LÊN SÀI GÒN
Tháng Tám năm 1936, tôi lên Sài Gòn.
Sau ngày bà ngoại chết, tôi còn mấy ngày học cuối, lãnh được 8 cắc bạc, đủ tiền mua vé xe đò đi từ Cần Thơ lên Sài Gòn tìm mẹ. Như đã hẹn, tôi đi theo người cậu bà con ở xóm lên Trường Kỹ nghệ thực hành để nhập học. Tôi hết tiền, cậu Tư Huỳnh (Huỳnh Văn Tư) dọc đường mua một gói đậu phộng rang, cậu cho mấy hột cùng ăn với cậu. Trưa, lên đến Sài Gòn, cậu vào trường, còn tôi chưa gặp mẹ. Đêm đó, tôi bơ vơ ở chợ Sài Gòn, bụng đói, không nhà ngủ, ngồi ngoài bùng binh ngang chợ Sài Gòn bây giờ. Hôm sau, đến 10 giờ, mẹ tôi từ hãng đường Hiệp Hòa xuống đón tôi. Bấy giờ, hai bên hông chợ Sài Gòn là hai bến xe, một bên đi miền Tây, bên kia đi miền Đông, cho nên mẹ tôi đi từ Hiệp Hòa xuống chợ Sài Gòn ở bến xe miền Đông. Nhờ thế, lần đầu tiên tôi lên Sài Gòn mà không sợ đi lạc, cứ ngồi chờ ở bến xe miền Đông thì gặp được mẹ. Từ đó tôi theo mẹ lên bến xe miền Đông, trở về Hãng đường Hiệp Hòa, Rạch Gốc, Đức Hòa. Tôi nghỉ ngơi một tháng. Mẹ tôi nhờ thầy Ba Thơm (thầy ghi công) đưa tôi vào xin chủ Tây Dubois làm chân chạy giấy (planton) mỗi ngày 10 xu. Tôi làm được 3 ngày thì người thầy ký khác đưa con vào làm, thải tôi ra với lý do là chữ viết xấu!
Ít tháng sau, hãng đường tuyển người vào học apprenti (học nghề). Tôi trực tiếp xin ông chủ hãng đường Dubois, ông trả lời hãng đã tuyển đủ người không cần nữa.
Từ đó tôi ở nhà nấu cơm cho mẹ và chị Hai đi gói đường kẹo, mỗi ngày làm khoán chỉ nhận mỗi người 20 xu hoặc khá hơn là 25 xu. Nhằm thời buổi ế ẩm, nhà máy ít việc, mẹ làm bánh lọt, nấu chè đậu trắng nước dừa, nấu xôi, bán ở ngoài cửa hãng. Thợ thuyền hay ăn, tôi cũng phụ giúp chị, mẹ tôi nấu đậu phộng, chuối nấu để bán vào buổi sáng, buổi trưa cho thợ. Bán hết hàng thì tôi gánh nước mướn cho thợ thuyền. Sông Vàm Cỏ Đông rộng khoảng 100 mét. Mùa khô thì mặn, còn mùa mưa thì ngọt. Mùa mưa, các gia đình hứng nước mưa xài. Những tháng mùa khô, từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau, nước lờ lợ, có lúc mặn. Buổi trưa, nước ròng (xuống) thì dòng nước ngọt từ núi Bà Đen Tây Ninh chảy về giữa lòng sông. Tôi dùng cái thùng thiếc đựng dầu lửa (còn gọi thùng dầu con sò) dung tích 20 lít, bơi ra giữa dòng, múc đầy thùng nước ngọt rồi bơi vào bờ. Đủ 2 thùng, tôi gánh vào nhà thợ thuyền. Mỗi xu một đôi. Tối đến, tôi mở lớp dạy học chữ, lớp 1, 2 cho con em thợ thuyền, không lấy tiền.
Cậu Tư Huỳnh bảo tôi muốn thi đậu vào trường Kỹ nghệ thì phải giỏi về toán algebre. Mỗi năm trường cho thi hai môn toán và làm văn Pháp. Toán ra hai bài, văn một bài. Bài toán thì hiệu trưởng nhà trường tên Etienblet chấm. Nếu trò nào làm toán giải bằng algebre thì ông cho cao điểm. Trong hai môn đó, toán được tính hệ số 2 còn văn chấm hệ số 1. Vì vậy, tôi nhờ mẹ mượn của ông thầy ghi công (thầy Ba Thơm) 1 quyển sách toán học ở cấp Brevet élémentaire (tương đương tú tài một là bằng lớp 11 bây giờ). Tôi chép hết cuốn sách đó vào mấy tập viết, rồi đem trả lại thầy Thơm.
