tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và
hội họa
truyện dân gian Việt Nam
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 1220136
Tiểu thuyết
05.03.2010
Lê Minh Đức
Cuộc đời người thợ

Sau một tháng, tôi về huyện Trà Ôn, họp bàn tổ chức tảo thanh bọn Hòa Hảo phản động tại xã Mỹ Thuận, từ Cầu Đúc, Cái Vồn vào tới xã Hòa Tân, Sa Đéc. Trận đánh quá ác liệt. Ta đánh suốt tới chiều. Tại rạch Trà Kiết từ nhà tôi tới trong ngọn rạch, dài độ 1,5 km, ta tiêu diệt gần 120 tên lính Parti’san (lính đầu đỏ đi theo Pháp). Pháp phải chở thây (xác) bằng cộ trâu (cộ làm tre đan có hai gọng tre như xe, nhưng không có bánh, dùng trâu kéo trượt trên đồng ruộng, đem về chợ Cái Vồn). Má và vợ tôi theo tôi đi thoát ly kháng chiến, lập xưởng làm súng.


Chúng tôi lập xưởng bằng hai bàn tay trắng, cơm nước tự túc. Ông Trần Ngọc Quảng làm giám đốc. Nói về ông Trần Ngọc Quảng (Mười Quảng) khi cướp chính quyền trong tay Pháp thì ông làm ở Quốc gia tự vệ cuộc. Pháp trở lại chiếm đóng Cái Vồn, làng Mỹ Thuận, ông chạy lên núi ở Long Xuyên ẩn trốn. Đầu năm 1947, ông trở về làng. Ủy ban Việt Minh họp và nhận định: ông Mười Quảng có thân thế lớn trong làng, nếu để ông theo giặc Pháp thì nhiều người trong làng và phái Hòa Hảo của ông sẽ đi theo. Vì vậy, cử ông Mười Quảng làm Xã đội trưởng, còn tôi được cử làm Ban tiếp tế cho quân đội.


Chúng tôi không có súng. Tôi mượn súng tiểu liên của anh Thành, chỉ huy tự vệ huyện Châu Thành, Sa Đéc. Tôi tháo ra, vẽ liền tại chỗ trong một buổi, trả lại súng cho anh Thành đi chiến đấu.


Tình hình của xã thiếu súng đạn, thiếu gạo tiền. Ông Quảng cùng tôi tổ chức làm súng. Mười Quảng có thế lực trong làng, đi xin sắt thép, các song sắt, khóa, cửa sổ, cửa cái của nhà giàu, lấy thanh đó làm báng súng tiểu liên, xin các ông chủ giàu có ống chân của bốn trụ giường có đường kính bằng thân súng tiểu liên 36 mm, làm thân súng, đem về cho tôi làm tiểu liên. Đầu tiên, xưởng có bảy người: Tư Cầm, cậu tôi biết sửa chữa súng đại bác thời Tây, Mười Quế, dượng Sáu tôi là thợ máy sửa chữa xe hơi, Mười Cứ, người bạn của ông Mười Quảng không biết làm thợ, Năm Năng là tự vệ lấy vào giúp việc chèo ghe bơi xuồng, má và vợ tôi thì xay lúa, giã gạo, nấu cơm, kiếm thức ăn, hái rau, may vá quần áo cho anh em sau này.


Sau một tháng làm súng thành công, dượng Sáu trở về Sài Gòn làm ăn, Mười Huế về quê sinh sống chỉ còn lại ông Mười Quảng, cậu Tư Cầm, Năm Năng, tôi là Ba Đức, má và vợ tôi. Chủ lực làm ra súng là tôi, vì tôi rèn tạo ra những chi tiết của súng, không có máy hàn thì tôi hàn lò, không có máy bào, thì tôi rèn đục, muỗng để đục được rãnh cong… Sau, tôi về làng nhận thêm anh em trai làng là tự vệ không biết nghề thợ, tôi đào tạo một thời gian rồi họ làm được.


