Từ những công chức vương giả, có nhiều tiền lẫn quyền; từ những tướng lĩnh nắm vận mệnh của cả vạn người; khi lửa chiến trường vừa tắt, họ đột ngột thay đổi thân phận. Có người bị hắt hủi, khinh miệt bởi chính đồng minh trong lửa đạn một thời của mình, ngay khi bước lên con tàu mẹ để chạy trốn cuộc truy đuổi cuối cùng của Thạch Đế. Họ cay đắng nhận ra khối thép khổng lồ bồng bềnh trên biển này đã tước đoạt hết những gì hai mươi bốn giờ trước đó họ còn đang là chủ: một gia đình êm ấm trong một biệt thự tiện nghi, sự cung phụng của cấp dưới và những hào quang trong sự nghiệp. Khi tàu cập vào “bến bờ tự do”, từ quan đầu triều, quan tư lệnh, trí thức đầu ngành cho đến anh lính chốt, cô gái điếm chạy theo đoàn quân bại trận đều lần lượt trở thành những người bốn không: không quê hương, không nhà cửa, không tiền và không nghề nghiệp. Anh lính tốt giờ làm bồi bàn có thể bất ngờ gặp ông tư lệnh oai phong của mình ngày nào đang làm đầu bếp trong cùng nhà hàng. Bà mệnh phụ ngày xưa thích đi dạo trên vai các kiệu phu, giờ bẽn lẽn muối dưa cà đi bán dạo. Cậu học trò mấy năm trước không thể ngờ có ngày gặp sư phụ lừng lẫy uyên bác của mình trong cùng một lớp học dạy nghề thợ xây cho người tị nạn… Tất cả bất hạnh ập đến như một cơn ác mộng! Khi nhận ra sự thật phũ phàng, hầu hết họ đều muốn tự sát ngay trong những ngày đầu đổi đời. Nhưng rồi cha mẹ, vợ con còn ở lại đã buộc họ phải sống. Họ bước vào cuộc chiến mới với vũ khí là sức lao động và lòng nhẫn nhục. Thật ra là cả sự dối trá nữa, bởi trong những bức thư sau đó gởi về cho người thân, họ đều vẽ đất nước xa lạ, kỳ thị chủng tộc này là một thiên đường. Họ có vị trí sang trọng trong thiên đường đó thay vì sự thật là không ít tủi nhục!
Số đông trong đội quân “chết thay” đó không kịp chạy ra biển phải buông kiếm đầu hàng quân Thạch Đế. Lúc đầu Thạch Đế tính gom hết lại, giáo dục họ vài ngày hay vài tháng gì đó rồi cho về đoàn tụ gia đình. Hơn hai mươi năm ròng rã, anh em sát hại nhau bằng vũ khí và thủ đoạn của ngoại bang đã quá đủ rồi, đâu ai muốn kéo dài hận thù giữa máu thịt với nhau nữa! A Mễ Công Đế tuy rất cay đắng trước thất bại quân sự, nhưng bằng tầm nhìn bao quát của một thủ lĩnh, ông không muốn xứ Rồng trở thành “vùng ảnh hưởng” của các đại quốc khác. Một đoàn sứ giả đã sang xứ Rồng đề nghị tái lập bang giao ngay khi cuộc chiến vừa kết thúc được sáu trăm ngày. Chai Thần Đế rất ngại Thạch Đế sẽ tăng sức mạnh sau khi thống nhất đất nước và bắt tay được với người khổng lồ. Ông tìm cách phá bĩnh. Một mặt ông tung kế ly gián để các cận thần nghi ngờ Thạch Đế muốn xét lại. Ông lại tung ra những miếng mồi thơm để câu nhử A Mễ Công Đế. Lúc đó quân sư của A Mễ Công Đế là Bê Ta