tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và
hội họa
truyện dân gian Việt Nam
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 1203210
Tiểu thuyết
08.03.2010
Lê Minh Đức
Cuộc đời người thợ

Đầu năm 1953, tôi cùng đồng chí Nguyễn Mạnh Tiên và một số anh em công nhân của Công an xưởng 24 được điều động về củng cố xưởng Công an tỉnh Cần Thơ đang ngừng sản xuất, còn một số anh em khác điều động bổ sung qua xưởng Công an tỉnh Sóc Trăng.


Qua một tháng củng cố, đi vận động các anh em thợ cũ trở lại, chúng tôi bắt đầu làm ra súng cũng theo kiểu SCA Nam Bộ, mỗi tháng làm ra từ 4 cây rồi lên 6 và 8 cây, cũng cấp cho Công an tỉnh Cần Thơ. Xưởng chúng tôi đóng tại kênh Chín Cò, rạch Bà Ai - Cai Giảng, huyện Hồng Dân.


Tháng 8-1954, sau Hiệp định Genève, xưởng được nhập với dân quân xưởng tỉnh Cần Thơ, với Binh công xưởng 145 thuộc Quân giới miền Tây Nam Bộ và chuẩn bị tập kết ra Bắc. Lãnh đạo cho tôi tập kết để ra xây dựng miền Bắc vì tôi có nghề nghiệp khá. Ngày 17-12-1954, tôi xuống tàu cùng với anh em công nhân trong chi đội 2 (mà tôi làm Chi đội trưởng) mang theo dụng cụ, máy móc của Quân giới miền Tây tại bến Chắc Băng, chuyến cuối cùng điểm tập kết nơi đây để ra Bắc.


Từ biệt quê hương nghèo khó nhưng vô cùng yêu dấu, từ biệt những tháng năm tuổi thơ hẩm hiu, từ biệt dòng sông thơ ấu với bao buồn vui đói khổ, từ biệt bà con đồng chí hết lòng vì kháng chiến, tôi ra Bắc với niềm tin ngây thơ là sau hai năm sẽ hiệp thương, thống nhất Tổ quốc. Nào có ngờ đâu, đúng hai chục năm sau tôi mới trở về…


Vợ chồng tôi có năm con. Má tôi cùng ba đứa con đầu đi tập kết trước. Vợ tôi cùng con trai Lê Minh Hải, và một đứa còn trong bụng đi sau, theo tàu Liên Xô. Tôi tập kết với dụng cụ máy móc vật tư làm súng đạn, cùng với một chi đội 80 người. Tôi là chi đội trưởng chi đội 2, xuống tàu chuyến chót tại điểm Chắc Băng ngày 17-12-1954. Tàu cập Sầm Sơn ngày 19-12-1954. Ra tới Thanh Hóa, sau khi bàn giao những máy móc thiết bị vật tư của Quân giới Nam Bộ, tôi được điều động ra Hà Nội. Vợ tôi ra trước tôi, ở lại Thanh Hóa và sanh con tại Hoằng Hóa, ngày 15-01-1955.


Đầu năm 1950, tại tỉnh Vĩnh Long, giặc đánh phá và càn quét liên tục. Để bảo vệ xưởng sản xuất vũ khí, Tỉnh ủy Vĩnh Long lệnh cho chúng tôi dời xưởng qua sông Hậu. Chúng tôi đến ngã 5 Kinh Xáng - Phước Long của tỉnh Sóc Trăng, dựng nhà xưởng ở gần rạch Xẻo Chích để tiếp tục làm súng. Chuyến di dời vô cùng nguy hiểm. Nếu chọn con đường từ Vĩnh Long qua Sóc Trăng đi ban đêm thì không an toàn, vì tàu tuần tiễu của địch tuần tra liên tục. Đêm tối, không thấy rõ Vàm Cái Trâm để đưa đoàn ghe 6 chiếc, 3 ghe lườn và 3 ghe tam bản chèo bằng tay. Ban đêm, tàu tuần tiễu của địch, loại tàu cá chạy rất nhanh, rọi đèn pha dễ phát hiện chúng tôi. Phải trinh sát thăm dò suốt 1 tuần lễ để nắm quy luật hoạt động của tàu địch trên sông cả ngày lẫn đêm.