Tháng 8 năm 1948, xưởng được giao cho ngành công an tỉnh. Súng tiểu liên cồng kềnh, không phù hợp với công tác bí mật vào thành nên anh Nguyễn Văn Thiệt, Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long giao cho tôi nghiên cứu sản xuất súng lục. Ban công tác thành, Quốc vệ đội công an xung phong vào thành thực hiện các lệnh diệt ác trừ gian rất cần súng lục.


Tôi hăng hái nhận lời. Tôi chọn các loại súng lục để lấy mẫu, tìm loại nào dễ làm nhất: Mauser, Broning, Remington, Rouleau Saintetient. Ba loại trên không làm được vì kỹ thuật cuộn lò xo dẹt trong hộp đã khó, độ dẻo càng không làm được. Chỉ có Rouleau Saintetient của Pháp là dễ làm, nhưng các chi tiết phải có máy phay máy bào. Cây xô đẩy vỏ đạn để ở chỗ phức tạp, nên làm ổ đạn quay, không cần cây đẩy vỏ đạn; lấy ổ đạn ra rồi đẩy vỏ đạn xong lắp đạn mới. Tôi nghĩ: ổ đạn có 6 viên. Vào thành, đoàng một viên là bị lộ rồi. Bắn hết 5 viên, còn một viên để phòng thân, chứ thời gian đâu để lắp đạn mới. Vì vậy, tôi vẽ lại súng Rouleau Saintetient, các chi tiết của súng làm toàn bằng thép lấy ở đường ray xe lửa, thu nhặt ở đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho. Như thế, tôi có một kho thép bằng đường ray xe lửa dùng hết từ núm đường ray đến yếm. Đây là loại thép tôi trui rồi, rất dẻo.


Ban đầu, tự sản xuất mỗi tháng chỉ một cây súng. Sau nhiều tháng đào tạo thợ, sản lượng nâng dần lên. Năm 1948, đạt 15 cây. Năm 1949, mỗi tháng từ 12 đến 15 cây. Đầu năm 1950, trong lúc sửa chữa súng cho tỉnh, thì tôi gặp một cây súng Rouleau hiệu Paris Galand, kiểu rất đơn giản về việc lấy ổ đạn ra sau khi bắn xong. Tôi liền vẽ lại, và tôi làm thử một cây. Thân súng làm theo kiểu Saintetient, còn ổ đạn thì lấy theo kiểu Paris Galand, vì thân súng, bộ máy ổ cò của Saintetient rất chắc chắn, nhíp cò hình chữ V rất tốt, trui dẻo, không xếp và không gãy. Từ đó tôi vẽ từng chi tiết, làm rập của mỗi chi tiết mà anh thợ mới học giũa đúng kiểu là được. Một cây súng Rouleau Paris Galand kiểu tôi vừa nghiên cứu, tôi chia ra nhiều chi tiết. Chi tiết dễ, thợ làm mỗi ngày được nhiều cái, tôi giao thêm những chi tiết khác. Có chi tiết mỗi ngày chỉ làm được một. Riêng thân súng thì phức tạp, không có máy phay nên phải làm dạng lắp ghép và hàn vảy thau. Các chi tiết khó: tiện ổ đạn, một ngày không tiện nổi một ổ đạn thì tôi cho tiện trước, và làm suốt từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối, 2 ca. Về việc tạo phôi chi tiết thì do tôi rèn một tuần lễ, là gia công lắp đủ 30 cây súng. Rèn một tuần rồi qua lắp ráp… Nhờ áp dụng sản xuất theo dây chuyền, chuyên môn hóa của phương pháp Taylor, từ năm 1951 đến tháng 5 năm 1952, trước lúc về Công an xưởng phân liên khu miền Tây Nam Bộ, chúng tôi sản xuất đều đặn mỗi ngày một cây chở về cung cấp cho tỉnh Vĩnh Long. Bấy giờ, mỗi ngày làm ra một cây súng Rouleau Paris Galand thì không ai tin được. Nhiều người nghi ngờ, nhưng đúng như vậy. Mỗi anh thợ làm súng của tôi, anh nào cũng làm ra được cho mình một cây để phòng thân. Tôi chứng minh: Năm 1989, tôi về hưu, chỉ có một etau bàn kẹp, một máy hàn gió đá thay cho lò rèn, còn Rouleau thì tôi mướn tiện theo mẫu của tôi, tôi làm ra 3 cây tiểu liên, 2 cây Rouleau, không khó khăn gì mà chỉ có một mình tôi làm, để đưa vào trưng bày ở Nhà Truyền thống Công an Đồng Tháp, Công an Vĩnh Long và Nhà Bảo tàng Lực lượng Vũ trang Miền đông Nam Bộ.


