tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và
hội họa
truyện dân gian Việt Nam
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 1220072
Tiểu thuyết
06.03.2010
Lê Minh Đức
Cuộc đời người thợ

Tôi xây dựng hơn 100 dân quân, du kích xã, nhưng không có một cây súng nào để chiến đấu. Chi đội 18 do anh Xuyến chỉ huy, chi đội 20 do anh Hưng chỉ huy và đại đội anh Phạm Tấn Khương cùng bàn bạc, tìm cách đánh đoàn xe tuần tiễu (convoi) của Pháp thường ngày chạy từ Cần Thơ qua Cái Vồn, Ba Càng về thị xã Vĩnh Long thì sẽ lấy được nhiều súng và thỏa thuận với số súng lấy được sẽ trang bị hết cho xã tôi. Nhưng việc phục kích đánh xe thất bại, vì trinh sát nắm không chắc, đoàn xe tuần tiễu không đi mà là đoàn xe chở nước đá và hành khách. Khi đánh nhầm, lực lượng bộ đội bị bại lộ. Quân Pháp và ngụy từ Cần Thơ sang với lực lượng hùng mạnh đánh chúng tôi. Trận cuối cùng quân đội ta phải tổ chức đánh cầm cự để rút quân, kết quả anh Thái tự vệ của tôi bị hy sinh, sau đó giặc Pháp chiếm đóng xã Mỹ Thuận.


Chính quyền xã chúng tôi đành phải lưu vong, khi thì tá túc ở xã Hòa Tân, huyện Châu Thành - Sa Đéc. Khi thì ở xã An Khánh thuộc tỉnh Vĩnh Long. Lúc bấy giờ, tôi nghĩ đánh giặc với tay không mà không có vũ khí thì không thể đánh được, còn lừa địch để cướp được súng cũng là một điều khó khăn.


LẬP XƯỞNG CHẾ TẠO SÚNG


Trong lúc đóng tại xã Hòa Tân, gần với tiểu đội du kích của huyện Châu Thành - Sa Đéc do anh Thành chỉ huy, tôi thấy cây súng tiểu liên mitraillette sten. Tôi liền mượn xem và xin phép tháo ra vẽ lại toàn bộ các chi tiết của cây súng. Trong một ngày tôi vẽ xong, trả lại cho đội du kích của anh Thành đi chiến đấu.


Bắt đầu tôi nghiên cứu cách gia công các chi tiết của cây súng tiểu liên. Một lần khác, tôi đi công tác sang rạch Kinh Mới, tôi gặp bộ đội chủ lực là đại đội của chi đội 20 đang đóng quân tại đây do anh Lắm làm đại đội phó, tôi làm quen và xin mượn cây súng tiểu liên, tháo ra xem các chi tiết và đo đạc thì cũng giống như cây súng trước của anh Thành, tôi lắp nguyên và trả lại. Đồng chí Trần Ngọc Quảng (Mười Quảng) thay tôi làm xã đội trưởng. Chúng tôi bàn bạc phải làm súng, đồng chí Quảng không biết nghề nhưng trước kia là tiểu chủ, có xe đò và xe máy. Đồng chí hăng hái hợp tác.


Sau nhiều ngày suy nghĩ về vật liệu và phương pháp gia công từng chi tiết, làm bằng tay chưa có máy móc, tôi tin là làm được hết, chỉ còn có cái nòng súng (canon) thì chưa có cách làm. Chúng tôi xin phép huyện Trà Ôn và tỉnh Cần Thơ để làm súng. Đồng chí Bùi Hai - Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính và đồng chí Phan Văn Đại, Trưởng Công an huyện Trà Ôn ủng hộ. Nhưng hai đồng chí nói không có tiền! Các anh nghi ngại làm ra bắn nổ hay không, nếu thất bại là tốn kém, không xin đâu được tiền. Vậy chính quyền cấp giấy phép cho làm súng, tự lo liệu lấy. Khi nào làm súng kết quả, lúc đó mới công nhận là công xưởng của Nhà nước.