Hằng ngày, có giờ rảnh tôi tự học, giải được các bài toán đố bằng algebre ở phương trình bậc 1, lần hồi giải được các bài toán phương trình bậc 2. Trong sách đó họ cho cả trăm bài tập. Tôi chỉ coi đáp số đúng là được, còn các bài khó không làm được, tôi để lại đó chớ không biết hỏi ai.
Nhờ vậy mà đến ngày đi thi vào trường Kỹ nghệ tại Sài Gòn, tôi làm toán giải bằng đại số học (algebre) được điểm cao, trúng tuyển 50/90. Ở đây, những người thi cùng tôi mà đậu phần nhiều là những học trò đã học năm thứ nhất, thứ nhì, thứ ba, thứ tư hoặc thi rớt thành chung (Diplome) nên qua đây thi vào học nghề. Sự tranh đua này là một khó khăn lớn đối với tôi. Việc thi lần này quyết định cuộc đời tôi. Trong cái rủi có cái may. Tôi có ông Bụt, quý nhân sống phù hộ.
Khi tôi thi chữ, chấm đậu xong thì qua khám sức khỏe. Tôi vì nghèo đói, tuổi nhỏ lao động nhiều, gần một năm ở hãng đường Hiệp Hòa tôi bị chói (ngã) nước, ăn nước lạ nên bị sốt rét thường xuyên, người ốm yếu; nhưng đến khi khám sức khỏe thì họ đo nhầm chiều cao. Tôi cao thực là 1m45 nhưng họ ghi nhầm là 1m55, pignet (pinhê) không đạt. Tôi buồn quá ra đứng ngoài cổng trường. Trong lúc thi thì cổng trường đóng. Trường Kỹ nghệ lúc đó ở số 25 đường Chasseloup Laubat, bây giờ là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Tổng Lãnh sự quán Pháp đang trú đóng. Tôi nhìn thấy anh Khâm, bạn học của tôi ở Cần Thơ lên, cùng thi với tôi, bị rớt chưa về Cần Thơ, mà chờ những người bạn khác thi xong cùng về. Tôi viết một cái thơ (thư) gởi ông Phan Khắc Sửu. Ở quê hay gọi ông là bác vật (Sinh học) Sửu. Ông học ngành nông nghiệp ở Pháp, là con của ông Cai tổng làng tôi.Nhà ngoại tôi ở rạch Trà Kiết, nhà ông ở phía sau của đất ông ngoại tôi, rạch Trà Cuồn. Ông là người sáng lập đội bóng đá nữ Cái Vồn. Tranh cử tổng thống, ông làm tổng thống miền Nam Việt Nam mấy tháng. Ông là người dẫn dắt, chỉ đường tôi và anh Gương trốn sang Trung Quốc, để đi nước ngoài làm cách mạng. Chuyến ấy không thành.
Ông Sửu đang làm cho Pháp, Chambre d’agriculture (Sở canh nông) tại ngã tư đường Chasseloup Laubat – Messige (nay là Nguyễn Thị Minh Khai – Hai Bà Trưng). Tôi nhờ anh Khâm Cần Thơ đem thư đến ông. Tuy người cùng làng, tôi và cậu Sửu chưa biết nhau bao giờ. Thế mà trong thơ tôi dám viết cho ông như thế này:
Kính gởi cậu Năm!
Con là Đức ở rạch Trà Kiết - Mỹ Thuận, đang thi vào trường Kỹ nghệ Sài Gòn. Con đã đậu thi viết, nhưng khám sức khỏe, con bị loại vì sức khỏe kém. Cậu giúp con nói với ông hiệu trưởng cho con được vào học. Con và mẹ con vô cùng cám ơn cậu Năm!
