tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và
hội họa
truyện dân gian Việt Nam
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 1219698
Tiểu thuyết
06.03.2010
Lại Văn Long
Thạch đế

 Chân Lý vẫn say sưa bày tỏ quan điểm của mình, Thạch Đế tỏ ra sốt ruột, gắt:


 - Ta không cần giải thích dông dài, ta cần kim chỉ nam, cần một con đường!


 - Chân Lý cười nhếch mép:


 - Bệ hạ có Lý Thư Quán với cả vạn học giả trong tay, sao không dùng đến cho bài bản?


 - Ừ nhỉ! Tể tướng đâu, mở ngay hội nghị toàn quốc về lý luận!


 Lý Thư Quán có tuổi đời tương đương với thời gian Thạch Đế dựng nghiệp. Đó là tòa nhà to lớn, kiến trúc như pháp đình. Thạch Đế rất thích công trình này. Ngay cả trong lúc chiến tranh ác liệt hay khi dân mất mùa đói kém, nó vẫn được thường xuyên tu bổ và hiện ra dưới mắt mọi người thật hoành tráng, uy nghi. Suốt mấy mươi năm tiếp theo đó, lớp lớp võ tướng quan lại đã được đào tạo tại đây trước khi tung ra chiến trường hoặc bổ về đứng đầu các châu, quận, làng, xã. Khi Thạch Đế đánh thắng vương triều hữu ngạn sông Thập Thất và các đạo binh xâm lược, Lý Thư Quán càng nổi tiếng và có lúc tự nhận mình là “nhà vô địch bách chiến bách thắng”. Sau khi kết thúc chiến tranh, nhiều phân tích gia nước ngoài và học giả Rồng lưu vong đã cho rằng Lý Thư Quán đã góp phần quan trọng nhất để tạo ra xã hội bán quân sự rất thích hợp cho động viên toàn lực ra mặt trận. Tiềm lực của Thạch Đế đã tăng lên bội phần nhờ vào phương thức chuyển lý luận vào quần chúng để tạo ra sức mạnh vật chất. Thạch Đế cũng từng tự hào nói với thế giới rằng: “Khi lòng yêu nước kết hợp được với vũ khí tư tưởng sắc bén thì không còn đại pháo, phi tiễn tối tân nào có thể đánh bại được”!


 Lúc đầu Lý Thư Quán chỉ có một cuốn sách mẹ dạy về thế giới quan và phương pháp luận. Đây là cuốn sách Thạch Đế đã gặp gỡ như định mệnh lúc trong lao tù của thời “một cổ ba tròng”. Sách dịch từ ngôn ngữ ngoài biên giới Rồng. Tác giả là hai nhà bác học uyên bác và thông minh đến mức tổng hợp được tri thức, tư tưởng nhân loại từ cổ chí kim vào vài trăm trang sách. Nhị vị tác giả là Các Mã tiên sinh và An Vỹ tiên sinh trong Mẫu thư này còn đủ sức phê phán các học thuyết khác quan điểm và làm thế giới phải sững sờ khi chỉ ra vai trò lịch sử của giai tầng bị bóc lột, áp bức nếu họ đoàn kết lại. Mẫu thư hay sách mẹ đó từng làm rung chuyển dẫn đến sụp đổ các vương triều ở nhiều đại quốc hùng cường và chia đôi thế giới thành hai cực đối lập, cân bằng sức mạnh. Giới nhà giàu ở nhiều đại quốc từng run sợ trước những câu văn chất chứa lửa và thép của Mẫu thư, gọi đó là “bóng ma hãi hùng”! Từ sách mẹ đó, muôn triệu sách con, sách cháu, sách chắt đã ra đời bằng hàng chục ngôn ngữ.


 Mẫu thư mang tri thức không đơn giản, dịch giả ở mỗi nước tự giải thích theo ý riêng của từng vương triều. Vì thế có thêm khái niệm “phù hợp với đặc điểm và lịch sử của từng dân tộc”. Nhiều khi chỉ một câu văn trong sách, đủ để trở thành tranh luận quốc tế hoặc dẫn đến căng thẳng, đối đầu giữa hai quốc gia anh em.


