tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và
hội họa
truyện dân gian Việt Nam
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 1219659
Tiểu thuyết
06.03.2010
Lan Khai
Gái thời loạn

I- Về bên tả ngạn Lô Giang, từ Soi Châu tới ngã ba sông, dải Sâm Sơn đổ xô lên mạn Bắc, như đàn voi tán loạn chạy lẩn vào đám sương mù.


Cứ chiều chiều, khoảng ánh tà nhuộm vớt đầu non, bóng tối bôi nhòa vật sắc thì cái yên tĩnh, như lần qua những bậc đá khổng lồ, tản xuống tỉnh thành Tuyên, nép dưới lòng cái thung lũng kéo dài theo miệt hữu ngạn sông. Lúc ấy, dưới đất trên sông tắt hẳn tiếng ồn ào. Sự vật từ náo động bước vào giấc ngủ êm đềm. Có chăng trừ con sông nhỏ vẫn róc rách theo dòng, lẩn dưới bóng cây bờ u uất.


Tỉnh thành khi ấy còn rậm rạp, lèo tèo độ hơn trăm nóc nhà tranh tản mát dưới chân lau. Đường sá chỉ là những lối chân mòn cỏ, rác rưởi bộn bề. Nhỡ hôm trời mưa phải đi ra ngoài thực là cái thân tội. Vì vậy, nhiều người thích ở bè, tụ thành vạn Vân Hà. Những hiệu buôn khách cũng ở bè cả, vừa tiện đường sông giao dịch, vừa tiện phòng giữ trộm cắp đêm hôm và nhất là tránh khỏi cái nạn hùm beo, chưa chập tối đã ngông nghênh cả ngoài phố, nhảy vào tận sân bắt lợn đem đi; người trong nhà có biết cũng đành chỉ tiếc của kêu trời. Vẫn hay ở sông, gặp hôm giở trời, thường có những đàn giải nổi lên như trâu, làm đắm thuyền, chết người. Nhưng, cái tai nạn đó kể ra vẫn họa hoằn.


Dân cư chui rúc trong những túp nhà tối tăm, ẩm ướt, chìm ngập giữa cảnh hoang tịch đó, phần nhiều làm nghề chăn nuôi trồng cấy, và cũng là nghèo đói khó khăn. Dù có một đôi nhà giàu, ta cũng khó lòng nhận thấy được. Vì, trừ những hiệu buôn khách, phàm nhà hơi có của đều phải giấu giếm như ta giấu một tội ác. Nếu để lộ tăm hơi, tất không sao tránh khỏi sự tàn sát của bọn Cờ Đen mỗi khi chúng đoảng qua. Thành thử, dù no, dù đói, hết thảy đều có cái dáng cực khổ, vì thần trí lúc nào cũng nơm nớp, tấm lòng lúc nào cũng bồi hồi.


Dân tình hồi đó thực đã đến nước lầm than. Muốn vẽ ra cho đúng, họa chăng có máu hòa cùng lệ. Ngay bây giờ, còn sống sót người nào, tuổi đã già, tim đã nguội, vậy mà nếu phải nhắc tới chuyện cũ, bới đến mớ tro tàn ký ức năm xưa, vẫn còn thấy lộ ra vẻ kinh hoàng.


II


Vào tháng một năm Giáp Thân (1884), lúc mặt trời vừa lặn, ngọn Chân Sơn sừng sững trên góc trời tây như một vị thần tối cổ hiển hiện giữa đám hào quang. Mặt nước sông Lô lồng bóng mây rực rỡ, chảy êm đềm như một dòng xà cừ. Những cánh rừng mạn Soi Châu căng lên chân mây lòng trứng tấm sa dài màu úa sẫm. Mấy chòm cây to trên đỉnh núi nhô lên nền trời sáng những bóng lẻ buồn rầu. Trời đất lặng như tờ, chỉ thỉnh thoảng, trên tít mù xanh, một đàn chim bay tung tóe như một vệt khói thoáng tan đi. Khí lạnh từ trên không trút xuống, thì bóng tối cũng từ mặt đất dâng lên. Sương chiều phủ qua cảnh vật một lượt bụi phấn tờ mờ...