Chúng tôi buộc phải chọn phương án đi ban ngày. Mỗi điểm qua sông chúng tôi cho anh em trèo lên cây cao và phất cờ đỏ để tiến tới. Phải qua sông từ sau 12 giờ trưa. Xuất phát từ Cù lao Lục Sĩ Thành có trạm gác bên kia sông Hậu Giang, tại Vàm Cái Trâm tỉnh Sóc Trăng có trạm gác trên ngọn cây để phất cờ tín hiệu. Khi nhìn thấy hai đầu sông không có tàu tuần tiễu địch thì phất cờ ra hiệu, để chèo ghe qua sông. Đoạn sông ở đó rộng ngang gần 1,5 km.


Bắt đầu từ 1 giờ trưa, khi bên Vàm Cái Trâm phất cờ, thì tôi cho ghe đầu xuất phát, khi ghe vào Vàm Cái Trâm an toàn thì trinh sát xem xét và cho ghe thứ 2, rồi đến ghe thứ 3; cứ tiếp tục tới ghe tôi đi sau chót là 5 giờ chiều. Đi nhằm lúc con nước lớn nên qua đến Vàm Cái Trâm, nước rút vô rất mạnh. Tất cả chúng tôi vào rạch hơn một cây số thì thấm mệt và đói, đậu lại theo bờ sông có lá dừa nước núp ghe và nấu cơm chiều. Xong, trời tối, đi đến gần sáng chúng tôi đậu lại nghỉ, chờ tối tiếp tục vượt qua bốt cầu Trắng, Sóc Trăng. Trời mờ tối chúng tôi cho đoàn ghe xuất phát đến cầu Trắng khoảng 8 giờ tối. Xuồng dẫn đường là đồng chí Trần Ngọc Quảng, quản đốc.


Tại cầu Trắng vượt qua lộ và qua sông rất nguy hiểm, bọn lính ngụy hay phục kích. Từ 2 giờ chiều ta cho trinh sát dò la và canh gác để không có phục kích thì cho đoàn ghe qua.


Chiếc xuồng chèo dẫn đường qua lọt bên kia lộ, đi vào cánh ruộng lúa đậu chờ. Từng chiếc lần lượt tiến qua. Trong đó có chiếc ghe lườn chở những lu để làm mắm ăn cho xưởng. Nước lớn, ghe nổi cao, không qua cầu Trắng được. Bất ngờ nước chảy xiết quá mạnh, không ngừng ghe kịp nên bị bể hai cái lu. Các ghe sau rút kinh nghiệm, nhấn nước cho ghe khẳm xuống mới qua cầu được, các lu bị bể bôm bốp, rốp rốp thế mà bọn lính ở bốt cầu Trắng không hay! Chúng tôi băng qua Quốc lộ 4 an toàn.


Qua bốt cầu Trắng, bên kia là đồng ruộng mênh mông, ban đêm không thấy đường, không dò được lòng sông, phải mất gần 2 giờ sáng mới tìm gặp lại được đoàn ghe, đi tuốt qua Long Mỹ, thuộc Trà Bang Nhỏ. Máy bay Pháp rà tìm kiếm nhưng không phát hiện được. Tối, chúng tôi vào rạch Xéo Chích thuộc ngã năm Kinh Xáng- Phước Long, dừng lại trong cánh vườn rậm rạp. Chúng tôi cất mấy cái nhà lá nhỏ cho xưởng phân tán để tiếp tục làm súng. Địa phận này thuộc xã Thuận Hưng, huyện Long Mỹ, bên kia là gần rạch Xẻo Chích ngã năm Kinh Xáng - Phước Long thuộc tỉnh Sóc Trăng.


Lúc đó là tháng 2-1950, tình cảm nhớ quê hương Vĩnh Long thôi thúc tôi phải nghĩ ra cách làm súng nhanh và nhiều cấp cho tỉnh, tạo điều kiện cho Quốc vệ đội của tỉnh có vũ khí vào nội thành chiến đấu.