 Trong lịch sử nhân loại, chưa có nhà tư tưởng nào xây dựng được lý thuyết dẫn đến hình thành hàng chục quốc gia hiện thực. Xây dựng được một lực lượng vật chất có sức mạnh bằng một nửa thế giới và được một nửa thế giới tôn vinh trong lúc nửa còn lại hãi sợ! Chỉ có Các Mã tiên sinh và An Mã tiên sinh mới làm được điều còn hơn là vĩ đại như thế!


 Cuốn sách mẹ được đưa về Lý Thư Quán của xứ Rồng cũng sinh ra những chuyện ly kỳ. Khi nước Rồng bị ngoại bang và thời thế chia hai bằng con sông Thập Thất, sách ở lại phía tả ngạn. Khi đất nước thống nhất, sách trở thành kim chỉ nam cho cả dân tộc. Nhóm người Rồng thua trận lưu vong ở nước ngoài luôn la lối rằng chính cuốn sách mẹ này đã dẫn đến huynh đệ tương tàn cùng những sai lầm trong quá khứ. Họ tìm mọi cách hủy hoại danh tiếng của sách. Họ cứ nói mãi như vậy suốt hàng chục năm và khoái trá khi Đại Quốc Đông Liên - xã hội hiện thực vĩ đại của lý thuyết từ sách mẹ không còn tồn tại. Mỗi ngày, từ những thành phố ở bờ Tây đại dương xa vạn dặm, họ khề khà nhắm rượu, căng tai dõi mắt nhìn về xứ Rồng chờ đợi Thạch Đế tan rã theo cách của Đại quốc Đông Liên. Song điều đó đã không xảy ra khi Thạch Đế biết xoay chuyển tình hình và mang lại đời sống khấm khá, thoải mái hơn cho dân xứ Rồng. Thạch Đế còn dùng ngoại giao đa phương, đi tắt đón đầu để tự thoát khỏi thế cô lập và xuất hiện trước thế giới với dáng dấp ngày càng sung mãn, năng động, bề thế. Hình ảnh một Thạch Đế khắc khổ với giáp trụ chiến tranh chạy vạy xin các nước anh em từng cây cầu, trường học, nhà máy… đã trở thành quá khứ. Nhiều nước anh em từng viện trợ chí tình cho Thạch Đế bây giờ phải ngưỡng mộ và học theo đường lối đổi mới của xứ Rồng. Song với quan điểm hiện tại, Thạch Đế vẫn cho rằng tư tưởng có tính liên tục và kế thừa. Một dân tộc quen bước theo lý thuyết dẫn đường có thể sẽ bị hụt hẫng khi không còn nhận thức luận. Nhiều mô hình đang được các đại quốc chào mời, vấn đề là sáng suốt để chọn được điều thích ứng. Đó cũng chính là phần cốt lõi trong diễn văn khai mạc có tính chất chỉ đạo, định hướng của Thạch Đế ở hội nghị tại Lý Thư Quán.