Tôi vạch ra phương án:


- Tôi lo kỹ thuật, rèn và sắm dụng cụ, chế tạo súng.


- Đồng chí Mười Quảng lo vật liệu và lương thực.


- Đồng chí Mười Quế (là dượng Sáu của tôi) đi Sài Gòn gia công, mướn tiện bốn cái nòng súng tiểu liên theo bản vẽ của tôi, ngụy trang là ống bơm mở vào các bộ phận của máy xay lúa. Khi đem về, tôi cắt hai đầu răng, còn lại là cái nòng súng tiểu liên.


Gia đình tôi gồm có mẹ và vợ (lúc đó chưa có con) làm cấp dưỡng, lo ăn uống tự túc, không có tiền mua cá tôm, và may áo quần cho các anh em và tôi chọn ra tập hợp được bốn người trong lực lượng tự vệ của xã là Năm Xinh, Năm Năng, Mười Cứ, Ba Chương, cùng với anh Năm Trọng thợ rèn. Cậu Tư của tôi là Trương Tân Cầm biết chữa súng từ U Minh và dượng Sáu tôi (Mười Quế) là thợ máy. Tôi và đồng chí Quảng trình bày với Ủy ban kháng chiến hành chính xã Mỹ Thuận, xin từ chức và cử người thay thế, chúng tôi đi chế tạo súng.


Ngày 01-6-1947, xưởng chúng tôi ra đời, vốn liếng chỉ có một cây thước cặp (pied à coulisse), một cây thước thau 1m (10 tấc) mà trong lúc đi kháng chiến tôi đem theo, cùng các bản vẽ của cây súng tiểu liên do tôi vẽ lại.


Một đêm, Mười Quảng và tôi trở về làng Mỹ Thuận đến Tầm Vu, vào một lò rèn của ông Dủ, trình bày việc làm súng và xin mượn của ông một cái étau chân (bàn kẹp đứng) với một chiếc xuồng chèo, sức chở 20 giạ để vận chuyển. Ông Dủ chấp nhận, vui vẻ cho mượn, ủng hộ kháng chiến. Sau này, cuối năm 1990, UBND và Công an tỉnh Vĩnh Long công nhận công lao của ông, về tận nhà ông Dủ thăm và tặng 400.000 đồng với các đồ dùng, mùng mền… để đền ơn đáp nghĩa.


Sau đó, Mười Quảng đi vận động bà con trong xã, phần lớn là các nhà giàu có mới mua sắm được giường sắt có bốn chân là ống sắt tròn đường kính trong = 36mm vừa với thân súng tiểu liên và gỡ các cây nẹp sắt của chốt khóa cửa sổ, cửa cái làm bá súng; xin sắt thép bất cứ loại gì cũng để dùng sau này.


Còn tôi cùng với anh Mười Cử ra một lò rèn gần bót cầu Cái Đôi thuộc huyện Châu Thành, Vĩnh Long để xin rèn dụng cụ, đồ nghề như: kềm, búa, đục các loại, các cây gạch lấy dấu, pointu đóng lỗ, compas đo trong và đo ngoài, compas nhọn hai đầu để lấy dấu, cần cưa sắt và một số chi tiết của súng…


Vì lò rèn gần bót nên mật thám, lính đầu đỏ (partisan) thường hay tới lui dò xét những người lạ mặt. Chủ lò rèn nhiệt tình ủng hộ kháng chiến. Anh cho tôi mượn một bễ rèn trong ba ngày, khi nào tôi rèn xong thì thôi. Anh dặn: khi lính đến hỏi, cứ để anh trả lời, tôi là người làm mướn cho anh. Không được hoảng hốt, sợ sệt là nguy hiểm.


Rèn một ngày đầu kết quả được nhiều thứ. Bọn mật thám và lính đầu đỏ đã đánh hơi, chúng hay qua lại dòm ngó. Tôi quyết định: nội ngày mai, rèn được bao nhiêu nữa thì cũng phải kết thúc. Cố hết sức, tôi đã rèn gần đủ theo yêu cầu và chiều hôm đó khi trở vào vùng giải phóng, đã có một số đồ nghề ban đầu.