Ở chân gò Chùa Cao (tức núi Cố bây giờ), cạnh bãi cỏ hoang, hai người đàn ông đang ngồi xổm nói chuyện.


Người nhiều tuổi hơn, trạc độ bốn mươi, nom cao lớn mạnh mẽ, chân tay chắc chắn, nở nang. Ăn vận thì sơ sài: một cái áo bông cụt tay bó chặt lấy cái áo cánh nâu đã bợt màu. Quần xắn móng lợn, chân đi hài sảo. Ngang lưng, thắt một sợi dây da to bản, cài con dao tư nhọn lấp loáng trong mảnh vỏ tre. Một cái tù và bằng sừng trâu, buộc vào hai đầu sợi dây chuỗi, bỏ thõng xuống trước ngực. Cái nón mê mất cạp lật xuống sau gáy, lộ hẳn cái trán gồ. Nét mặt dài, xương xương; hai mắt sắc như mắt diều hâu; mũi sư tử; miệng rộng môi dày, thường mím chặt tỏ ra vẻ quả quyết khác thường.


Ngồi cạnh người ấy là một anh chàng trẻ tuổi. Cũng con lão thì phải, vì nét mặt giống lão như đúc, tuy không rắn rỏi bằng. Anh ta đầu trần, cái búi tóc mới gây, nhu nhú chỉ bằng một củ hành. Mình mặc cái áo nâu lửng. Quần thì ống thấp ống cao, đã tã quá, không còn nhận đích là sắc gì nữa.


Người nhiều tuổi bỗng để cái tù và lên miệng, phồng má phun ra mấy tiếng: “Tu... út... tu... tu...”. Đoạn hắn cảu nhảu nói:


- Những của beo bắt! Giờ còn mải ăn chưa thèm nhớ về chuồng! Cu! Mày có đứng dậy dồn đỡ tao không? Tối rồi!...


- Thì bố cần gì chúng! Dê với chả dê! Thây kệ cho beo vồ hết chúng nó đi, còn hơn chăm chút để rồi giặc nó lại ngả thịt cả.


Lão già bỏ thõng cái tù và xuống ngực, chống hai bàn tay lên cạnh sườn, thở dài một cách thất vọng:


- Mày nói thật đấy! Mà cái sự thật mới đáng buồn làm sao! Chả trách gọi là giặc cũng phải, dữ hơn sài lang! Nếu chúng còn để cho ta chút khí giời mà thở, chẳng qua chúng còn muốn cho ta ngắc ngoải mà giày vò. Trời ơi! Xin trời phù hộ cho gia quyến nhà cụ Điều tôi. Cái tiếng giàu có không đâu e sẽ có ngày thành ra cái ngòi tai vạ.


- Bố nói chí phải! Con nghĩ cũng lấy làm lo lắm. Ít lâu nay xem ý những quân chó săn của chúng hay dòm dỏ nhà cụ Điều ta. Nếu chẳng may xảy ra điều gì thực tội nghiệp quá! Cụ ông, cụ bà phúc hậu nhân đức biết chừng nào!


- Đáng lo nhất là cô Thục Nương. Người con gái tươi đẹp như thế, thoát sao con mắt dòm dỏ của phường cú vọ. Gái sinh thời loạn như cô Thục Nương thực là không may. Nhưng, dù sao mặc lòng, còn tao, tao quyết không khi nào để cho cô phải vào tay quân cẩu trệ. Tao sẽ liều cái thân già này để báo đáp lại non ba chục năm trời ơn nặng nghĩa dày.


- Suỵt!... Bố có nghe thấy gì không?


Lão già im bặt, lắng tai nghe:


- Hình như có nhiều tiếng chân ngựa phóng lại thì phải!... Đích rồi!... Cờ Đen!... Chắc hẳn lại quân Cờ Đen!...