Ký tên: Cháu Đức
Cậu Sửu là ông Bụt của đời tôi! Nhận được thơ, chắc là cậu điện thoại ngay cho ông hiệu trưởng, khoảng 15 phút sau, tôi thấy ông hiệu trưởng trường Kỹ nghệ ra cổng đón ông Sửu. Một lúc sau ông Sửu ra về. Liền đó ông hiệu trưởng cho gọi tôi, dẫn tôi xuống phòng khám sức khỏe. Tôi được khám lại. Lúc đo chiều cao, đối chiếu lại, họ ghi nhầm: cao hơn 0,m10 (1,45 – 1,55). Từ đó tính pignet, dưới 30. Tôi đậu! Trong lúc bế tắc của cuộc đời, ông Sửu là một ông Bụt cứu tôi thoát nạn.
Tôi bản tánh nhút nhát. Thấy con gái đẹp, thích nhưng nhát như thỏ đế, không dám chuyện trò. Hồi học ở trường làng thì còn nhỏ, tôi hay chơi với các bạn học nghèo, phần nhiều là con trai. Con gái nhà giàu mới được đi học. Tôi tự ty, không chơi với con nhà giàu. Nhưng tôi học giỏi nên các bạn thích chơi và thương tôi, tôi hay chỉ bài, phần nhiều là cho copie. Có lần thầy giáo cho toán 10 bài làm bài tập. Bạn Lục không làm được, hỏi tôi, tôi cho mượn tập vở. Lục chép lại đúng y bài của tôi, thầy Út biết là bạn Lục học kém không làm được 10 bài toán đã cho, thầy kêu tôi lên hỏi. Tôi thật thà nhận có cho bạn Lục mượn tập để xem và bạn Lục cũng nhận. Vì vậy, thầy Út phạt tôi tội cho mượn tập vở, đánh phạt tôi bằng cây thước vuông kẻ là 10 cái, vào bàn tay chúm lại, hai bên là 20 thước. Nếu giựt hụt thì thầy bỏ, đánh lại nguyên ban đầu. Tôi đau quá, đầu ngón tay rướm máu nhưng tôi đưa tay chịu đánh đủ 20 cái cho 2 tay. Những năm học trường Kỹ nghệ Sài Gòn, tôi cũng không có bạn gái. Trường này toàn là học trò con trai, các bạn cùng học với tôi thường có bạn gái học ở các trường khác như trường áo tím (colegè des jeunes filles) hoặc trường nữ hộ sinh (école des sagesfemmes). Mới vào trường Kỹ nghệ, sức học tôi kém hơn các bạn, nhưng nhờ tôi chăm chỉ siêng năng mà ngày càng khá lên. Các bạn lớn tuổi hơn. Tôi vào trường Kỹ nghệ lúc 15 tuổi, còn các bạn thì 17 tuổi có bạn hơn 20 tuổi. Tối thứ bảy, ngày chủ nhật họ hay đi chơi với bạn gái hoặc về nhà. Tôi chúi đầu vào bài vở, lần lần tôi học được số điểm giỏi hơn họ. Giữa năm thứ 2, tôi được xếp trong tốp 5 bạn đứng đầu lớp. Nhiều bạn bị đuổi học, năm thứ 3 chỉ còn 25 người.
Do yêu cầu của ngành hỏa xa Pháp, Hiệu trưởng chọn 5 người tuổi từ 20 trở lên, học khá và giỏi thì ông gởi cho đi làm tài xế xe lửa. Tôi mới 17 nên không được chọn cho đi làm sớm. Cuối năm 1939, giám đốc hãng đường Hiệp Hòa xin một người học giỏi ở trường. Hiệu trưởng thương tôi, tự lái xe Ford de lux đưa tôi lên hãng đường và gởi gắm tôi với ông chủ hãng. Tôi làm thợ rèn được hơn một tháng thì ông chủ kêu tôi lên:
- Nếu anh bằng lòng thì tôi cho làm dessinateur (vẽ kỹ thuật).
Tôi từ chối. Chủ hãng không nói gì. Tháng sau ông gọi tôi lên, đề bạt làm surveillant cuiseur, tức là làm chef, cai quản chỉ huy nhà máy nấu đường của hãng. Đây là khâu chủ yếu của nhà máy. Tôi vẫn không chịu, chỉ xin ở lại làm thợ rèn. Lúc đó tôi chưa hiểu ông chủ hãng đường xin trường cử cho học trò giỏi để đào tạo làm chef nhà máy. Hai lần đề bạt, tôi đều không bằng lòng, vì vậy ông mắng tôi:
- Đồ ngu! Sao mầy ngu vậy?
