có tay nghề. Tôi đang học năm thứ ba, năm 1940 sẽ ra trường. Tôi nghĩ mình tuổi Thân, không dám nhận lời ông! Tôi làm thinh, lẳng lặng nghe ông nói. Hết giờ, tôi phải về trường trước 9 giờ tối, giờ đóng cửa. Việc đó chỉ có hai ông cháu biết. Mồng bảy Tết, ông nội tôi á khẩu, không nói lời trối trăng, chết bất đắc kỳ tử. Việc đó im lặng đến bây giờ.


Nói thêm về cha. Sau ngày 9-03-1945, Nhật đảo chính Pháp. Tôi cưới vợ được hai tháng. Nhật chiếm hãng xáng Mỹ Tho, nơi tôi làm. Tôi bỏ xưởng, trốn Nhật về Mỹ Thuận, không có tiền, nên qua Cần Thơ lãnh đồ sửa chữa xe hơi. Ba tôi đến gặp, tôi dẫn ba tôi về Cái Khế - Cần Thơ nơi tôi và vợ tôi tạm ở. Lúc đó, vợ tôi đang bị cảm gió. Ba mua thuốc cho vợ tôi và còn bảo hai vợ chồng tôi về đất của ông nội, tại Bình Thủy - Cần Thơ cất nhà ở, bán cây cối để có tiền ăn. Tôi từ chối:


- Thưa ba! Con cám ơn ba! Hiện con có nghề nghiệp, làm ăn được ba già yếu rồi, vậy ba bán lấy tiền đó sinh sống.


Tôi vừa buồn, vừa vui. Vui vì tôi nghiệm ra ba tôi thực lòng nghĩ đến tôi!


Từ đó cha con không gặp nhau. Năm 1948, cha tôi cảm, trúng nước, rồi chết! Năm ấy, tôi 26 tuổi. Lúc ba tôi bệnh, có một anh tự vệ của làng tôi, tôi là xã đội trưởng, thủ trưởng của chú tự vệ, được cử qua Cần Thơ học tập quân sự do tỉnh mở. Anh ấy gặp ba trong lúc đau. Ba dặn lại là ba tôi rất hài lòng về tôi! Con trai không theo giặc, làm cho Tây, đúng như truyền thống gia đình.


Sau đó thì ba tôi chết.


(còn tiếp)


Nguồn: Cuộc đời người thợ. Tự truyện của Anh hùng Lao động Lê Minh Đức. NXB Văn học sắp phát hành.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hãy trả lại tình yêu - Phạm Thanh Quang 10.09.2010
Bóc vỏ trái đất - Mã Thiện Đồng 10.09.2010
Minh bạch - Nguyễn Hồng Cẩn 09.09.2010
Đường xưa mây trắng - Nhất Hạnh - Nguyễn Lang 09.09.2010
Một ngày cho trăm năm - Nguyễn Bá Trình 08.09.2010
Nỗi oan - Vũ Mỹ Dung 08.09.2010
Cuộc đời người thợ - Lê Minh Đức 20.08.2010
Ái tình họa lang - Trương Kháng Kháng 18.08.2010
Hai mươi năm sau - A. Dumas 17.08.2010
Zorba tay chơi Hy Lạp - Nikos Kazantzakis 04.08.2010
xem thêm »