- Ta tháo chứ, bố?


- Tháo cũng không kịp nữa. Cứ lặng yên xem sao... Lạy trời đất, quỷ thần phù hộ cho gia quyến chủ tôi tai qua nạn khỏi!...


III


Tiếng nhạc leng reng mỗi lúc một gần. Rồi, ở đầu đường quặt, nhô ra một đoàn người ngựa, loáng tới như bay...


Người phóng ngựa đi đầu, chắc là chủ tướng. Trạc tuổi độ năm mươi, gầy đét như con mắm. Đầu đội chiếc mũ nhung úp ra ngoài cái đuôi sam kết chỉ đỏ to bằng cổ tay. Mặt dài, màu da cháy nắng thẫm như sành. Trên trán, mấy đường gân nổi to như chão. Cặp lông mày chổi sể đứng dựng trên hai mắt tròn và trắng dã. Một vết sẹo sâu hoắm ở gò má bên trái thêm cho vẻ mặt hung ác một nét thảm đạm hãi hùng. Mình mặc cái áo cánh nhiễu rộng tay, lưng thắt đai điều, chân đi giày bít gót, hai ống quần bó sát trong đôi xà cạp màu quan lục. Cạnh sườn bên trái một thanh quất thấp thoáng dưới tay áo rộng. Vai đeo khẩu súng thập tam. Thoạt trông cái cách người ấy dán mình xuống yên ngựa, cũng đủ biết là một tay kỵ mã tài. Mà con ngựa ô lĩnh, ức lớn, mông tròn, câu đầu phóng vĩ, thực chẳng phải là giống ngựa thường.


Bọn tùy tòng thì một loạt nón rơm to, áo vải xanh thụng tay, vai đeo túi da báo, lưng quấn bao đạn, tay mang súng trường, mã tấu hoặc siêu đao. Tên nào cũng có vẻ hùng hổ, dữ tợn. Những con ngựa họ cưỡi tuy bé nhưng rất hăng.


Thoạt trông bố cu Khải biết ngay sự chẳng lành. Tướng đi đầu dừng ngựa quát hỏi lão già:


- Nị cố pít cái già ôông Tìu Vổ ổ tâu khôông?([1])


Lão già đánh bạo hỏi lại:


- Các ông hỏi nhà ông Điều hộ làm gì?


Một tên Cờ Đen tức mình quát:


- Làm cái gì à?... Khôông lói deng ngộ pắn phát súng chít pây giồ!


Thằng cu dại dột nói:


- Đã thế thì tìm lấy, không biết!


- Không pít?... Hầy! Tỉu già má!... Lày khôông pít!...([2])


Dứt lời, “đoàng”!...


Tiếng nổ dữ dội tung ra một làn khói khét lẹt. Thằng cu ngã sấp...


Tên Cờ Đen lại chỉ ngọn súng vào lão già.


Tướng giặc vội ra hiệu bảo tên Cờ Đen bỏ súng xuống:


- Nị không pít già ôông Tìu tâu à?


Bố cu chỉ tam toạng về phía bờ sông.


Viên tướng ra roi. Đoàn ngựa lại phóng nhanh như bay. Dưới ánh sáng tàn của ngày sắp hết, bố cu nhìn theo đám giặc, ngẩn ngơ như vừa qua một cơn mê hoảng...


Lão quỳ xuống xem con. Thằng Cu đã chết rồi. Một luồng máu tự dưới vú bên trái ứa ra, ướt đằm cả vạt áo nâu.


Gạt hai hàng nước mắt, lão già đứng dậy, nghiến răng:


- Mấy giọt máu này, ta thề sẽ đem máu thù rửa cho kỳ sạch!


Đoạn lại nhìn xác con:


- Ở thời buổi này, được chết sớm như con, thôi cũng yên thân! Nhưng con nếu khôn thiêng, nên giúp đỡ cha báo cái thù chẳng đội trời chung này!... Đáng nhẽ cha hãy đắp điếm cho con, song tình thế khẩn cấp lắm, cha phải về xem ở nhà thế nào đã!