Lĩnh Kỳ vốn căm ghét những ông vua có chủ trương “lấy của nhà giàu chia cho nhà nghèo” như Thạch Đế. Gia đình ông ta cũng từng là nạn nhân của chính sách này ở vương quốc đã sinh ra một nghệ sĩ thiên tài và sau này cũng là nơi khởi đầu trận động đất làm đại quốc Đông Liên vĩ đại đột ngột tan biến, ảnh hưởng dữ dội đến tận quê hương của Thạch Đế! Chính Bê Ta Lĩnh Kỳ đã tác động vào quá trình làm thay đổi thế giới qua các lý thuyết do ông sáng tác và được người khổng lồ A Mễ Công Đế chọn làm đối sách chiến lược. Đó là “diễn biến hòa bình”, “vượt trên ngăn chặn” với công thức đáng sợ: “Một đồng đầu tư vào việc phá hoại tư tưởng của kẻ địch có tác dụng hơn hàng trăm đồng đầu tư vào quân sự…”. A Mễ Công Đế cũng từng nghe theo vị quân sư hiếu chiến này, đem quân xâm lược xứ Rồng. Cuộc chiến tranh đẫm máu làm chết, bị thương hàng trăm vạn người và gây hậu quả lâu dài cho cả hai quốc gia cũng bắt đầu từ lý thuyết tiền khởi của “diễn biến hòa bình”, có tên du dương như những nốt nhạc: “Đô- Mi- Nô”. Bê Ta Lĩnh Kỳ với tiếng tăm lừng lẫy đã được Chai Thần Đế tiếp trọng thị. Biết vị quân sư này ảnh hưởng lớn đến các bước chân của người khổng lồ A Mễ Công Đế, Chai Thần Đế đã tặng ông ta những báu vật có một không hai để lấy lòng. Từ phương Đông trở về, Bê Ta Lĩnh Kỳ hối thúc A Mễ Công Đế phải hướng chính sách đối ngoại vào đại quốc Chai Thần. Lúc đầu A Mễ Công Đế bác bỏ với lý do:
“Cái gã to xác nhưng chậm tiến đó từng ngạo mạn, thách thức gọi ta là cọp giấy. Ta chơi thân với gã sao được!”. Biết A Mễ Công Đế thích kiếm tiền, điều này không xấu, nhất là khi nhờ đó mà đất nước trở thành siêu cường. Nhưng khi vì lợi nhuận mà gây chiến tranh lật đổ, bạo loạn ở những nước nhỏ yếu hơn thì đó là những đồng tiền đẫm máu! Lĩnh Kỳ dang rộng tay trước mặt ông chủ, chọn lời dụ khị: “Đó là thị trường bao la, chiếm một phần năm sức tiêu thụ toàn cầu, ngài đối xử cứng rắn như thế chỉ thiệt thôi!”.
A Mễ Công Đế giật mình, sáng mắt, lập tức ra lệnh:
- Rút đoàn sứ giả đang đàm phán ở xứ Rồng về, ưu tiên thiết lập quan hệ với gã to xác chậm tiến!
Chai Thần Đế rất khoái trá trước sự chuyển hướng này. Đã rảnh tay vì không cần đối đầu căng thẳng với gã khổng lồ nữa, Chai Thần Đế quay sang xử xứ Rồng bé hạt tiêu. Một đoàn quân man rợ quấy nhiễu biên giới Tây Nam của xứ Rồng. Gọi là man rợ vì chúng vừa chôn sống một nửa dân tộc của chúng, một dân tộc từng xây nên những đền đài kỳ vĩ. Một dân tộc thâm trầm, hiền hòa trong Phật pháp độ lượng từ bi! Tiếp đó, chúng tràn qua xứ Rồng, hãm hiếp phụ nữ, giết hại từ người già đến trẻ con. Những nơi chúng đi qua, không còn một mái tranh nguyên vẹn, không một người nào sống sót. Tất cả chỉ còn tang tóc, điêu linh!