Tôi nghiên cứu sản xuất theo dây chuyền chuyên môn hóa của phương pháp Taylor. Chúng tôi hăng hái làm việc liên tục không biết mệt mỏi. Từ mờ sáng là làm việc không nghỉ trưa, ăn cơm rồi làm tiếp đến 5 giờ chiều. Miệt vườn, 5 giờ là trời sẩm tối, chúng tôi mới nghỉ việc. Tối về bắt mồi ra ruộng cắm câu, ban ngày dùng ghe tam bản nhận chìm theo mé dừa nước, trưa ra giật dây, ghe nổi lên, cá rô biển mê ăn, ra không kịp bị chúng tôi bắt. Chúng tôi còn lấy sợi dây mây dóc dài độ 5-6m to bằng ngón tay, cách xa chừng 3 tấc cột một lưỡi câu mồi thịt, thường là được cá lăng hoặc cua đinh. Chiều đi làm về kéo dây lên, có cá mắc câu là bắt. Nhờ vậy mà có cá ăn hằng ngày. Tháng 6, tháng 7, cá đi đẻ nên bắt được rất ít. Tôi cùng ba anh em vào trong đồng ruộng để chao tép. Dùng một cái rổ to bằng cái thúng 40 lít nước, lội xuống ruộng có nhiều rong, dùng cái rổ phân nửa chìm sâu dưới nước, đảo như vậy tép bị xoay theo dòng xoáy tập trung sát đáy rổ. Lâu lâu giở rổ lựa cỏ bỏ, còn tép thì lượm bỏ vào cái thúng. Chao chừng hơn một giờ, bắt được hai tô tép. Ở dưới nước khi động nước thì con đỉa lội ra bám vào chân, tay để hút máu. Tội nghiệp các anh em ở Sài Gòn chưa thấy đỉa bao giờ, khi bị nó đeo cắn thì lấy tay bắt mãi không được. Mình nó mềm và dai, lại có nhớt trơn, lúc đầu 1 con, 2 con, rồi quá nhiều con, anh em sợ quá la bài hải. Tôi ngừng chao tép đến bảo đừng sợ. Tôi nhổ nước miếng đầy hai tay, úp vào chân và tuốt theo cẳng chân. Đỉa bị nước miếng mặn buông cắn và rớt xuống ruộng. Anh em sợ quá, tôi bảo lên xuồng ngồi để tôi làm. Vậy mà đỉa cũng bò lên be xuồng để kiếm thịt người hút máu. Ngày 1-5-1951 chúng tôi làm một con heo quay to để ăn mừng ngày Quốc tế Lao động, và mừng chiến thắng tổ chức dây chuyền làm súng thành công.


Sau này, hòa bình gặp lại anh em người Sài Gòn đi làm súng. Họ nói với tôi:


- Lúc đó, nếu không có anh Ba thì tôi không chịu nổi, vừa cực khổ vừa quá sợ đỉa, phải trở về thành thôi.


Trong cuộc kháng chiến, những người ở thành thị chưa quen ruộng đồng với muỗi mòng, đỉa, vắt, rắn, rít, chưa quen lội sông băng ruộng sình lầy. Nếu không gan lì, kiên trì thì không chịu nổi gian khổ để kháng chiến.


Ngày mùng một Tết năm 1952, chúng tôi chuyển quân về đập Bàu Dừa, xã Quách Văn Khâm, kinh Cái Ngay huyện Ngọc Hiển tỉnh Bạc Liêu, thành lập công an xưởng phân liên khu miền Tây Nam Bộ; gồm 3 xưởng CAX22, CAX23 và CAX24. Tôi làm quản đốc, đồng chí Nguyễn Mạnh Tiên làm phó quản đốc CAX24. Chúng tôi củng cố lại chi bộ, sắp xếp lại sản xuất và làm súng theo kiểu SCA Nam Bộ, mỗi tháng đạt được 5-6 cây.