Nói đoạn, lão già chạy tắt vào một cái lối rẽ chỉ riêng mình lão biết.


IV


Đằng kia bọn giặc vẫn quất ngựa chạy nhanh. Trong khoảng nhá nhem, những bóng đen vùn vụt như một toán hung thần. Cái lặng lẽ vô cùng trên cảnh vật bị những tiếng vó ngựa đập đường, những tiếng gươm súng va nhau khua động một cách thê thảm. Bỗng có tiếng người càu nhàu, đại ý:


- Những quân láo xược! Cứ để tôi bắn chết cả đi cho rảnh chuyện!


Tiếng khác đáp:


- Ý Sập Trưởng không muốn ở tỉnh nghe tiếng súng động trước khi bọn mình tới nơi. Có thế mới mong tóm được hết tụi cóc vàng. Nhất lão Điều hộ thì cần phải bắt kỳ được.


- Lão già ấy sụ lắm à?


- Cứ lời mẹ con Chánh ú thì lão ấy “dậu” lắm!... à mà lạ! Thằng con trai Chánh ú hẹn sẽ chờ ở đây để dẫn đường mà sao không thấy vía nó đâu cả?...


- Chánh ú nào?


- À, một con mẹ An Nam vẫn giúp mình. Nhờ nó mà tay nào hơi có máu mặt đều bị mình vớ được hết cả.


- Chuyện! Có thế mới được việc cho mình. Vả, mình dùng nó cũng như dùng con chó săn, thỏ rừng đã hết thì chó cũng chẳng còn.


Ngay lúc đó thốt nhiên có một tiếng còi. Viên tướng và bọn tùy tòng vội kìm ngựa lại.


Trong búi cây bên lề đường mọc ra một cái bóng người. Bóng đen chạy lại gần chủ tướng nói nhỏ mấy câu. Tướng giặc “tỉu” ầm lên, đoạn hô quân lộn trở lại. Ngựa phi một thôi nữa thì rẽ sang một con đường khác rộng phẳng hơn. Rồi, chẳng bao lâu, xa xa đằng phía trước, hiện ra một lũy tre rậm rạp. Tướng giặc thúc quân tiến mau, chớp mắt đã sát chân lũy. Vừa được lệnh, toán Cờ Đen tản ra bao vây tứ phía; còn chủ tướng thì nhảy xuống ngựa, cùng hai tên hầu cận xông thẳng vào cổng...


Hai tên hầu khẽ rỉ tai nói thầm:


- Cái bóng đen vừa rồi là con Chánh ú phải không?


- Chính nó đấy!


- À, thế ra thằng chăn dê lừa mình. Chính đây mới là nhà lão Điều.


- Xem thế thì biết mẹ con Chánh ú được việc cho ta biết chừng nào!...


V


Ngay lúc đó, trong nhà cụ Điều, trên bộ ghế ngựa kê trước bàn thờ gian giữa, bà cụ Điều đang ngồi lẳng lặng têm trầu. Tuổi cụ đã cao, mái tóc hạt tiêu quấn thon lỏn trong vành khăn nhiễu tam giang. Vẻ mặt hiền từ. Mình cụ mặc áo bông dài lòa xòa, nhưng trông dáng người nhỏ nhắn, tầm thước, ta có thể còn đoán được vẻ kiều diễm lúc thiếu thời. Cạnh đấy, trên một mẩu gỗ tròn, cây đèn xanh leo lét sáng. Dưới ánh đèn mờ tỏ, bà cụ Điều phảng phất giống như một pho tượng từ bi.


Ở gian bên, chợt có tiếng dép lẹt xẹt... Bà cụ Điều ngẩng đầu hỏi:


- Thục Nương đấy à?


- Vâng!


- Cơm chín rồi thì đánh tơi ra, kẻo lúc thầy con về ôi chăng!


