Năm 1936, trước khi tôi lên ở với má tôi ở hãng đường thì có lớp thợ thuyền làm reo đòi tăng lương, trong đó có dượng Sáu tôi là Nguyễn Văn Quế. Sau này dượng Sáu Quế cùng tôi đi làm súng chống Pháp. Những người thợ đó không được tăng lương mà bị đuổi việc, bị truy nã. Tôi không rõ ở nhà máy lúc đó có chi bộ Đảng Cộng sản hay không.
Bản tánh tôi tự ty, cho mình là kém. Tại sao tôi không nhận lời chủ Hãng đường để làm cai, làm xếp? Chủ hãng chửi tôi ngu. Xung quanh, có người bảo tôi dở hơi, điên. Tôi không ham làm quan, vì không thích sai khiến người khác, nhất là ăn lương của chủ, làm tay sai cho họ hà hiếp thợ thuyền. Tư tưởng không chấp nhận người giàu ăn hiếp người nghèo trong tôi trước sau cũng hướng tôi tìm đến những người Cộng sản.
Tôi phải đi làm mướn có tiền mà sống, chứ không chịu làm tay sai cho những người chủ Pháp. Tôi chỉ có một thân, một mình không lo gì thất nghiệp, không lo gì đói. Khi làm ở hãng rượu Mazet, những người gác cổng, ghi công ở bàn giấy, họ đình công, tôi đồng tình hưởng ứng. Cho nên, khi chủ hãng kêu tôi làm việc ghi công ở bàn giấy là tôi từ chối liền. Chủ hãng mắng tôi không trung thành, tôi lập tức đội nón ra về.
Tôi học nghề thợ rèn là việc bất đắc dĩ phải học để đi làm công kiếm sống. Lúc phải học nghề này, tôi chán nản phát khóc! Dần dà tôi hiểu, nghề rèn là nghề tổ của những nghề nguội, tiện, phay, bào. Rèn là khâu đầu rèn ra những chi tiết của máy móc theo yêu cầu, rèn ra các loại dụng cụ như lưỡi dao tiện, lưỡi dao bào, các loại dụng cụ cầm tay như búa, đục, cây gạch (point à tracer) cây đóng dấu (pointeau) cây compas đo trong, compas đo ngoài. Người thợ lò rèn nhà quê chỉ rèn được dao, búa, phảng, chứ không rèn được chi tiết của máy. Trong kháng chiến tôi chỉ có hai bàn tay trắng, nhờ một cái lò rèn của tư nhân, tôi rèn được tất cả đồ nghề cho các loại thợ, làm được các chi tiết của một cây súng để sau đó là làm nguội, bào, tiện… Nhờ vậy, mình tôi lập ra một xưởng thô sơ ban đầu rất dễ dàng.
Nhật đảo chính Pháp, tôi nghỉ làm hãng xáng, trong tay chỉ có một cây thước thụt (pied à coulisse) và một cây thước thau 10 tấc xếp lại. Tham gia cách mạng, tôi chỉ có tấm lòng, nghề nghiệp và hai cây thước đó! Nhờ đó mà tôi đo vẽ các chi tiết của súng rất chính xác, các chi tiết của súng làm đúng bản vẽ lắp vào là bắn được.
Tôi rất yêu quý má tôi lắm. Má từng kể rằng, lúc má chuẩn bị sanh tôi, nếu má đẻ con gái, má sẽ cho người ta rồi cạo đầu đi tu! Nếu đẻ con trai thì má quyết lòng nuôi con cho ăn học, có tiền thì má cho con ăn học để làm bác sĩ. Nếu không, cũng phải cho con học nghề thợ, như ông ngoại, để con có nghề nghiệp nuôi thân. Đang mang bầu ba tháng thì chồng bỏ, người mẹ yếu ớt bất hạnh của tôi đã quyết lòng cho con ăn học, để có nghề nghiệp làm ra tiền. Má tôi tuyệt vời như thế, cho nên từ nhỏ đến lớn, đến lúc mẹ tôi qua đời, tôi không làm gì cho mẹ buồn. Tôi luôn luôn học giỏi để làm cho mẹ vui lòng, báo hiếu mẹ.