Xưởng sản xuất vũ khí nghèo nàn ra đời trên con Kinh Mới Mỹ Thuận chỉ có vài nhà dân nghèo lưa thưa. Tôi ở nhờ nhà của cặp vợ chồng nông dân trẻ. Căn nhà nhỏ, lớn hơn một cái chòi, chỉ có một cái chõng tre. Vợ chồng tôi đêm ngủ dưới đất, những đêm trời mưa to, nước tràn vào, tôi đắp đất, be cửa, rải trấu và rơm, trải đệm tiếp tục ngủ. Ban ngày tôi cưa, dũa, đục với nhiều cục sắt tròn to, phải làm nhỏ cho vừa lỗ thân súng, đường kính = 36mm. Không có lưỡi khoan, tôi rèn, dũa mép đem trui cho già rồi khoan bằng cần khoan tay, không lò rèn, lưỡi khoan tôi đốt bằng con cúi (rơm bó chặt lại) khi đỏ lấy ra trui vô nước lạnh. Không có gió đá để hàn các chi tiết lắp ghép thì tôi nghiên cứu lắp ghép bằng tán đinh như cái bá súng, ổ cò với thân súng… Tôi kiên nhẫn chế tạo, mỗi ngày từ sáng sớm tinh mơ đến trời tối hẳn mới nghỉ. Suốt 15 ngày, tôi làm và lắp ráp hai thân súng. Vì bị lộ, cơ sở không được an toàn, chúng tôi chuyển xưởng về xã Mỹ Thạnh Trung, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, đóng tại nhà ông Bảy là cha của đồng chí Ba Sua (Cao Văn Sua) cán bộ Ban Kinh tài tỉnh Vĩnh Long và nhà của ông Hai Trận, người giữ vựa lúa của ông chủ đất.


Sau 20 ngày làm súng, Mười Huế từ Sài Gòn về đem theo 4 cái nòng mitraillette theo mẫu vẽ của tôi. Tư Cầm và Mười Huế tiến hành làm hai cây nữa, còn tôi thì cưa hai đầu nòng súng trả lại kích thước để tiếp tục lắp ráp hai cây cho xong.


Qua ngày thứ 25, tôi lấy dây thép talon vỏ xe hơi có đường kính 1,2 mm-1,5mm, cuốn lò xo của piston súng. Súng đã làm xong, chỉ còn bắn thử. Tôi khởi động để cho các chi tiết súng trơn và linh hoạt.


Cao Văn Sua, cán bộ Ban Kinh tài của tỉnh Vĩnh Long, là một tiểu chủ, ngày xưa có garage xe hơi, rất quan tâm theo dõi việc làm súng. Đồng chí công bố nếu chú Ba Đức làm súng mà nổ thì tôi xin tình nguyện theo chú làm học trò và hiến cái garage của tôi, chú muốn thứ gì thì ra đó lấy. Garage này ở chợ Tam Bình, lúc đó là vùng giải phóng.


Hình 3


Tôi nghe lời động viên rất phấn khởi, nhưng tôi còn nhát chưa dám bắn thử, sợ piston súng khi đạn đi, còn nó thì thụt trả lại vào mặt. Mọi người đang chờ đợi, có cả các đồng chí Ủy ban kháng chiến hành chánh huyện Trà Ôn, Công an huyện, mong việc bắn thử để xem kết quả. Đồng chí Ba Sua đòi bắn thử. Anh cầm súng do tôi trao, nhắm vào cái bông bần mà bắn. Một loạt tiếng nổ giòn giã, bông bần, lá bần bay tá lả. Niềm vui sướng tràn ngập tâm hồn tôi. Từ nhỏ tới đó, tôi chưa bao giờ hưởng được phút sung sướng vô tận này. Mọi người hoan hô, cười nói rổn rảng. Lúc đó là 5 giờ chiều, theo lệnh của đồng chí Phan Văn Đại, Trưởng Công an huyện Trà Ôn khi súng bắn thử nổ tốt thì đem về huyện ngay để xem xét, hai đồng chí công an lấy hai cây súng đem về huyện.