Quá căm giận, Thạch Đế kéo đại binh sang tiêu diệt gần hết đoàn quân man rợ, đám tàn binh còn lại trốn biệt vào núi rừng. Một vài lính chốt của Đế thử cưa đầu một xác địch và kinh hãi khi thấy não của chúng chai teo như quả cau khô, kiểm tra thêm thấy đứa nào cũng vậy! Chúng uống quá nhiều thuốc tư tưởng nhập từ phương Bắc về! Một quốc gia vì quá đông dân và tham vọng bành trướng đã bí mật thay thế thủ lĩnh của đội âm binh. Kẻ đứng đầu giả mạo đó đã sai quân giết hết nhân dân của đất nước này, để di dân quy mô, thành lập một tỉnh mới của họ ngoài biên giới. Đây là tham vọng ngàn năm của một chủng tộc tự cho là thượng đẳng. Không một lý thuyết cách mạng nào có thể thay thế, cải tạo được mưu đồ đại bá ấy!
Nhân dân đất nước đền tháp vô cùng biết ơn Thạch Đế đã cứu họ khỏi thảm họa diệt chủng. Thạch Đế đóng quân lại mười năm, vừa truy quét bọn tàn binh hung dữ, vừa giúp đất nước này hồi sinh và xây dựng lực lượng tự vệ quân sự. A Mễ Công Đế và Chai Thần Đế lúc này là một liên minh chống Thạch Đế. Họ cùng gào lên: “Gã tiểu bá Rồng xâm lược bành trướng!”. Khi Thạch Đế dồn đoàn quân man rợ vào đường cùng, Chai Thần Đế rất sợ mất đám âm binh dày công huấn luyện và đầu tư tốn kém, nên tìm cách làm giảm áp lực cho chúng. Ông ta xua sáu mươi vạn quân đột kích vào một phần lãnh thổ xứ Rồng. Lý do khai chiến của ông ta thật ngang ngạnh, vu vơ: “Dạy cho gã tiểu bá một bài học!”.
Mười năm trước đó, khi Thạch Đế chống quân xâm lược A Mễ Công Đế, Chai Thần Đế có cho ba vạn công binh sang xứ Rồng sửa giúp một số con đường. Sau này ông ta dùng các con đường đó để chuyển quân đánh Thạch Đế. Các kho vũ khí được chôn giấu dọc đường cùng với các bản đồ từ thời đó được mang lên sử dụng. Thạch Đế bất ngờ trước quả đấm lén của người anh em môi hở răng lạnh này.
- Mấy nghìn năm nay họ chưa bao giờ là bằng hữu thật sự của ta. Trong vài chục năm mặn nồng nhất, họ có cho ta hai con vịt quay nổi tiếng của họ cùng một ít cung kiếm, lương thực, ngựa thồ và trọng pháo. Song nhân lúc ta đang dồn lực thống nhất đất nước, họ bất ngờ cướp của ta một hòn đảo quí và bây giờ muốn lấy của ta sáu tỉnh vùng cao. Người anh lớn này quá tham vọng và nham hiểm.
Thạch Đế đã nói với các tướng sĩ như vậy. Ngài điều động khẩn cấp đại quân từ phương Nam cùng với các khí cụ chiến tranh tối tân mới thu được của A Mễ Công Đế ra phản công ào ạt, đẩy quân xâm lược trở về nơi chúng xuất phát. Trên đường rút chạy, đến cái mảnh chén bể, con gà chưa kịp lớn của dân ven đường cũng bị chúng hốt sạch! Chỉ trong hai tháng chiếm đóng trên phần lãnh thổ Rồng, đoàn quân xâm lược này đã san bằng hàng chục thành phố, hàng trăm thị trấn, làng mạc. Hàng vạn người dân vô tội đã bị chúng sát hại vô cùng dã man. Hàng chục giếng nước trên những làng quê thanh bình đã bị chúng biến thành những nấm mồ tập thể chôn xác biết bao phụ nữ, trẻ con. Mãi mãi, dân tộc Rồng chỉ khao khát hòa bình, lên án sự bạo tàn của quân xâm lược!