Năm 13 tuổi, tôi ở Cái Khế, gần nhà anh Nguyễn Công Trung. Lúc đó anh học năm thứ 2 trường Collège Cần Thơ. Trong một lần đi học, anh gặp bọn cai tù dẫn tù đi làm và đánh đập hà hiếp người tù. Anh giựt cây roi đánh lại người cai. Anh bị đuổi học, về nhà viết báo phê phán chỉ trích sự cai trị của thực dân Pháp. Vì sợ bị lộ, nên có nhiều bài anh nhờ tôi chép lại để anh đi đăng báo, làm cho bọn lính kín không theo dõi anh được. Qua những bài anh viết, tôi nhận ra và khâm phục anh là người đấu tranh để bảo vệ con người. Anh có ý chí đấu tranh cho nước nhà độc lập. Tôi rất có cảm tình với anh lúc bấy giờ. Anh là người dạy tôi học để thi đậu cấp bằng sơ học (certificat de primaire). Sau khi tôi lên Sài Gòn học, thì ở Cần Thơ anh bị bọn lính kín Tây truy bắt, anh Trung chạy về ở nhờ nhà ông ngoại tôi. Ngoại tôi nuôi anh Trung, che giấu bọn lính tìm kiếm. Sau này anh bị bắt và đày đi Côn Đảo. Năm 1945 anh từ Côn Đảo về, anh ở trong quân đội miền Đông, là Ủy viên Trung ương Đảng. Năm 1948, anh chỉ huy chống càn, hy sinh anh dũng trong trận Cần Giuộc. Anh Trung vừa là ông Bụt, cũng là tấm gương của đời tôi. Thời gian sau đó, tôi có cảm tình với đảng Cộng sản, ghét chủ Tây hà hiếp thợ thuyền, mong muốn nước nhà độc lập. Nhưng tôi vì nặng hiếu thảo với mẹ, không nỡ bỏ mẹ, nên chưa tìm đến với những người Cộng sản khi học ở trường.
Ba năm đi lính cho Pháp, tôi cũng chưa có bạn gái. Người tôi nhỏ mà đồ lính rộng phùng phình, ngó rất nhếch nhác. Con gái chê lính, họ thích làm quen với thầy cai, thầy đội.
Trước khi bị đi lính, cậu Huỳnh Văn Tư có giới thiệu tôi với cô út Thảo, em gái anh Sáu Trung. Cậu Tư nói là muốn học toán thì học chú Đức chứ tôi (Tư Huỳnh) toán yếu hơn chú Đức. Út Thảo gởi thơ cho tôi nhờ chỉ giùm toán, liên lạc học bằng thư. Có lần cô bị chị đánh đòn, cô gửi thư than thở với tôi, cô có ý muốn đi khỏi nhà. Tôi ở trong lính nên không theo được. Tôi có gởi thơ an ủi Út Thảo, động viên cô cố gắng chịu đựng và ráng lo việc học. Nhà cô nghèo, tôi thì đi lính, mỗi tháng lương lính có 8đ4, gởi về cho mẹ 5đ, tôi còn 3đ4 không đủ ăn sáng, cắt tóc và tiêu xài lặt vặt. Có lần tôi ngỏ lời thương cô, chờ cô trả lời. Việc này, mẹ cô Út, các anh chị như chị ba, anh năm, anh bảy (cô út Thảo là người thứ tám và mồ côi cha) đều biết. Nhưng từ đó cô bặt tin, không gởi thơ cho tôi nữa. Tôi gởi cho cô nhiều thơ nhưng cô không trả lời!
Mãn hạn lính, tôi được giải ngũ. Khi về quê Mỹ Thuận, tôi có đến nhà cô Út tại Cái Khế - Cần Thơ. Má cô gọi cô ra tiếp, tôi lại trực tiếp hỏi ý kiến. Cô vẫn không trả lời, nhiều lần… Sau cùng, tôi nói từ nay không đeo đuổi theo cô nữa. Mỗi người đều đã lớn, phải chọn và lập gia đình. Tôi buồn bã ra về. Vốn là kẻ tự ty, gặp cuộc tình đơn phương không có lời đáp, tôi vô cùng thất vọng! Tôi kể lại với má. Má an ủi tôi, má nói:
- Con cưới cô út Thảo, thì phải tốn tiền cỡ 500 đồng. Nhà mình nghèo, má không lo nổi. Âu cũng là duyên số con ạ. Đó cũng là cái may cho c on, cho má.
Tôi tôi đem ra sân một đống thơ, đốt hết, và cố quên đi…
Rồi má tôi hỏi cho tôi người con gái mà má tôi đã chọn. Đó là người vợ tôi bây giờ.