Thạch Đế đã kể trong hội nghị rằng, ngài và hoàng hậu đã sang thăm nước Nhật Thiên Đại Á. Đây là quốc gia phát triển phương thức sản xuất hàng hóa và chủ nghĩa tư bản sớm nhất Đông phương. Ở xứ Rồng, vô vàn kinh sách khẳng định giai cấp làm mướn ở những nước tư bản bị bóc lột thậm tệ và chủ nghĩa tư bản đang giãy chết. Nhưng ở đây, Thạch Đế và hoàng hậu phải kinh ngạc vì nhiều điều. Có một ngày, từ quốc thự của Nhật Thiên Đế, Thạch Đế và hoàng hậu cải trang thành khách du lịch đi thăm thú xứ bạn. Họ tìm đến khu nhà mà giới chủ xây cho những người làm mướn ở. Chân Lý làm thông dịch cho Hoàng Đế nên giao tiếp không trở ngại vì khác biệt ngôn ngữ. Mỗi gia đình được một căn hộ khang trang, rộng rãi, tiện nghi trong khu tập thể này. Mùa đông ở đây rất lạnh, băng tuyết phủ dày, nhà nào cũng có hệ thống sưởi ấm. Thạch Đế đang thăm căn hộ của Sô Ku - một người làm mướn trong hãng cơ khí Chính Xác, thì chột dạ vì lạnh và thức ăn lạ của xứ người. Sô Ku dẫn ngài vào nhà vệ sinh sạch sẽ và ngài kinh ngạc với cái bồn cầu được sưởi nóng và có nước ấm tự phun ra rửa cho người sử dụng khi “xong việc”. Sau đó Sô Ku tự đánh một cỗ xe sang trọng mà ở xứ Rồng, chỉ đại gia hay quan đầu tỉnh mới được sử dụng. Xe đến xưởng thợ với hoàng đế và hoàng hậu ở một nước xa lạ, nhưng Sô Ku cứ ngỡ đó là hai du khách. Nhà xưởng gồm nhiều tầng rộng mênh mông, ngăn nắp, sạch sẽ và yên tĩnh. Từ những hành lang lát gạch bóng loáng, nhìn qua các tấm kiếng dày, vô số người máy đang miệt mài làm việc trên các dây chuyền lắp ráp đồng hồ. Cả nhà xưởng sản xuất ra ngồn ngộn sản phẩm như thế, chỉ có vài công nhân điều hành bằng các nút bấm. Riêng khâu đóng gói sản phẩm là còn cần khá nhiều nhân lực. Thạch Đế đã thấy cả những người da đen, da trắng, da đỏ… từ nhiều quốc gia cùng đến đây làm mướn. Cứ mỗi một canh giờ, một tiếng chuông vang lên, mọi người trong nhà xưởng tự động đứng lên làm các động tác thể dục giãn gân cốt trong vòng vài phút, sau đó lại tiếp tục làm việc. Trong lúc giải lao giữa buổi, những người nghiện thuốc lá đều tập trung vào một phòng nhỏ để hút. Ở đó chỉ có vài chiếc ghế nên những người đến sau phải đứng hút. Ông chủ nhà máy cũng có mặt trong phòng này và lặng lẽ đứng hút thuốc. Ông không yêu cầu và cũng chẳng có công nhân nào nhường ghế hoặc có thái độ xun xoe, bợ đỡ ông. Từ chủ đến thợ, ai cũng tự do, thản nhiên như nhau trong một trật tự đã được quy định. Có lẽ ở đây không có khái niệm trù dập, lễ độ với bề trên… như ở xứ sở của Thạch Đế.


 Sô Ku lại đánh xe đưa Thạch Đế và hoàng hậu đi ăn trưa. Họ đến một nhà hàng không quá sang trọng. Một ông mập ú, ăn mặc bảnh bao cùng hai người hầu thắt nơ trên cổ ra đón họ. Cả ba đứng nghiêm, gập đầu gần đụng đất để tỏ thái độ biết ơn đối với những vị khách bước vào nhà hàng. Sô Ku nói:


 - Ông chủ đấy, ông ta là người giàu có và thuê đến cả ngàn lao động. Trước đây tôi cũng làm mướn cho ông ta. Ông ta vẫn nhận ra tôi nên đã hỏi thăm.


 Thạch Đế kinh ngạc:


 - Thế sao… ông ta lại… bái cậu, như ở xứ tôi người ta bái hoàng đế vậy?


 Sô Ku cười bạnh khuôn mặt ửng hồng vì lạnh:


 - Tôi là người làm mướn, nhưng đến đây để tiêu xài. Tôi mang lợi nhuận đến cho ông ta, dĩ nhiên phải được kính trọng!


 Vì chứng kiến quá nhiều điều kinh ngạc nên Thạch Đế buột miệng hỏi Sô Ku:


 - Sao ta nghe nói những người làm mướn như cậu ở các nước tư bản thế này bị bóc lột, đàn áp dã man lắm? Bị coi như hàng hóa không còn nhân phẩm, không còn gì ngoài sức lao động để bán?


 Sô Ku cười phá lên:


 - Tôi có đọc cuốn sách đó của Các Mã tiên sinh và An Vỹ tiên sinh. Hơn một trăm năm trước thì đúng, còn bây giờ phải xem lại. Dù sao cũng cám ơn nhị vị ấy đã quan tâm đến giai tầng làm mướn và viết một cuốn sách để giới chủ đọc xong phải nể sợ chúng tôi và tôn trọng chúng tôi hơn. Một ngày nào đó, nếu tôi tài giỏi và gặp may mắn để thành một ông chủ, có lẽ tôi cũng sợ cuốn sách ấy như những nhà giàu khác đang sợ nó! Cả ngài cũng sẽ như vậy, đó là quy luật của muôn đời!