Tôi cự:
- Ông không được quyền mắng tôi ngu, nếu ông không cần, tôi xin thôi việc!
Chủ hãng nói:
- Tao không cho mầy thôi việc, vì thầy hiệu trưởng của trường gởi mầy cho tao, chừng nào ổng gọi mầy về thì tao mới cho.
Cãi nhau một hồi, hôm sau tôi bỏ việc, trở về trường. Tôi liền bị ông hiệu trưởng lấy roi mây rượt đánh. Tôi khôn, chạy xuống xưởng học nghề, mà ông ngại đuổi theo.
Những năm học ở Sài Gòn, số đông là bạn học giỏi trước tôi nhiều lớp, nên tôi không có bạn giàu, mà chỉ có bạn nghèo cùng lớp và những lớp sau tôi. Như anh Ngô Văn Do, học sau tôi một năm anh chơi đờn kìm rất giỏi, nhà nghèo. Tôi với anh kết bạn và anh dạy tôi học đờn kìm. Sau này, đi kháng chiến chống Pháp, anh làm ban tuyên truyền của huyện Cao Lãnh. Anh Nguyễn Kim Bưu, cũng học sau tôi một năm, nhà nghèo, mẹ chết còn cha, tôi giúp đỡ anh học tập và kết bạn với nhau. Lúc tôi bị bắt đi lính, sửa chữa máy bay Biên Hòa, thì anh Bưu hăm dọa bọn Tây lai học ở trường:
- Tụi bây hà hiếp bọn tao là tao cắt đầu!
Vì vậy, năm thứ hai, anh bị đuổi học. Sau anh làm thợ nguội ở hãng Ba Son. Kháng chiến chống Pháp, anh công tác công đoàn ở Quân khu 5. Tôi tập kết ra Bắc năm 1954, lại gặp anh công tác ở Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam. Sau này anh Bưu làm Bí thư nhà máy cơ khí Trung quy mô Hà Nội. Anh hay đau, thường đến nhà tôi, má nấu cơm cho anh ăn để có sức khỏe làm việc. Năm 1962, anh đi B công tác Công đoàn của miền Nam. Năm 1975, tiếp quản Sài Gòn; sau khi anh đi dưỡng bệnh tại Đức trở về năm 1977, anh làm hiệu trưởng trường Công đoàn của Liên hiệp Công đoàn TP. Hồ Chí Minh. Lúc đó tôi làm phó thư ký Liên hiệp Công đoàn thành phố. Mấy năm sau anh đau bệnh, chết. Chúng tôi rất thương. Ở Bắc, má tôi thay mặt gia đình đi cưới vợ cho anh. Hiện nay chị Tư Bưu cũng đã nghỉ hưu, coi như là dâu của má tôi. Ngày giỗ, ngày Tết, chị Tư Bưu đều đến dự, cúng lễ cho má tôi.
Tôi nghiệm ra, mình làm việc nhân đức: dạy vỡ lòng cho con em thợ, không lấy tiền, thì Trời thương! Năm 1937, tôi xuống Sài Gòn thi, bà con thợ thuyền thương tôi, góp nhóp cho 5 đồng bạc lận lưng. Tôi đã thi đậu hạng thứ 50 trong số 90 học sinh được trúng tuyển. Thi xong, không có tiền để về Hiệp Hòa, anh Năm Dương (Bùi Văn Dương) cho 5 cắc để mua vé xe về báo cho má biết và sắm đồ vào học. Tôi nhập trường với một cái rương gỗ thông dùng đựng chén của chị Năm Hạo công nhân gói đường kẹo, bạn thân của má tôi, chị bán chịu 5 đồng. Má tôi đi vay, may cho một bộ quần áo bà ba trắng, một bộ cũ đã vá và một cái quần đùi.
Ngay từ sau 3 tháng đầu học tập, tôi không có người quen, nên khi thực tập nghề tôi tự làm lấy, còn chữ thì cố gắng học cả ngày lẫn đêm để khỏi phải bị loại.
Sau 3 tháng đầu của năm học, tôi lên hạng 25, trong lúc đó nhà trường loại ra 30 học sinh và thi xếp ngành nghề, tôi được xếp vào học nghề thợ rèn, cái nghề mà ai cũng chê. Tôi khóc một ngày. Nhưng không học, về nhà sẽ chết đói. Tôi tự an ủi: phải học, học giỏi để nuôi lấy thân và còn báo hiếu với cha mẹ, ông bà, gia đình và dòng họ.