- Không biết thầy con lại đằng ông cụ Điển làm gì mà mãi giờ chưa về. Cả hai bố con nhà chú cu Khải cũng chưa thấy dồn dê về chuồng.


- Ô hay, dê chưa về à? Con thử sai thằng Hoàn đi xem nào!


- Con đã bảo thằng Hoàn rồi, nhưng nó vừa giã gạo xong, còn đang cho lợn ăn... Quái! Chú cu Khải xưa nay tính cẩn thận lắm, con chắc có xảy ra sự gì!...


Thục Nương đánh xong nồi cơm, vén mành, bước sang gian giữa. Mới mười tám xuân xanh, Thục Nương là một cô gái đẹp dậy thì, dáng người mềm mại óng ả, nét mặt đầy đặn, nước da trắng nõn. Dưới vành tóc ngôi đen nhánh, cái trán sáng như gương. Cặp lông mày lá liễu như hai vệt mây gợn trên hai ngôi sao sáng. Mũi thẳng mà nhỏ, hai má hồng hồng, cặp môi tươi sánh, thỉnh thoảng mỉm một nụ cười kín đáo. Nàng ăn vận một cách sơ sài, nom càng lộ cái vẻ đẹp tự nhiên, êm ái. Đầu nàng quấn vành khăn lượt, mình mặc chiếc áo the thâm. Hai tai hồng hồng đeo một đôi nụ hổ phách. Cổ tay trái, một chiếc vòng huyền làm nổi hẳn màu da mỡ đọng. Nàng cử chỉ một cách nhẹ nhàng. Tính không hay nói nhiều, nhưng mỗi khi nàng cất tiếng, người nghe thấy thư thái cả tâm hồn...


Thục Nương lại gần mẹ, tỏ ý lo ngại:


- Lúc chiều, con gặp bà cụ Điển Tường, thấy nói rằng cánh quân của Lày Sập Trưởng, thuộc hạ Hoàng Tử Trung sắp sửa qua đây. Vừa rồi, con lại vẳng nghe về phía gò Chùa có tiếng súng nổ, mà hai bố con chú cu Khải thì không thấy về...


- Mẹ từ sáng đến giờ cũng lo ngại lắm!...


Thục Nương nhìn mẹ có ý hỏi.


- Thế con không để ý đến sự gì lạ à?


Nàng khẽ đáp:


- Con mẹ Chánh ú!...


- Chính phải đấy! Xưa nay nó có đi lại chơi bời gì với nhà ta đâu. Thế mà hôm nay, tự nhiên mấy mẹ con nó kéo đến chơi, xem có ý rất khác.


Thục Nương chưa kịp đáp thì, xung quanh ngoài vườn, đã thấy súng nổ đì đoàng. Con chó vàng cúp đuôi chui thọt vào gậm giường. Thằng Hoàn đang ăn cơm dưới bếp cũng đâm bổ lên nhà, luống cuống nói:


- Giặc!... Bẩm cụ... Giặc kéo vào sân rồi!...


Thục Nương tái mặt:


- Làm thế nào bây giờ, mẹ?


- Cha con đi vắng, biết làm thế nào!... Trời ơi! Nguy mất rồi! Khổ thân con rồi, con ơi!...


VI


Trời mỗi lúc một tối dần về phương tây, những đám mây vẩy tê tê ngổn ngang như những phiến đồng đỏ rực. Cánh rừng xa chìm khuất sau lớp bụi vàng. Trên đỉnh đồi, những chòm cây thu bóng đứng âm thầm. Dưới lòng thung, lau lách mỗi lúc một nhòa nhạt. Bóng tối dâng lên, tràn ngập như một cái bể mực mà những gò đống mấp mô thì như những làn sóng khổng lồ nổi lên trong một trận phong ba nào, giờ đứng chết lại đó...