Hai ngày sau, hai đồng chí Công an huyện trở lại xưởng báo tin vui: Buổi sáng hôm qua, dân quân phục kích toán lính lê dương đi bắt gà của đồng bào từ Trà Ôn vào, ta bắn bằng hai cây tiểu liên mới làm, kết quả chết hai tên. Chúng bỏ chạy, ta thu được hai súng trường. Công an đề nghị xưởng hoàn chỉnh hai cây tiểu liên còn lại để nhận về chiến đấu.


Tin này được cả xưởng và cả xóm bà con mừng rỡ hoan nghênh. Chúng tôi đốt đèn làm cả đêm ngày để xong hai cây súng còn lại. Kết quả, sau 30 ngày xưởng chúng tôi làm ra bốn súng tiểu liên. Đồng chí Ba Sua dẫn tôi ra chợ Tam Bình, vào garage của mình, bảo tôi muốn lấy gì thì lấy. Nơi đây tôi lựa chọn, thu về rất nhiều vật liệu cần thiết nhất là thép, ống volant (tay lái) xe hơi để làm thân súng, kể cả các ống nước bằng sắt tráng kẽm có đường kính từ 32 đến 36. Ba Sua được Ban Kinh tài tỉnh và đồng chí Nguyễn Văn Thiệt, Thường vụ Tỉnh ủy Vĩnh Long cho phép theo học làm súng để tổ chức một xưởng sản xuất vũ khí cho tỉnh Vĩnh Long. Bấy giờ chúng tôi thuộc tổ chức của tỉnh Cần Thơ. Xưởng tên là dân quân xưởng Trà Ôn, Cần Thơ. Đồng chí Mười Quảng làm quản đốc, tôi được cử làm phó quản đốc.


Một tiểu chủ tại thị trấn Trà Ôn nghe tin trong vùng giải phóng làm được súng thì gởi giấy vào Ủy ban và Công an huyện xin hiến một chiếc máy tiện dài 2m. Chúng tôi lập tức chèo chiếc ghe lườn ra chợ Trà Ôn, lúc trời sẩm tối. Tôi tìm cách tháo rời ra từng chi tiết và cho xuống ghe xuôi theo nước lớn từ chợ Trà Ôn vào Tam Bình. Xưởng chúng tôi có vốn, có được máy tiện làm ra nhiều thứ, tiện piston, tiện nòng súng, sản xuất thêm máy công cụ gia công nhỏ.


Lúc bấy giờ, tôi có tư tưởng địa phương cục bộ, khi làm được súng thì không chịu lên huyện hay lên tỉnh mà muốn trở về xã Mỹ Thuận làm súng tiếp tục chiến đấu. Được cấp trên giải thích, về sau tôi có đề nghị ngoài giờ làm việc, các buổi chiều tối các ngày nghỉ cho tôi làm thêm súng tiểu liên để gởi về vũ trang cho tự vệ xã Mỹ Thuận. Cấp trên chấp nhận. Năm 1948, tôi làm thêm được 12 cây súng tiểu liên trang bị riêng cho xã, nhờ đó phong trào đấu tranh của xã Mỹ Thuận được tốt. Năm 1949, Mỹ Thuận đánh nhiều trận giành lại đất, đuổi được giặc, dẹp bớt được nhiều đồn bót đóng sâu trong xã.


Lại một sự việc mới


Giữa năm 1948, xưởng chúng tôi được giao về Ty Công an tỉnh Vĩnh Long quản lý. Ba Sua được cử làm phó quản đốc. Mười Quảng làm quản đốc, phụ trách chung và giao dịch; đồng chí Ba Sua làm phó quản đốc phụ trách chính trị viên, chăm lo vật tư nguyên liệu; đồng chí Ba Đức, phó quản đốc phụ trách kỹ thuật, hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo công nhân, chăm lo nội bộ, đời sống sinh hoạt.