Lại nói về việc tôi không chịu làm quan thời Pháp thuộc. Nghèo và không cha là một bi kịch của đời tôi. Tôi không còn thiết tha gì cho mình. Nếu còn sống thì lo học nghề giỏi, làm ra tiền để báo hiếu. Cho nên từ học bổng cho đến khi đi lính, rồi làm hãng Xáng, lãnh bao nhiêu lương tôi đều giao cho mẹ. Bản thân giữ một ít để đủ ăn và tiêu xài lặt vặt trong tháng. Nhiều lúc tôi còn muốn đi tu gõ mõ cho khỏi vướng nợ trần. Thời trẻ, tôi khá cực đoan, tôi không chấp nhận bọn quan lại hà hiếp người nghèo. Tôi từ chối làm cai, làm quan là vì thế. Tại sao tôi không nhân cơ hội ấy mà có thể bênh vực, giúp đỡ thợ thuyền! Lúc đó, còn quá trẻ, cực đoan quá, tôi nào hiểu ra. Muốn làm ra nhiều tiền bằng lao động chân chính, mà không muốn làm quan để có nhiều tiền bất chính.


Lần cuối tôi làm nô lệ cho Pháp là ở hãng Xáng. Giám đốc Axenof- chủ hãng hỏi tôi khi thi tay nghề:


- Có mệt không?


Tôi trả lời:


- Bình thường, thưa ông!


Ông nói tiếp:


- Tôi biết tay nghề của anh. Tôi trả anh bằng người thợ đã làm 30 năm, mỗi ngày 1,75đ. Bậc lương này gần bằng lương thầy ghi công (secretaire de pointeur) mỗi tháng từ 40 – 45 đ.


Tôi làm được ba tháng, tôi buồn, ngồi chơi, thì thầy ghi công lên báo với ông chủ là tôi lười biếng. Chủ gọi tôi lên, hỏi:


- Tại sao buồn?


Tôi nói:


- Tôi muốn xin phép về thăm mẹ ở Cần Thơ.


- Hay là anh tính thôi việc?


- Nếu muốn thôi thì tôi làm đơn, thưa ông. Bây giờ cho tôi xin nghỉ phép 10 ngày về thăm mẹ.


- Sao nghỉ nhiều vậy? Thôi được, tôi tăng cho anh thêm 0,25đ mỗi ngày, nghĩa là lương 2đ một ngày. Cho anh đi phép rồi trở lại.


Có lần tôi đang làm dưới xưởng, ông ta xuống gặp tôi đang làm thợ gò. Ổng nói:


- Thôi, anh không cần làm! Tôi cần anh tìm hiểu hết công việc ở đây để sau này lên thay thầy contremaitre (Quản đốc xưởng).


Tôi chỉ cười. Ông contremaitre này làm lâu năm, chủ Tây đã cấp cho ông một miếng vườn và ruộng ở Xoài Hột cách xưởng 6km, mỗi ngày đi làm ông ta đi bằng chiếc ca-nô (tàu con) rất oai, ai mà không thích.


Sau đó, Nhật đảo chính Pháp. Tháng 4-1945, tôi không làm cho Nhật, về với má rồi đi theo kháng chiến.