Bố cu Khải vừa đi vừa chạy, nỗi bồi hồi trong lòng tựa hồ theo dịp chân bước mà lúc hoãn, lúc dồn. Thốt nhiên, lão thấy súng nổ liên thanh, tiếng tre nứa vỡ lốp đốp, tiếng người kêu khóc như ri và ánh lửa đỏ rực trời. Lão vội chạy lên gò đứng xem. Xa xa, những đám cháy bốc ngùn ngụt, tuôn lên trên không những đám khói đen nghịt, những mớ tàn đỏ bay tung. Dưới ánh lửa sắc máu, tỉnh thành hiện ra một cảnh tượng thê thảm. Dân cư chạy trốn như kiến vỡ tổ. Bọn giặc thì người ngựa tung hoành, gươm giáo nhấp nhoáng, như một lũ hung thần đang gieo rắc những tai nạn gớm ghê, và nỗi kinh hoàng của sự chết. Bố cu Khải cố nhìn về phía nhà chủ, nhưng tuyệt nhiên không thấy khói lửa, động đạc gì cả. Lão nghi ngại lo lắng, không biết nên xử trí ra sao. Đang lúc phân vân, lão già giật mình vì gần đấy bỗng có tiếng động lá sột soạt. Nhưng lão yên lòng ngay. Tiếng ông cụ Điều hỏi:


- Ai đấy? Bố cu Khải đấy phải không?


- Vâng, may quá! Cụ làm sao đến được đây? Chứ còn cụ bà và cô con đâu?


- Nguy cả rồi! Bị giặc bắt rồi! Hiện giờ chúng đương đóng đầy nhà ta. Hết thảy những người có chút máu mặt đều bị nó tóm được. Chính tôi một tí nữa cũng bị nó vớ được. Nguyên lúc ấy tôi vừa ở nhà ông cụ Điển ra, thấy bọn giặc phi ngựa lại như bay, tôi vội chui vào bụi ngồi thật yên, chờ chúng vào cướp phá nhà ông cụ Điển, mới lẻn về xem ở nhà thế nào. Đến nơi thấy khác, tôi vội ra tìm xem họa may còn gặp chú ở đây. Khốn nạn! Hai mẹ con Thục Nương chắc rồi cũng nguy cả chứ không sao toàn vẹn được.


Cụ Điều vừa thở vừa nói, vừa nói vừa khóc, tỏ ý thất vọng lắm. Sau cụ hỏi:


- Thế còn thằng Khải đâu?


Nghe câu hỏi, lão già không thể cầm được nước mắt nữa. Lão thở dài đáp:


- Cháu bị giặc bắn chết rồi!


Nói đoạn, hai người nhìn nhau, cùng thấy tấm lòng tê tái vì đau khổ.


Đằng xa, ngọn lửa lúc đó cháy lan ra những bãi lau sậy, gặp gió bốc lên đùng đùng, thành cái thế tràn ngập không sức gì cản được. Tỉnh thành nghiễm nhiên hóa ra cái bể lửa, mà những tiếng người kêu, vật rống, tre nổ, súng vang tức là tiếng phong ba.


VII


Trong nhà cụ Điều, quân giặc bắt lợn chuồng giết thịt đã sửa soạn xong mâm rượu bưng lên đặt giữa giường. Tướng giặc rót rượu, khật khưỡng đánh chén. Thỉnh thoảng hắn đặt đũa, xoăn xoe bộ ria mép, cười và hỏi bà cụ Điều:


- Hà! hà!... Ông Tìu ti vắng... ti trốn há? Cũng lợc! Ngộ ngồi chờ ông Tìu vẳy...


Bà cụ run sợ nói:


- Bẩm lạy quan lớn, bố cháu quả không dám đi trốn ạ! Vả chăng ở dưới quyền phép các quan, bố cháu trốn đâu được!


- Cái lày ông Tìu sợ ngộ vai tìn tiu lá vè...


- Dạ... Bẩm quan lớn, chúng con thực tiếng cả nhà không, có khi nào dám tiếc quan lớn, mà tiếc sao được!


- Ngộ pít rồi!...