Năm 1938, trong lúc tôi đang thi lên năm thứ 2 thì ông ngoại tôi chết. Tôi thấy trống trải, ngoài mẹ, tôi hết người thân, hết nơi nương tựa. Từ đó, tôi càng cố gắng học hơn. Không tiền ăn quà bánh, thấy bạn đi chơi, ăn bánh, ăn hủ tiếu, xôi chè mà thèm, nhưng tôi kìm lòng, lao vào học, làm bạn với trái banh cùng một số bạn học nghèo như tôi.
Ngày chủ nhật, sau khi học thuộc bài, tôi và vài anh em nữa ra đá banh ở hàng xoài trước cổng trại lính lê dương (11eRic) đường Chasseloup Laubat, ngang sân bóng đá Hoa Lư; bây giờ là đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, đường Xô Viết- Nghệ Tĩnh. Nhờ vậy mà tôi luôn khỏe mạnh, học tập ngày càng thông minh. Đến hết năm thứ hai (1938-1939), tôi trở thành một trong những học trò giỏi của lớp và được Giám đốc trường người Pháp tên Etienbled thương yêu. Tôi thường được ông Giám đốc giới thiệu với các ông chủ hãng biết người học trò giỏi.
Hình 1
Những năm học trường Kỹ nghệ, tôi không có tiền ăn bánh, mua sách, viết. Cậu Huỳnh Văn Tư thường cho mỗi tháng 1 đồng. Anh Bùi Văn Dương học chung lớp, anh thương tôi nghèo vẫn cho tiền. Kháng chiến chống Pháp, Bùi Văn Dương là cán bộ kỹ thuật quân giới miền Đông. Năm 1952, anh xuống công tác quân giới miền Tây Nam Bộ. Anh có đến thăm má tôi ở công an xưởng 24, Phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Má tôi cũng rất thương ảnh. Ra Bắc, anh làm Vụ phó vụ kế hoạch Bộ Giao thông vận tải.
Thuở ấy, tôi còn quá trẻ, suy nghĩ non nớt, gia cảnh ngang trái, bi kịch, thân phận hẩm hiu. Tôi không có người lớn động viên, chỉ dạy. Nhiều khi, tôi hoang mang, buồn chán cho số phận mình.
Tháng 8 năm1937, tôi đậu vào trường Kỹ nghệ thì ở hãng đường hết việc làm. Má và chị Hai tôi nấu chè xôi bán cũng ế ẩm quá nên nấu cơm tháng cho thợ. Sau mỗi tháng lãnh lương, thợ trả tiền. Tháng 8 cũng là mùa nước, mưa nhiều, nền nhà lá ngập nước, vì vậy mà hai lòng bàn chân của má tôi bị nước ăn lở lòi thịt. Má tôi không đi được, chỉ ngồi lết, không làm gì được, chỉ còn chị Hai tôi.
Vốn không có, phải vay nợ. Nấu vài ba người thợ ăn, cuối tháng họ lại không trả tiền, vì vậy má tôi rất khổ. Tết năm đó, tôi về Hiệp Hòa thăm má, thấy tình cảnh không có cách nào trả nợ và cần tiền chữa hai bàn chân má, nếu không thì cùi, lết cả đời.
Tôi liền dẫn má và chị tôi về Sài Gòn, rồi đưa về nhà ông ngoại để tá túc trước ngày nhập học, sau những ngày nghỉ Tết Nguyên đán.
Đến lúc tôi mới vô hãng đường làm thì chủ nợ họ đòi nợ. Tôi hứa làm có tiền trả dần. Tôi buồn lo đêm ngày cho mẹ ở quê. Nhớ lại hồi ba năm trước, tôi làm planton (chạy giấy) thì ông chủ đuổi, cho thay người khác. Lúc tôi xin vào học lớp đào tạo thợ của hãng (apprentis) thì ông chủ không cho. Bây giờ tôi có nghề nghiệp, thì ông ân cần xài tôi, tôi thấy chán ngán sự đời…
(còn tiếp)
Nguồn: Cuộc đời người thợ. Tự truyện của Anh hùng Lao động Lê Minh Đức. NXB Văn học sắp phát hành.
|