Tháng 8-1948, đồng chí Bùi Huy Sắc, Phó trưởng Ty Công an tỉnh Vĩnh Long mời anh em trong xưởng họp lại, cử tôi làm Phó quản đốc. Tôi xin từ chối, và đề nghị cử đồng chí khác. Tư Sắc nổi giận:


- Tỉnh ủy cử đồng chí mà đồng chí không nhận nhiệm vụ à?


Tôi sợ quá, vừa khóc, vừa nói:


- Tôi xin nhận chức Phó quản đốc, với nhiệm vụ cấp trên đã giao.


Việc tôi không thích làm quan từ đời Tây tới đời ta vẫn vậy. Tôi không ham hố giành, bon chen. Kể cả việc Nhà nước dự kiến phong tặng tôi danh hiệu Anh hùng. Khi được hỏi, tôi trả lời là tôi không dám nhận danh hiệu đó, tôi xin từ chối. Trung ương không chấp nhận!


Tôi muốn làm việc hết sức mình cho đất nước, cho xã hội. Tiền thì tôi rất cần, nhưng cần để báo hiếu với mẹ, tôi không ham thích làm giàu. Khi mà con người thấy đời bất hạnh thì chỉ muốn đi tu mà thôi. Sau này tôi theo cách mạng, tôi làm việc cho xã hội, tôi rất hăng say, cũng như là tôi đi tu vậy! Việc đi tu như thế có ích cho xã hội.


Thi đậu học bổng trường Kỹ nghệ là niềm vui lớn. Tôi vào học với bộ đồ bà ba mới may, một bộ bà ba cũ đã vá vai vài chỗ, hai cái quần đùi và chiếc rương đựng chén má tôi mua lại của chị  Hạo là bạn gói đường kẹo ở hãng đường Hiệp Hòa.


Tôi không quan tâm đến giới nữ, mà tôi cần phải chăm học, học cả ban đêm, lén đốt đèn dầu học vì nhà trường bắt buộc 9 giờ 30 tối là tắt đèn mọi người ngủ hết. Tôi làm chiếc đèn con đốt bằng dầu lửa, ngọn rất nhỏ chỉ đủ để tôi thấy mà thôi. Lúc đó học kém là bị đuổi. Sau ba tháng đầu, nhà trường đuổi học 30 người học kém trên tổng số 90 người mới trúng tuyển. Hết năm thứ nhất đuổi thêm một số, hết năm thứ 2 đuổi thêm nữa, chỉ còn 25 học trò đứng đầu bảng (25/90) và sau cùng, thi đậu tốt nghiệp ra trường chỉ đậu được 12 đứa. Cuộc đua học tập này rất căng thẳng, tôi vì nhỏ tuổi hơn hết, nghèo hơn hết, nếu bị đuổi hoặc thi ra trường mà rớt thì không còn biết dựa vào ai và làm gì để có tiền giúp mẹ. Bị đi lính, thì tôi là một lính quèn, còn trẻ, nhưng không đẹp trai, ăn nói nhút nhát, ít nói lắm, làm thinh ngồi nghe nhiều hơn. Bản chất của tôi như vậy đấy.


Vợ tôi là Lê Thị Hơn sinh năm 1923, con của một gia đình nghèo khó, thuộc thành phần bần nông, sống bằng nghề nông, đi làm thuê làm mướn không đủ ăn. Những năm mướn ruộng đất của những nhà giàu có để cày cấy thì thu hoạch không đủ đóng lúa ruộng, vay mùa này ăn đến mùa sau trả, vay 10 đến lúc trả là 15 (10 giạ lúa vay thì phải trả 15 giạ), nhưng có lúc không vay được mà phải nhờ người có tiền đi vay giùm mới được.


Vợ tôi có 7 anh chị em và là chị cả trong nhà. Khi tôi đi tập kết thì người em vợ tôi vào học thợ tiện, sau là thợ tiện của xưởng, cùng đi. Còn lại ở nhà với mẹ vợ tôi năm em: hai trai, ba gái. Hai em trai (thứ 10 và út) đều hy sinh trong chống Mỹ. Má vợ tôi là mẹ của hai liệt sỹ.