Mãi đến năm 1977, tôi gặp lại cô Út. Thảo là luật sư thời Mỹ ngụy. Chồng cô là anh Huê, kỹ sư điện tử, học ở Pháp về, giỏi về truyền hình. Anh là chuyên viên về làm việc ở miền Bắc, sau về Nam, anh Huê chết năm 1984.
Anh Năm Chi mua cho tôi cây đờn guitar 35 đồng. Số tiền đó quá lớn! Anh Năm Chi học thợ tiện, vào trường trước tôi hai năm. Khi bị bắt đi lính thợ (aviation) Biên Hòa, anh vào trước tôi 6 tháng. Cùng là học trò trường Kỹ nghệ, nhưng nhà anh giàu có còn tôi quá nghèo khổ. Tôi bị người lính cũ ăn hiếp sai khiến tôi và còn đánh tôi. Anh năm Chi can thiệp, đánh trả lại người lính kia. Anh Năm Gượng cùng học một lớp với Năm Chi. Hai anh thấy tôi còn trẻ tuổi, 18 tuổi, thật thà, hiền từ nên rất thương. Năm Gượng giúp đỡ tôi và giác ngộ tôi đi theo cách mạng. Còn Năm Chi, sáu tháng nữa hết hạn lính, anh mua cho tôi cây đàn guitar. Anh dạy tôi học đờn sáu câu vọng cổ theo giây Sài Gòn ngày xưa. Anh đờn tôi chép theo số phím, số giây. Anh ra lính, tôi ở lại tự học tiếp. Ban đầu tôi đờn được nhưng không hay. Khi hết hạn lính, tôi thấy họ đàn vọng cổ theo giây Rạch Giá, trầm buồn, tôi rất thích, nên tôi tự mò mẫm học giây Rạch Giá. Khi về nghỉ với mẹ ở quê 2 tháng, vừa thất tình, vừa buồn đời, tôi đờn rất buồn, người đi xuồng ghe dưới sông đêm tối nghe tiếng đờn của tôi họ đậu ghe xuồng lại bến sông nhà má tôi, nghe đờn.
Hai tháng qua đi, tôi lên Sài Gòn làm ở hãng rượu Maret rồi gặp cuộc đình công. Tôi thôi việc và xin vào làm hãng xáng ở Mỹ Tho. Nơi đó, anh Năm Chi đang làm cai thợ đúc. Tôi theo anh để học thêm đờn và nghĩ rằng ở tỉnh, cuộc sống giản dị không đua đòi ăn chơi xa hoa, dễ tu tỉnh làm ăn. Tôi để dành tiền cưới vợ.
Tại hãng xáng này tôi kết bạn với anh Chín Có, thợ nguội, biết đờn kìm, anh Tám Thân vẽ họa đồ, đờn guitar. Hễ bà con trong xóm chợ dòng nhỏ, gần cầu bắc đi Rạch Miễu cần là chúng tôi kéo đến giúp đờn ca đến nửa đêm mới về. Bà con rất cảm mến, hài lòng. Việc đờn giúp vui, chia sẻ nỗi buồn khiến bà con nơi đó rất thương chúng tôi. Chúng tôi đờn ca giúp họ mà không đòi hỏi gì hết.
Ngày 9-3-1945, Nhật lật đổ Pháp, tôi không làm cho Nhật, nhờ má tôi bơi xuồng rước tôi trở về Mỹ Thuận.
Ở Mỹ Thuận, hai vợ chồng tôi nghèo không kiếm ra tiền nên tôi phải qua Cần Thơ sửa xe hơi. Tháng 6-1945, tôi được gặp ba tôi, cũng là lần gặp sau cùng.
THAM GIA CÁCH MẠNG
Ở Cần Thơ độ vài tháng thì tôi trở về Mỹ Thuận. Cuộc khởi nghĩa cách mạng tháng Tám bùng nổ. Xã tôi, ông Trần Ngọc Quản, người của Hòa Hảo, đứng ra cướp chính quyền trong hệ thống quốc gia tự vệ cuộc. Còn ông đội Lới (đội đời Pháp) thì cướp chính quyền, làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, chỉ huy quân sự. Tôi còn nhỏ tuổi, không có thế lực. Cậu Tư - Huỳnh Văn Tư bắt liên lạc được với đồng chí Bảy, người tù từ Côn Đảo về làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến liên ba xã: Mỹ Thuận, Thành Lợi, Tân Quới. Cậu Tư nhận nhiệm vụ tổ chức Đoàn thanh niên cứu quốc. Tôi được tham gia với cậu Tư Huỳnh tổ chức Đoàn thanh niên cứu quốc xã Mỹ Thuận, gồm 12 đồng chí. Tôi huấn luyện quân sự cho 45 tự vệ chiến đấu quân tại Mỹ Thuận, nơi chùa ông Ngan rạch Tầm Duột.