 Đêm đó, sau khi trở về quốc thự dành cho quốc khách của nước bạn, Thạch Đế nói với Chân Lý:


 - Những người làm mướn ở xứ ta được ca ngợi ghê lắm, được gọi là giai tầng tiên phong mang sứ mệnh lịch sử giải phóng cả nhân loại. Thế mà sao họ khổ quá! Họ phải chạy chọt mới có được chỗ làm với đồng lương eo hẹp chỉ đủ thuê trọ trong các khu ổ chuột, phải co rúm khi gặp các ông chủ thay mặt triều đình quản lý nhà xưởng, doanh nghiệp. Còn ở đây, những kẻ bóc lột đáng ghét phải cúi đầu và lo cho người bị bóc lột đến từng hơi ấm lúc… đại tiện. Chủ nghĩa tư bản cũng đang giàu thêm từng ngày qua các hoạt động sản xuất, kinh doanh phục vụ con nguời như Thượng đế. Nó có gặp khủng hoảng - thậm chí là theo chu kỳ, nhưng nó đâu có phản tiến bộ hay giãy chết như ta vẫn dạy cho nhau?!


 Chân Lý cũng thở dài:


 - Mấy hôm nay, đi trên đường phố nước bạn, thiếp đều thấy những khẩu hiệu: “Các bạn trẻ, các bạn không may mắn khi sinh ra trong một đất nước thua trận, nghèo tài nguyên, khốn khó trăm bề. Các bạn hãy nỗ lực nếu muốn tồn tại”.


 Trong khi sách giáo khoa ở xứ ta lại dạy rằng: “Dân Rồng là gương mẫu của thời đại, chúng ta là anh hùng kiệt xuất.Trên lãnh thổ bao la của ta là rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu”. Chúng ta đã dạy cho trẻ con tính tự cao, tự mãn và biết bao đứa trẻ đã lớn lên trong nghèo khổ, lười biếng, vô kỷ luật, bởi những ảo tưởng sai lầm như thế! Vài chục năm nữa, chúng ta vẫn chưa thể bằng họ bây giờ. Vậy mà người của quốc gia này lúc nào cũng tự đặt mình trong thế “cố gắng hay là chết!”. Họ cứ đại nhảy vọt với tính khiêm nhường âm thầm ấy. Họ không ồn ào lên gân, không tự xưng là “nhà vô địch” hay “sứ mạng cao cả”. Họ chỉ thích làm cho cả thế giới phải ngưỡng mộ hàng hóa kết tinh ý chí, trí tuệ của dân tộc mình! Đây là điều chúng ta cần học tập họ…


Sau hội nghị Lý Thư Quán, Chân Lý lại hiến kế:


 - Hay là bệ hạ thử mời trí thức Rồng ở hải ngoại về?


 - Ừm…! Nhưng ta chỉ gặp riêng thôi, không tổ chức thành hội nghị được!


 Trong hơn trăm vạn kiều bào Rồng bước qua cây cầu vồng ba mươi sáu sắc của Thạch Đế để về cố hương đón tết dân tộc, cơ quan tham mưu đã chọn mời mười vị trí thức lớn dự tiệc trà Xuân cùng Thạch Đế. Một vị đầu hói, ánh mắt nghiêm nghị trên khuôn mặt khắc khổ xin phát biểu trước:


 Tôi vốn là bộ tướng trung thành của ngài. Ngày ngài và đoàn quân chiến thắng ca khúc khải hoàn, tôi cũng được giải phóng khỏi lao tù của kẻ địch. Tôi chưa kịp vui mừng thì đã nhận ra ánh mắt nghi kỵ của đồng đội. Mười năm tiếp theo, tôi phải làm hàng trăm giải trình về những ngày tháng trong tay kẻ thù vì bị nghi ngờ là đã phản bội. Suốt thời gian dằng dặc đó, tôi đau đớn còn hơn những ngày bị địch tra tấn chết đi sống lại. Không đủ kiên nhẫn để chờ làm rõ, minh oan, tôi đã ra đi để trở thành kẻ thực sự phản bội. Tôi vượt biên như những kẻ bại trận với nỗi đau dằng xé. Vợ và con trai tôi đã bỏ thây trên biển. Tôi trôi dạt đến miền đất lạ và giấu kín thân phận cùng quá khứ buồn bã. Bây giờ tôi là chủ của thương hiệu Rồng Cười về thực phẩm chế biến dành cho xứ lạnh. Thương hiệu đó được định giá hơn hai tỷ ngoại tệ. Hôm nay tôi về để tặng cho nơi tôi sinh ra một học viện, một y viện, mười cây cầu… Tôi thật may mắn khi đã được kể cho Ngài những oan khuất của tôi. Đó là điều tôi mơ ước suốt hơn ba mươi năm và đến nay mới thực hiện được!