Tướng giặc nói đoạn nhìn Thục Nương không chớp mắt. Nàng sợ và thẹn, cúi gằm xuống. Bọn Cờ Đen tản đi cướp phá các nơi lúc đó vừa về, dẫn vào một xâu dài. Tuyền những tay giàu có như: vợ chồng anh lý Hậu và đứa con gái còn ẵm ngửa, ông bà Điển Tường, chủ hiệu Nam Hưng và một bọn đàn bà con gái hàng phố... Người nào người nấy sợ hãi xanh xám, quỳ bẹp cả xuống trước giường. Thục Nương trông bọn họ, thấy là chỗ bà con quen biết cả, nghĩ tình đồng bệnh, lo bước tương lai, nàng không thể cầm giọt lệ.


Tướng giặc cất tiếng dõng dạc hỏi:


- Tủ cả bọn dà giào ngộ sai pắt chứ?


Quân lính bẩm:


- Tủ cả! (đủ cả).


- Hẩu lớ! Chúng ló chịu chỉ chỗ tể tìn khôông?


Quân lính chỉ vào vợ chồng lý Hậu:


- Chỉ có vợ chồng dà lày khôông chịu lói gì cả!


Nói đoạn, chúng đặt lên giường ba gói lớn bọc vải xanh. Tướng giặc mở xem, thấy vàng bạc lấp lánh, cười híp mắt lại. Hắn uống một hơi rượu, mặt đỏ bừng bừng, quay lại nhìn vợ chồng lý Hậu hồi lâu, quát rằng:


- Nị muốn chít há? Lấy cây tre vào tây!


Một tên Cờ Đen chạy ra ngoài. Tướng giặc lại điềm nhiên đánh chén. Một cái yên lặng gớm ghê đè nặng xuống gian nhà đông nghịt những người... Chốc lát, tên Cờ Đen đem vào một đoạn tre dài, rút dao bổ dọc đến già nửa như một cái cặp gắp. Hai tên khác sấn lại trước mặt vợ chồng lý Hậu, giật phắt đứa bé ném xuống đất, đoạn giúi bốn bàn tay run như giẽ vào cặp tre. Tên giặc kia kẹp chặt hai nửa tre lại. Vợ chồng lý Hậu đau quá, kêu gào thảm thiết, mặt xám ngắt không còn giọt máu nào nữa. Đứa bé lồm cồm dưới đất cũng kêu khóc oe oé. Thấy vợ chồng nhà nọ chưa chịu khai, tên Cờ Đen đứng hẳn lên cọc tre rún mạnh. Dưới sức nặng, mười ngón tay giập gãy răng rắc, hai vợ chồng ngất đi...


Bọn giặc lấy nước lã phun vào mặt cho hai người lại dần dần hồi tỉnh, rền rĩ não nùng... Những người bị bắt mê man, im thin thít không dám động.


Tướng giặc quát:


- Tìn giấu tâu?([3])


Lý Hậu vừa khóc vừa nói:


- Vợ chồng ăn nhịn để dành được bao nhiêu, các quan lấy một lần hết sạch cả rồi!


Tướng giặc quắc mắt, chấu mấy câu tiếng Tầu. Hai tên Cờ Đen lập tức rút dao lưng. Chỉ chớp mắt, tiếp theo tiếng kêu gào của hai người khốn khổ, bốn cái tai đã rụng xuống đất lả tả như mấy cánh hoa tàn...


Hai người gục xuống vũng máu. Bọn giặc nắm tóc lôi dậy:


- Tìn tâu?


-...


Rượu đã ngà ngà say, tướng giặc nổi nóng vì hắn ngờ bọn này gan không nói, lại tức mình vì đứa bé cứ bò quềnh bò quàng gào khóc rầm rĩ; hắn nghiến răng vùng đứng xuống đất, nắm cẳng đứa bé tung bổng lên gần nóc nhà, đoạn giơ mũi gươm ra đón...


Mọi người kêu thất thanh, nhắm mắt lại...