Pháp chiếm trở lại chợ Cái Vồn, lực lượng kháng chiến do Đội Lới cầm đầu bỏ chạy. Trần Ngọc Quản chạy lên Long Xuyên vào núi, còn Đội Lới dẫn một tiểu đội chạy qua Sa Đéc, sau đó đầu hàng Tây, tiểu đội bị tước vũ khí. Đội Lới từng giết em của cai tổng Liễu ở Cái Vồn, Liễu báo với Tây bắt Lới để trả thù. Nghe đâu, bọn Tây đã xử tử Lới.
Trong số 12 thanh niên cứu quốc, một số được đi cùng với Cậu Tư Huỳnh qua Tỉnh Cần Thơ học chính trị. Pháp chiếm hết Tỉnh Cần Thơ, cậu Tư Huỳnh xuống rừng U Minh, sau đó được phân công về Cần Thơ, trực tiếp về xã Mỹ Thuận, tổ chức lại các đoàn thể cứu quốc để tiến tới lập chính quyền xã. Tôi bị sốt rét liên miên nên không theo cậu Tư Huỳnh cùng các anh thanh niên để qua Cần Thơ học chính trị.
Đầu năm 1946, cậu Tư Huỳnh về đến Mỹ Thuận và tôi tiếp tục hoạt động. Cậu Tư Huỳnh làm Chủ tịch Uỷ ban Việt Minh, tôi làm thư ký, tổ chức các đoàn thể cứu quốc của xã tiến tới lập chính quyền; cử ông Bùi Hà Đông, địa chủ, đại diện phái Cao Đài làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến, còn ông Phan Khắc Bảy (em của ông Phan Khắc Sửu, thường gọi là ông bác vật Sửu) đại diện cho phái Hòa Hảo làm Phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến xã. Ông Bảy cũng là địa chủ và là phó Chủ tịch của Dân xã đảng (Đảng của Hòa Hảo).
Tôi đi hoạt động mà không có gạo nấu cơm. Tôi lấy chiếc xuồng đóng bằng ván cây mù u của ông ngoại tôi để lại, quá cũ, có nơi mục, có nơi bể, tôi vá lại xài đỡ. Tôi nhờ người mua chỉ tơ tằm rối, bị loại sau khi lựa dây tốt để dệt vải, tôi vuốt lại thành sợi và chắp nối để đan thành một cái vợt câu tôm. Tôi học lóm, và đan được một cái vợt miểng có tùng để vớt được tôm như câu cần. Tôi mò ốc đắng hoặc ốc lác, bắt con trùng, rồi đeo từng xâu vào một sợi dây chì quấn cuộn tròn thành một cụm mồi để câu tôm. Từ 5 giờ chiều, xuồng câu tôm tôi sắm đủ dầm bơi, sào cắm, có dộng đựng tôm, có đèn soi, có cần câu, có vợt vớt tôm khi ăn câu, kéo lên gần đến mặt nước mới bắt tôm bỏ vào dộng.
Nhờ đèn soi, mỗi đêm tôi câu đến 3, 4 giờ sáng mới về, được gần 1 kg. Nhiều hôm chỉ được vài trăm gram. Sáng ra, vợ tôi bơi xuồng đem bán tôm càng, lấy tiền đổi gạo ăn hàng ngày. Khi đó cả nhà tôi có bốn miệng ăn: má tôi, chị Hai tôi bị đau bại liệt không đi đứng được và hai vợ chồng tôi.
Ban đêm tôi câu tôm, kết hợp canh gác trong làng. Tôi câu theo các bến ven bờ sông của sông Mỹ Thuận, có lúc vào rạch Niền, hoặc rạch Trà Cuồn. Tôi không biết nghề câu, không biết chọn bến bãi, nơi tôm trú ẩn. Tôi lại nhút nhát sợ ma, sợ thằng chổng chết trôi dưới sông, nên tôi bơi theo xuồng câu của bạn Năm Xinh. Anh rành về câu tôm càng, còn tôi ở thành phố về đâu biết sinh hoạt của con tôm. Xinh chọn bãi tốt đậu, còn tôi không biết chọn bãi, mà tôi đậu cách xa ảnh vài chục thước, vậy mà tôm ăn câu tôi có lúc vớt không kịp.