Đồng chí Bùi Huy Sắt, Trưởng ty Công an tỉnh Vĩnh Long, phụ trách lãnh đạo đối với xưởng, sau này là đồng chí Nguyễn Văn Thiệt, Thường vụ Tỉnh ủy làm Trưởng ty Công an tỉnh lãnh đạo trực tiếp xưởng chúng tôi. Đồng chí Ba Thiệt nói với tôi:


- Công an Xung phong, Quốc vệ đội, Biệt động đội dùng tiểu liên đánh giặc thì hao nhiều đạn, vũ khí cồng kềnh khó vào nội thành. Vậy Ba Đức nghiên cứu làm ra súng lục để cấp cho ban công tác thành hoạt động.


Cuối năm 1949, trong lúc sửa chữa súng cho tỉnh, tình cờ tôi chữa một cây súng hiệu Rouleau Paris Galand có kiểu chế tạo nhỏ, nòng có khóa mở, đẩy chốt lấy rời ra cả ổ rouleau đều theo ra dễ dàng. Tôi rất thích vì chế tạo đơn giản, tôi liền vẽ lại kiểu, điều chỉnh kích thước, lắp qua được thân súng, ổ máy của Saint Etiend. Cấu tạo ổ máy Rouleau Saint Etiend chế tạo đơn giản, từ đó tôi sản xuất thành công một kiểu súng lục cho tỉnh Vĩnh Long, về sau là tỉnh Vĩnh Trà.


Hình 4


Tôi tổ chức lại dây chuyền sản xuất. Tôi là phó quản đốc, kiêm tổ trưởng rèn. Ở khâu đầu, tôi rèn một tuần tất cả các chi tiết của súng chuyển cho các nhóm gia công từng chi tiết làm đủ trong một tháng. Ba tuần còn lại, tôi sang làm tổ trưởng nguội lắp ráp, trực tiếp lắp súng và chỉnh bắn thử. Tốt thì qua giai đoạn cuối là ram trui màu xanh sậm. Nhờ cách này, mỗi tháng sản xuất được từ 12-15 cây.


Quan điểm của tôi là vũ khí giết giặc, phải sản xuất nhiều, rẻ, bắn đảm bảo nổ 100%, không bị sai lệch. Quan trọng nhất là không bị lép đạn, đạn không nổ. Bắn mà không nổ, lập tức chiến sỹ mình bị lộ, có thể hy sinh. Ta lấy đạn của Tây tại chiến trường như đạn Mas, đạn Mitraillette, đạn Thompson 12 ly, đạn Sacm… bắn lại Tây, chắc chắn hơn đạn Recharge của ta. Chiến sĩ của ta là vốn quý, phải bảo đảm cây súng chuẩn xác cao cho các đồng chí sử dụng. Tôi đề ra yêu cầu sản xuất súng bảo đảm bắn tốt 200 viên, khi cần, phải đưa về xưởng để sửa chữa. Không cầu kỳ hình thức đẹp như cây súng ngoại quốc. Làm thủ công, thiếu máy móc, thiết bị để gia công, ta không bì nổi. Nếu phải làm cây súng thật đẹp như súng ngoại quốc thì mỗi tháng xưởng chỉ làm được một hoặc hai tháng mới được một cây!


Quan điểm này của tôi lúc đó bị nhiều người lãnh đạo không vừa ý. Chỉ có tỉnh Vĩnh Long là chấp nhận. Vì vậy tôi tổ chức làm theo dây chuyền mới, lấy thanh niên, tự vệ, du kích vào xưởng đào tạo, chỉ làm một chi tiết hoặc hai chi tiết súng trong một ngày.