Như định mệnh, các cuộc chiến tranh cứ dồn dập đổ vào xứ Rồng, đất không rộng, người không đông, nằm kẹp giữa mưu đồ của các đại quốc. Khói lửa cuộc chiến này chưa tan thì cả dân tộc Rồng lại phải ra tiền tuyến cho một trận đánh khác. Nhiều gia đình ba bốn thế hệ hy sinh anh dũng trên chiến trường! Biển trước mặt bao la song đã bị tàu mẹ của các đại quốc bao vây ngặt nghèo, không còn cửa để thông thương, phát triển. Các nhóm tàn quân của cuộc chiến với A Mễ Công Đế ngày nào không kịp chạy ra biển và không chịu đầu hàng, dần dần tập hợp thành lực lượng quấy nhiễu núi rừng và các thành thị, thôn xóm. Trước thù trong giặc ngoài như vậy, Thạch Đế đành nuốt lời hứa với mấy chục vạn tướng lĩnh, quan lại hữu ngạn trong các trại cải tạo tập trung. Lúc này mà trả tự do cho họ khác nào thả hổ về rừng. Họ có thể nhập vào đám tàn quân, liên thủ với ngoại bang để chống phá Thạch Đế. Đất nước cũng đã kiệt quệ vì chiến tranh liên miên, bữa ăn của các công thần và đội quân thắng trận của ngài cũng toàn khoai sắn nói gì đến những bại binh trong các trại cải tạo. Đó là lý do để rất nhiều năm sau đó, trong cộng đồng Rồng kiều lưu vong ở hải ngoại, có hẳn một dòng văn học vượt biên, cải tạo với đầy rẫy nước mắt, căm hờn Thạch Đế. Cuộc sống của ngàn vạn gia đình hữu ngạn sông Thập Thất đã đảo lộn sau chiến thắng của Thạch Đế. Những gia đình ủng hộ ngài từ trong bóng tối, từ các lao tù, từ bưng biền rừng rậm… đồng loạt hiện ra, trở về hớn hở ca khúc khải hoàn. Họ được cấp nhà, phong tước, đãi ngộ cho những năm tháng gian khổ, hi sinh. Đối phương cùng màu da, tiếng nói đã từng muốn tận diệt họ bằng đủ trò bạo lực, dã man, giờ đang “trả giá” trong các trại cải tạo. Với một số quan, tướng, binh sĩ của Thạch Đế, điều đó vẫn chưa làm họ hài lòng, họ muốn kẻ thù phải chết hoặc chịu đau khổ như ngày xưa họ phải chịu! Còn những gia đình có người tham gia chế độ cũ, đang từ vương giả cao sang, phút chốc rơi vào bi kịch. Chồng chạy ra nước ngoài hoặc vào trại cải tạo, vợ ra đứng đường làm gái bán dâm hoặc bán chợ trời. Mệnh phụ phu nhân trở thành bà buôn chuyến dạn dày sương gió, sẵn sàng cặp bồ từ ông quan thuế vụ đến gã phu xe để có chén cơm cho bầy con nheo nhóc! Họ có thể bị tịch thu nhà cửa, bị đẩy đi vùng kinh tế mới rừng thiêng nước độc. Thế hệ trẻ hơn cũng không sung sướng gì, vẫn được đi học để hàng ngày được nghe những lời chỉ trích tư cách “lính đánh thuê” của cha anh mình. Dù có xuất sắc, chúng cũng sẽ không bao giờ được học thành tài trước thời kỳ đất nước đổi mới. Đồng tiền hợp nhất ngay sau ngày thống nhất đất nước cũng được tính theo cách đồng tiền thắng trận. Người từ tả ngạn ùn ùn mang loại tiền có giá trị gấp năm trăm lần đồng tiền thua trận vào các đô thị hữu ngạn để mua nhà đất, xe cộ, giường tủ, máy móc, vải vóc, đồ chơi… với giá cực rẻ. Chỉ vài năm sau đó, các tỉnh tả ngạn tràn ngập các loại hàng hoá mà trước đó hữu ngạn phải nhập khẩu từ các quốc gia đối đầu với Thạch Đế. Dân tả ngạn say mê các loại hàng hoá này, tiếng hát của các ca sĩ thù địch ngày nào giờ ra rả vang vọng khắp đường quê, ngõ phố tả ngạn qua các máy nghe nhạc mang từ miền