Hết mùa nước, sang mùa khô năm 1946, vợ chồng tôi đi cắt lúa mướn, cắt một công theo tầm cấy (phát) 12mx12mx10=1.440 mét vuông. Còn theo thước đo điền địa, 1 công là 1.000 m2 thì chủ họ trả 1 giạ lúa (40 lít = 20 kg).
Người làm ruộng giỏi, cắt lúa một mình một công từ 5 giờ sáng chậm nhất đến 10 giờ, xong. Chiều họ nghỉ ngơi. Tôi kém, nên hai vợ chồng cắt từng ấy giờ mới được một công, được trả 1 giạ. Chiều, tôi đi hoạt động cách mạng. Tôi vẫn đi câu tôm, mùa khô đó chúng tôi gặt lúa mướn và được họ trả 30 giạ. Cả nhà đủ ăn.
Từ tháng 6-1946, tôi bắt đầu làm 7 công ruộng, tức 7.000 mét vuồng, = 0,7ha, từ gieo mạ, cấy dâm, dọn ruộng, tháng 9 cấy liền. Đến tháng giêng năm 1947, tôi gặt được gần 70 giạ.
Năm đó nhuận 2 tháng ba âm lịch, nhằm tháng 5-1947, buổi chiều vào khoảng 3 giờ, phái Hòa Hảo ra mặt chống cách mạng. Họ phối hợp với Tây, đuổi bắt tự vệ làng trói lại để giết. Trên sông Mỹ Thuận và trên lộ cặp mép sông, bọn Tây kéo quân càn quét.
Tôi là xã đội trưởng. Em trai vợ tôi là Lê Văn Khách, 14 tuổi, đang chăn trâu, thấy Hòa Hảo rượt bắt tự vệ liền bỏ trâu chạy đến báo cho tôi biết. Những ngày qua, khắp miền Tây, nhiều tự vệ bị Hòa Hảo bắt, giết trôi sông. Chuyện này tôi biết trước nhưng chưa đoán được ngày nào. Tôi liền chạy ra vườn, leo lên cây sắn lớn1. Giặc đến, tôi thoát!
Đêm xuống, tôi vào nhà, cùng với mẹ và vợ đào một hầm giữa nhà lá một gian (3,5m x 8m) giống hệt cái huyệt, sâu 0,5m, đất khô, tôi lót chiếu nằm dưới. Má tôi lấy tấm ván gõ của ông ngoại để lại rộng 1,2m x 2m, trải chiếu nằm phủ với vợ tôi, nhai trầu. Lúc vắng người thì nâng tấm ván lên đưa cơm cho ăn, vừa tránh mortier - đạn súng cối và đạn súng cao xạ (obus)- vừa tránh giặc. Nhiều lần Hòa Hảo cầm chĩa đến nhà hỏi má tôi:
- Ê, bà già, thằng Đức đâu, kêu nó ra, nếu không tao đốt nhà!
Má tôi tỉnh queo, nói:
- Mấy ông ơi, nó đi Sài Gòn làm ăn rồi. Ở nhà, chết đói sao!
Hơn tháng sau, bộ đội anh Phạm Tấn Khương (thuộc Chi đội Ngô Hùng Giỏi) biết tôi chưa bị Hoà Hảo bắt, và cũng không có mặt ở huyện Trà Ôn. Bộ đội Khương kéo binh về làng, cho anh Tuấn chiến sỹ liên lạc, đến nhà kiếm tôi. Má tôi sợ bọn Hòa Hảo đội lốt ta, nên trả lời là thằng Đức không có nhà. Nằm dưới hầm nghe tiếng anh Tuấn, tôi mừng quá kêu:
- Má ơi! Đây là anh Tuấn, bộ đội anh Khương, bộ đội Cụ Hồ!
Từ đó tôi lên đường theo bộ đội anh Khương.
(còn tiếp)
Nguồn: Cuộc đời người thợ. Tự truyện của Anh hùng Lao động Lê Minh Đức. NXB Văn học sắp phát hành.
1 Cây sắn ở Nam Bộ: thân gỗ, tròn, cao như cây xoan ở miền Bắc nhưng xoan có chất độc. Cây sắn cho gỗ làm cột nhà, vỏ cây già, ngâm nước nhuộm vải, nhuộm chài, lưới, màu tím sẫm bầm, trái sắn bằng đầu ngón tay út, khi chín đỏ rồi chuyển tím than, ngậm ăn ra chất ngọt rất ngon. Bây giờ ở Nam Bộ không trồng cây sắn nữa vì không kinh tế.
|