Hình 2


Vì sao tôi phải đi lính thợ? Năm thứ 3, lớp tôi chỉ còn 25 học sinh. 22 người ra trường và được cử đi làm việc tại các hãng của Pháp. Tôi cùng với hai bạn học kém thì bị bắt đi lính để trả nợ ba năm học bổng. Trong học bạ, họ phê tôi là người cầm đầu và tự do theo ý muốn (meneur, conduite laisse à désirer).


Thế là không cần khám sức khỏe, trong khi tôi đang cởi trần làm thợ rèn dưới xưởng thì một số thầy thuốc, bác sĩ chỉ vào tôi cho là sức khỏe tốt. Họ dùng xe cây bắt tôi chở vào trại lính tập Cây Me, phát quần áo lính, rồi chở tôi lên sân bay Biên Hòa. Sau ba tháng tập thành thục, tôi và các bạn khác được đưa xuống xưởng. Tôi làm thợ rèn, rèn các chi tiết cần thiết cho việc sửa chữa máy bay.


Ba năm đi lính là ba năm đau khổ và nhục nhã nhất đời! Lương chỉ có 8đ40, cố gắng gửi về nuôi mẹ 5đ, ngày làm thợ tối đi canh gác. Tôi muốn trốn lính đi hoạt động chống Pháp, mong muốn nước nhà độc lập.


Tôi và đồng chí Võ Văn Gượng, người học cùng trường Kỹ nghệ trước tôi 2 năm (đi kháng chiến chống Pháp, anh đổi tên là Võ Thái Hòa, theo quân đội. Tập kết ra Bắc, anh làm Cục phó Cục Công nghiệp Hà Nội, nay về hưu tại thành phố Hồ Chí Minh) rủ nhau tìm đường trốn ra nước ngoài làm cách mạng. Trở về Sài Gòn, chúng tôi gặp ông Phan Khắc Sửu, kỹ sư nông nghiệp học ở Pháp, ông nói các chú có nghề, nếu đi ra nước ngoài bắt liên lạc với tổ chức người Việt Nam làm cách mạng thì vẫn sống dễ dàng. Ông sẽ giới thiệu và chỉ cách cho đi. Chúng tôi dự định để 15 ngày phép đi ra Hà Nội rồi trốn qua Trung Quốc. Nhưng gặp lần sau, ông bảo hai anh em chúng tôi chưa trốn đi nước ngoài vội mà ông cần có một bản đồ sân bay Biên Hòa, các nơi chứa súng, các đường hầm… Lúc đó tôi mới hiểu ông bác vật Sửu là người chống Pháp!


Anh Gượng và tôi vẽ xong bản đồ sân bay Biên Hòa đem về Sài Gòn, đến phòng làm việc của ông Sửu là Chambre d’agriculture tại góc đường Messige - Chasseloup Laubat ngày xưa (nay là Xô-Viết Nghệ Tĩnh - Hai Bà Trưng). Nhưng chúng tôi không gặp ông bác vật. Tôi xếp nhỏ lại nhét vào dưới kẹt bàn nơi hẹn trước. Tuần sau khi chúng tôi trở lại thì được biết ông Sửu bị bắt về bót Catinat, đó là những ngày Nam Kỳ khởi nghĩa. Có biết bao nhiều người căm thù giặc Pháp, chống Pháp, âm thầm chịu tù đày, hy sinh, nhưng họ không ở trong hàng ngũ Cộng sản.


Vừa thương ông bác vật, tôi vừa lo sợ bị bắt. Sau này tôi mới hay ông Sửu bị kết án tù, đày đi Côn Đảo. Chúng tôi không bị phát hiện và đành nằm chờ mãn hạn lính.