trong ra. Đây là loại âm nhạc quá dân chủ với tình yêu. Nỗi niềm cá nhân nhỏ bé trong ca từ góp phần gây ra không khí u hoài, thất trận của quân đội hữu ngạn. Khán thính giả tả ngạn nay hồ hởi đón nhận nó như một sự bù đắp cho mấy mươi năm gần như chỉ có âm nhạc ca ngợi sức mạnh dành cho tiền tuyến. Quần áo, giày mũ và dụng cụ quân trang của đội quân bại trận, cũng bán chạy như tôm tươi trên thị trường mới mẻ này. Các nhà giàu, các gia đình quyền quý ở hữu ngạn giờ lâm vào sa sút do thời thế là nguồn cung vô tận các loại hàng hóa xa xỉ đó. Mỗi món hàng đưa ra chợ trời là một kỷ niệm phải bán đi trong xót xa, tiếc nuối của chủ cũ. Có những tòa nhà sang trọng bị gỡ đến từng cánh cửa, bóc lên từng viên gạch men, từng cái bồn rửa mặt, bồn vệ sinh để gia chủ đưa ra chợ trời đổi thành gạo, bột mì, sữa đem về nuôi con, nuôi mẹ. Những thứ đó lại trở thành những món quà thời thượng cho những người chiến thắng từ hữu ngạn mang về tả ngạn cho gia đình, người thân, cấp trên của mình.Vì thế, trong lúc trăm vạn gia đình được lên voi đang tận hưởng hạnh phúc, thì cũng có chừng ấy gia đình xuống chó phải tìm đường ra đi. Đi nhiều đến mức các thành phố như rộng ra vì thưa thớt dân. Có lần gặp Thạch Đế, một giáo sư “lưu dung” đã cười mà nghe như khóc: “ Tôi không đi được vì thuộc nhóm trí thức 3N tức nghèo - ngu - nhát. Không tiền, không dũng khí sao vượt biên được!”. Thạch Đế nghe xót xa, bàng hoàng. Ngài lệnh cho các trại cải tạo đang giữ những trí thức vượt biên ngay lập tức phóng thích họ. Sau đó ngài cho họ hưởng ưu tiên trong nhiều vấn đề để giữ chất xám lại cho đất nước. Từ đó sinh ra những chuyện kì lạ, như các thầy thuốc từng xông pha trận mạc, công lao đầy mình với ngài chỉ được làm trong các y viện công với đồng lương chết đói. Các đồng nghiệp “lưu dung” của họ lại được mở phòng khám riêng tha hồ hốt bạc. Kiếm được nhiều tiền, họ lại mua vàng làm lộ phí vượt biên, lại bị bắt, lại được thả về “cày” kiếm tiền “đi” nữa! Số còn lại không có tì vết vượt biên, được Thạch Đế cất nhắc nên sau này trở thành những trọng thần của triều đình, học hàm học vị đầy người. Trong lúc các thầy thuốc “đi” thoát, cặp được vào “bến bờ tự do” lại bắt đầu từ con số không, khổ nhục quá chừng trên đất lạ quê người! Cũng có người mấy mươi năm sau được Thạch Đế mời hồi hương trong tư cách những chuyên gia cự phách! Vượt biên là những chuyến đi mù mịt, vô vọng trên biển cả mênh mông đầy rẫy bão tố và hải tặc. Họ ra đi trên những chiến tàu bé nhỏ, ọp ẹp. Nhiều người vượt biên như thế đã làm mồi cho cá; nhiều người phải chịu đựng điều còn tệ hại hơn cả cái chết khi bị hải tặc hãm hiếp hoặc chứng kiến cảnh chúng cưỡng đoạt vợ con mà không thể làm gì được! Có những người bị trôi dạt vào các hòn đảo, sống vật vờ trong các trại tạm cư nhếch nhác từ lúc còn con gái cho đến khi thành bà ngoại, bà nội. Có những đảo quốc đón tiếp bằng lòng nhân, nhưng cũng không ít nơi dân bản xứ tràn ra bờ biển để cướp bóc sạch, rồi đẩy những người vượt biên bất hạnh ra biển với chiếc thuyền tơi tả, đã bị đục thủng đáy!
(còn tiếp)
Nguồn: Thạch đế. Tiểu thuyết của Lại Văn Long. NXB Văn học, 2009.
|