Tôi là thợ giỏi về rèn, hàn, nguội cho nên tôi đảm bảo rèn một tuần các chi tiết đủ sản xuất lắp ráp 29-30 cây súng Rouleau với nguyên liệu là thanh ray xe lửa sử dụng hết từ yếm đến núm trên. Tôi giao chi tiết khó cho một người làm mỗi ngày một chi tiết. Các chi tiết dễ thì một người làm một ngày nhiều chi tiết để khớp với số lượng 29-30 cây tháng.


Tôi sang tổ lắp ráp cùng vài anh em nữa, mỗi ngày phải làm xong một cây để bắn thử, hoàn chỉnh, đưa qua ram và trui.


Mỗi tháng nghỉ hai ngày, làm việc 28 hoặc 29 ngày. Một việc khác là yêu cầu nòng súng phải có rãnh xoắn ốc để bắn đạn vút đi nhanh, mạnh, chính xác và khi vào người, đầu đạn quậy to, mau chết.


Từ việc tôi được đồng chí Mười Quảng thưởng cho tôi một cây viết Caolo (Pháp). Tôi vặn thì ngòi chạy ra, tôi viết xong vặn lại thì ngòi chạy vào, làm tôi suy nghĩ ăn cắp kiểu này để làm một máy bào rãnh xoắn trong nòng súng và việc này cũng thành công, cây Rouleau tôi làm ra tuy không đẹp nhưng đạt yêu cầu, bắn nổ 100% làm ra nhanh và nhiều, mỗi tháng làm xong, bó vào các bịch như bó ốc len, chở từ khu 9 vượt qua sông Hậu Giang (Cần Thơ) từ Vàm Cải Trâm qua Lục Sỹ Thành, vượt qua các nẻo đường sông có đồn bót đem về cấp cho Công an tỉnh Vĩnh Trà.


Như vậy trong năm 1951-1952, vì khó khăn về kinh tế, tôi tổ chức anh em vừa làm 20 công ruộng, vừa sản xuất vũ khí cung cấp thường xuyên cho tỉnh, vừa tự túc lương thực để nuôi nhau.


Cũng chính vì những năm đói kém, khó khăn nhiều xưởng tan rã, anh em bỏ xưởng về nhà làm ăn, như xưởng Rạch Giá, xưởng Cần Thơ, do vậy mà cấp trên điều động xưởng tôi về lập Công an xưởng 24 trong hệ thống lãnh đạo của Công an xưởng phân Liên khu miền Tây gồm có: Công an xưởng 22, Công an xưởng 23, Công an xưởng 24 để sản xuất súng lục và làm đạn cấp cho các tỉnh miền Tây. Công an xưởng 24 đóng tại xã Quách Văn Phẩm, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Bạc Liêu. Lúc đó tôi được giao nhiệm vụ làm quản đốc, đồng chí Nguyễn Mạnh Tiên là phó quản đốc và một đồng chí phó nữa là Nguyễn Văn Sang. Kiểu súng sản xuất ra là kiểu SCA (Sở Công an Nam Bộ), kiểu như Mauser, bắn đạn súng Mas mỗi tháng sản xuất được từ 6 đến 8 cây.


(còn tiếp)


Nguồn: Cuộc đời người thợ. Tự truyện của Anh hùng Lao động Lê Minh Đức. NXB Văn học sắp phát hành.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hãy trả lại tình yêu - Phạm Thanh Quang 10.09.2010
Bóc vỏ trái đất - Mã Thiện Đồng 10.09.2010
Minh bạch - Nguyễn Hồng Cẩn 09.09.2010
Đường xưa mây trắng - Nhất Hạnh - Nguyễn Lang 09.09.2010
Một ngày cho trăm năm - Nguyễn Bá Trình 08.09.2010
Nỗi oan - Vũ Mỹ Dung 08.09.2010
Cuộc đời người thợ - Lê Minh Đức 20.08.2010
Ái tình họa lang - Trương Kháng Kháng 18.08.2010
Hai mươi năm sau - A. Dumas 17.08.2010
Zorba tay chơi Hy Lạp - Nikos Kazantzakis 04.08.2010
xem thêm »