Tôi khác với anh Gượng, tôi không ưa việc làm quan nên tôi không đi học lớp cai (caporal), tới kỳ tuyển học thì tôi nghỉ phép về quê. Tôi theo lớp học tại chức để thi lấy cấp bằng Brevet de Technicité. Tôi đậu vào cuối năm 1941. Từ đó, mỗi tháng ở trong lính tôi được trả lương cấp bằng kỹ thuật là 12 đồng nữa. Với số tiền này tôi gửi về nuôi mẹ.


Đúng tháng 7-1943, tôi làm đơn đấu tranh xin được xuất ngũ. Nhà nước Pháp có lệnh tổng động viên nhưng tôi bị bắt đi lính khi mới 18 tuổi, tôi không phải đi lính tình nguyện, không phải đi lính theo nghĩa vụ quân sự. Tôi tranh đấu nên buộc lòng tên quan Tư (Pháp) phải chấp nhận làm các thủ tục xuất ngũ cho tôi.


Tôi đến hãng rượu Mazet gần nhà đèn Chợ Quán xin việc và được chủ hãng thu nhận cho làm thợ nấu rượu. Qua gần một tháng, chủ thấy tôi thông thạo nên bảo:


- Nếu anh bằng lòng, tôi cho làm surveillant nấu rượu.


Tôi không bằng lòng. Vài ngày sau có cuộc bãi công của những người gác cổng, các thầy ghi công, thầy ký. Chủ hãng lúng túng kêu tôi làm thay họ. Tôi không nhận, ông chửi tôi:


- Đồ không trung thành!


Tôi thôi việc đòi trả lương. Chiều hôm đó, ông chủ hãng nhiều lời dụ dỗ tôi nhưng tôi phản đối, lãnh tiền rồi thôi việc.


Thất nghiệp, xin đâu cũng chưa được, tôi liền theo người bạn, anh Nguyễn Văn Chi đang làm cai thợ đúc ở hãng xáng Mỹ Tho. Tôi về làm thợ sắt ở hãng xáng để học đờn vọng cổ mà anh Năm Chi chỉ dạy, để tiêu khiển khi buồn bã.


Hãng xáng Mỹ Tho trả lương thợ sắt cho tôi rất cao 1đ75/ngày, bằng lương của người thợ làm việc 30 năm cho hãng. Chủ còn bảo nếu tôi bằng lòng thì ông cử tôi làm cai (caporal) nhưng tôi từ chối. Tại đây, tôi đi làm và để dành tiền cưới vợ. Nhưng cuộc sống vẫn nghèo, tiền lương không đủ để chi tiêu, chỉ đảm bảo ăn rất dè xẻn, còn là gởi cho mẹ và cho chị để uống thuốc vì đau nặng kéo dài nhiều năm.


Đầu năm 1945, má tôi kêu tôi về cưới vợ. Đến ngày 09-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, tôi chống Nhật không làm việc. Má tôi từ Cái Vồn, Bình Minh bơi xuồng qua rước tôi về quê. Vợ chồng tôi bỏ nguyên đồ đạc, bàn ghế, tủ trong căn nhà thuê, rồi trốn về quê. Sau đó, tôi gia nhập cách mạng.


(còn tiếp)


Nguồn: Cuộc đời người thợ. Tự truyện của Anh hùng Lao động Lê Minh Đức. NXB Văn học sắp phát hành.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hãy trả lại tình yêu - Phạm Thanh Quang 10.09.2010
Bóc vỏ trái đất - Mã Thiện Đồng 10.09.2010
Minh bạch - Nguyễn Hồng Cẩn 09.09.2010
Đường xưa mây trắng - Nhất Hạnh - Nguyễn Lang 09.09.2010
Một ngày cho trăm năm - Nguyễn Bá Trình 08.09.2010
Nỗi oan - Vũ Mỹ Dung 08.09.2010
Cuộc đời người thợ - Lê Minh Đức 20.08.2010
Ái tình họa lang - Trương Kháng Kháng 18.08.2010
Hai mươi năm sau - A. Dumas 17.08.2010
Zorba tay chơi Hy Lạp - Nikos Kazantzakis 04.08.2010
xem thêm »