 Nguyên Phó Vương của vương triều bại trận, là người lên diễn đàn tiếp theo, ông nói:


- Có mấy gã ngày xưa là cấp dưới của tôi vẫn còn bảo thủ lắm. Chúng chậm hiểu, chậm tiến nên đến giờ vẫn nhìn ngài bằng con mắt hận thù. Khi tôi đi qua cây cầu vồng của ngài, chúng chửi bới tôi thậm tệ, còn vẽ tranh châm biếm tôi dán khắp nơi. Chúng càng tức điên khi thấy tôi về đây cưỡi ngựa săn bắn và chơi cầu gậy cùng với các đại quan của ngài. Đám “xã xệ” đó chỉ còn vài gã già khú, đang hưởng trợ cấp hoặc được con cháu nuôi nên nhàn rỗi sinh chuyện. Họ hoài tiếc danh phận từ quá khứ, cay đắng vì bị đồng minh lớn phụ bạc, họ không thể hòa hợp, hòa giải. Ngay anh em tôi ở đây cũng phải mất một phần tư thế kỷ mới nguôi sầu, nguôi hận, tự lột xác về nhận thức. Chúng tôi cảm ơn ngài – người anh em một thời bên kia chiến tuyến, đã mang lại hòa bình cho dân tộc, thống nhất được đất nước. Tôi chỉ mong ngài hãy cố kiên trì với mục tiêu hòa hợp hòa giải để thế hệ con cháu chúng ta phải thực sự là anh em một mẹ, con chung một nhà…


 Một thiền sư đã ở tuổi tám mươi, nổi tiếng khắp thế giới với tư cách là một nhà văn có tác phẩm sâu sắc về tư tưởng Phật giáo, đồng thời là người sáng lập một trường phái tu học có mấy chục ngàn học trò đủ màu da, quốc tịch cũng có mặt. Nhà sư nhấp một ngụm trà thơm, gật gù:


- Bốn mươi hai năm trước, tôi bị chính cựu phó vương vừa phát biểu đó trục xuất ra nước ngoài vì bất đồng chính kiến với giai cấp cầm quyền ở hữu ngạn sông Thập Thất. Là người tu hành dĩ nhiên lòng tôi không nuôi oán hận. Tôi đã đi khắp thế giới, làm bầu bạn với cả những chính khách và nguyên thủ đầy quyền lực, nhưng cuối cùng đã nhận ra, mình chỉ có một Đức Phật, một quê hương. Bây giờ trong tim tôi có cả hai. Hôm nay lại hạnh ngộ với người đã đẩy tôi ra khỏi quê hương, cả hai ta lại cùng là khách quý của ông vua một thời không thích cả tôi lẫn vương triều mà phó vương phụng sự! Chỉ có Đức Phật từ bi, chỉ có mẹ Tổ Rồng thiêng liêng mới có thể sếp đặt được duyên cơ kỳ diệu như vậy. Tôi đã thấy cả một vận hội cho đạo pháp và dân tộc của mình!


 Thiền sư nói xong, đưa tay áo cà sa lên thấm nước mắt. Không khí tiệc trà lắng xuống trong niềm xúc động của những người tham dự. Đã sắp đến giờ giao thừa, mùi trầm hương được đốt trong chiếc lư lớn hình trống đồng càng làm cho mọi người thấy gần gũi nhau hơn, dù bây giờ mười người ngồi trước mặt Thạch Đế đã mang mười quốc tịch khác nhau. Trong tâm trạng xúc động và tự hào dân tộc, Thạch Đế nói với họ:


 - Hỡi những người anh em cùng mẹ tổ của ta, kể từ giờ phút đáng nhớ này, các bạn sẽ có lại quốc tịch Rồng dù đã là công dân của bất cứ quốc gia nào! Các bạn đều là người nhà của ta bất kể quá khứ và lý do phải bỏ nước ra đi. Ta cảm ơn những ý kiến đóng góp của quý vị và cam kết rằng những điều hợp lý lập tức sẽ thành chính sách mới của ta với kiều bào. Hãy quên đi quá khứ buồn đau của dân tộc, để dù sống ở chân trời góc biển nào, các bạn vẫn có chỗ dựa là tổ quốc, vẫn tự hào là con cháu của mẹ tổ Rồng. Các bạn hãy cùng ta và hơn tám trăm năm mươi vạn đồng bào mình, làm hết sức để rạng danh tổ quốc Rồng!