Đứa nhỏ chới với rơi xuống, bị mũi gươm xóc qua ngực, ằng ặc được mấy tiếng rồi chết thẳng. Máu trong tim tràn ra, đỏ hỏn cả bàn tay tên tướng giặc. Hắn trút thây đứa nhỏ xuống đất, quay lại đưa hai nhát gươm nữa, vợ chồng lý Hậu ngã vật ra, đầu một nơi, thân một nẻo.


Tướng giặc chùi bàn tay vào áo tên quân hầu, vừa toan lại bước lên giường, bỗng nhiên hắn “tỉu” một tiếng, ngã chúi xuống chiếu, vỡ cả bình rượu. Đồng thời, một tên Cờ Đen đứng gác ở cửa kêu to lên:


- Dẩu thích khéc!


Ngoài sân, một cái bóng đen chạy vụt vào xó tối. Tướng giặc gượng dậy, rút mũi dao găm cắm trên vai, thét quân ra đuổi bắt cho kỳ được. Nhưng, lúc nhóm xong đuốc, chẳng ai thấy tăm hơi thích khách đâu nữa. Cả bọn còn đang lao xao thì một tên hầu cận của Hoàng Tử Trung đã phi ngựa vào tận sân, hô to lên rằng:


- Wàng tướng quân truyền cho Lày Sập Trưởng rút quân lên Nhụng!


- Wàng sướng cún tới Nhụng rồi?


- Và ngài ra lệnh cho Sập Trưởng ngược ngay.


- Mai đi sớm củng lợơc. Ngộ còn muốn láy them ít diều tiền pạc nửa.


- Hấy! Khôông lơợc([4])! Phải ti ngay. Pọn tàn pà con gái, pắt theo lên hầu phu nhân một thẻ!


Tướng giặc không sao được, đành thu xếp vàng bạc vào níp, sắp sửa ra đi, hắn bắt những người hàng phố phải cùng lên yên ngồi với bọn quân hầu, rồi truyền lệnh nổi lửa đốt nhà cụ Điều...


VIII


Gió to, ngọn lửa càng to. Nếp nhà gỗ ba gian hai chái lúc đó chỉ còn là một bó đuốc gần tàn. Đứng nhìn cái cảnh tàn phá đó, thầy trò cụ Điều ngơ ngẩn hồi lâu. Sau, cụ Điều hỏi:


- Thế nào, chú thấy những gì?


- Ghê gớm quá! Con tưởng sài lang cũng không độc ác được đến thế! Chẳng biết tài lợi ở đời là cái gì mà nó khiến người ta nhẫn tâm với nhau như vậy. Cái cảnh tượng vừa rồi, giờ nhắc đến, con còn thấy sởn tóc rùng mình...


(còn tiếp)


Nguồn: Gái thời loạn. Tiểu thuyết, rút từ Lan Khai tuyển tập, (hai tập, 1700 trang khổ 16 x 24 cm). Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp phát hành.







([1]) Mày có biết cái nhà ông Điều hộ ở đâu không? (Phát âm của quân Cờ Đen - TMT giải nghĩa).




([2]) Không biết! Hừ. Câu chửi tục. Này không biết! (TMT giải nghĩa).




([3]) Tiền giấu đâu? (cách phát âm của quân Cờ Đen).




([4]) Không được.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hãy trả lại tình yêu - Phạm Thanh Quang 10.09.2010
Bóc vỏ trái đất - Mã Thiện Đồng 10.09.2010
Minh bạch - Nguyễn Hồng Cẩn 09.09.2010
Đường xưa mây trắng - Nhất Hạnh - Nguyễn Lang 09.09.2010
Một ngày cho trăm năm - Nguyễn Bá Trình 08.09.2010
Nỗi oan - Vũ Mỹ Dung 08.09.2010
Cuộc đời người thợ - Lê Minh Đức 20.08.2010
Ái tình họa lang - Trương Kháng Kháng 18.08.2010
Hai mươi năm sau - A. Dumas 17.08.2010
Zorba tay chơi Hy Lạp - Nikos Kazantzakis 04.08.2010
xem thêm »