 Một nhạc sỹ tài hoa mái đầu bạc trắng, hỏi Thạch Đế:


 - Trong sự nghiệp của tôi, có hơn một nửa sáng tác nói xấu ngài. Khi được gọi tới đây, tôi đã chuẩn bị nghe ngài quở trách. Nhưng tôi lo nhất là với những đứa con tinh thần của tôi, ngài có khai tử chúng không?


 Thạch Đế cười lớn:


 - “Con” của ông thì chỉ ông mới “xử” được chúng. Nếu là tác phẩm được nhân dân yêu mến thì dù vua có muốn “giết”, chúng vẫn “sống” khỏe re trong lòng nhân dân, được nhân dân truyền giữ. Nhưng nếu chúng quá tệ, dù ta có nâng đỡ ông, cũng chẳng ai đoái hoài đến. Ông hãy lấy “giấy phép” từ nhân dân! Với âm nhạc, nghệ thuật, vua như ta cũng chỉ là một khán, thính giả không hơn không kém. Chỉ những hôn quân mới tham vọng định đoạt nghệ thuật!


 Nhạc sỹ già cắc cớ hỏi:


 - Hai mươi hai năm trước, lúc bình minh đẹp trời, bệ hạ đã nói hai câu rền vang thế giới. Câu thứ nhất: “Hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”. Câu thứ hai “cởi trói cho văn nghệ sĩ”. Xin mạo muội hỏi bệ hạ: Trước ngày phát ngôn của ngài, văn nghệ sĩ trong nước bị trói à?


Thạch Đế vẫn giữ sắc mặt hồng hào và nụ cười nhân hậu. Ngài buông một câu khéo léo:


- Chuyện đó đã thành quá khứ, không phù hợp với không khí ấm áp, trăm năm có một này! Hơn nữa văn nghệ sĩ thời nào cũng vậy – luôn thích chất vấn triều đình hơn là ca ngợi vua chúa!


 Mọi người có mặt cười ầm lên, chờ cho cảm xúc của cả hội trường lắng xuống, Thạch Đế bất ngờ cất tiếng hát: -“Về quê hương ta cất khúc hoan ca, mừng năm mới nhà ta tụ đoàn!” quý vị đã biết bài hát này là của một nhạc sỹ từng coi ta như kẻ thù không đội trời chung. Nay ta thấy lời ca phù hợp, cho phép tái phổ biến và ta đã hát trước. Quý vị hiểu ý nghĩa của điều này chứ?


 Thạch Đế hài lòng với buổi tọa đàm cùng những trí thức Rồng Kiều. Nhưng cái ngài muốn vẫn chưa có. Ngài chuẩn bị một kế hoạch mà ngay cả Chân Lý cũng không hề hay biết!


(còn tiếp)


Nguồn: Thạch đế. Tiểu thuyết của Lại Văn Long. NXB Văn học, 2009.


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hãy trả lại tình yêu - Phạm Thanh Quang 10.09.2010
Bóc vỏ trái đất - Mã Thiện Đồng 10.09.2010
Minh bạch - Nguyễn Hồng Cẩn 09.09.2010
Đường xưa mây trắng - Nhất Hạnh - Nguyễn Lang 09.09.2010
Một ngày cho trăm năm - Nguyễn Bá Trình 08.09.2010
Nỗi oan - Vũ Mỹ Dung 08.09.2010
Cuộc đời người thợ - Lê Minh Đức 20.08.2010
Ái tình họa lang - Trương Kháng Kháng 18.08.2010
Hai mươi năm sau - A. Dumas 17.08.2010
Zorba tay chơi Hy Lạp - Nikos Kazantzakis 04.08.2010
xem thêm »