Khi còn đóng quân tại Xẻo Chích, vợ chồng tôi làm 4 công rưỡi lúa cho gia đình. Sáng mờ sớm lúc 5 giờ, ba anh nông dân giúp tôi phát cỏ trong ba ngày là xong, rồi gieo mạ, tháng sau thì làm đất, cào cỏ, nhổ mạ và cấy. Trước khi dời xưởng xuống Bàu Dừa, Quách Văn Phẩm, tôi gặt về được 45 giạ, chở theo về Bàu Dừa. Gia đình tôi có lúa đủ ăn, còn nuôi 3 con heo. Sau, một con đổi 100 giạ lúa, 1 con đổi 3 heo con để nuôi tiếp, 1 con bán lấy tiền mua vải, vật dùng trong gia đình. Năm 1952, xa tỉnh Vĩnh Long, không được cung cấp nên xưởng chúng tôi phải làm 20 công ruộng để nuôi quân.


Tôi cử ba người biết làm ruộng giỏi, qua cánh ruộng cách xưởng 5 cây số cất nhà, sắm phảng, cù nèo, lưỡi hái, vật dụng bắt cá để ăn. Đó là anh Chưởng, anh Viễn, anh Tín, mỗi ngày phát được ba công đất, chỉ trong 10 ngày là đã phát xong 20 công, không có trâu cày! Gần đến mùa cấy lúa, ngày chủ nhật chúng tôi kêu gọi anh em cả xưởng qua ruộng dọn đất, cào cỏ, nhổ mạ và cấy. Nhờ Trời, sau mùa nước đến mùa khô cuối năm 1952 chúng tôi gặt được 200 giạ, đóng góp cho Nhà nước và nhận lại lúa ăn hàng tháng.


Ngoài việc tổ trưởng rèn, tôi còn được phân công kiếm cá, thức ăn cho tổ. Xứ này cá lóc quá nhiều, lâu năm cá lớn, từ 1,2 kg đến 1,8 kg. Đó là ở sông, trong bưng. Còn trên ruộng cá cũng rất nhiều. Từ mờ sáng, tôi đi nhấp cá (câu phượt) ở trên ruộng từ 5 giờ sáng đến 6giờ30 cũng kiếm được 3-4 kg. Có hôm câu trúng đến 5 kg đủ cho tổ ăn trong ngày. Còn câu cá to ở rạch thì chờ khuya, sương xuống lạnh, tôi vạch cỏ có lỗ trống để thả mồi câu. Chỗ nào mà tôi nghe cá lóc lớn thở hụp hụp (cá lóc có râu) là tôi thả mồi nhái xuống vài lần là cá táp liền. Giật ngay là gãy cần câu hoặc đứt dây, cá tha đi mất. Vì thế, nghe cá táp ụp thì chùng dây, cá quay đầu tha mồi lôi đi tôi gạt nhẹ cần câu, lưỡi mắc vào má cá, cá đau giẫy giụa, thì thả theo nó, một lúc kéo nhẹ nhẹ đau quá, cá chịu không còn giẫy giụa nữa thì kéo gần vào bờ và từ từ nhấc rất nhanh lên bờ. Thế mới bắt được cá to. Muốn bắt được cá, tôi phải uốn lưỡi câu theo kiểu lưỡi câu rê, tôi bẻ mũi có ngạnh hơi nghiêng, tôi trui dẻo, không giòn để không bị gãy. Thép trui dẻo vừa cứng chắc lại vừa đau tê buốt, lưỡi câu làm đúng kiểu, cá bị lưỡi câu móc vào má đau, không bao giờ đứt tuột nên cá mắc câu, một lát là xuôi xị không giẫy giụa nữa. Nghề rèn té ra giúp tôi quá nhiều! Cuối năm 1952 tôi được điều động cùng một số anh em thợ về củng cố CAX tỉnh Cần Thơ. Xưởng này bị ngừng sản xuất chỉ còn có ba anh ở lại giữ xưởng là anh Tư Chiêu, anh Hai Tần và anh Đảng. Tôi đi tiền trạm, về nhận công tác với Tỉnh ủy và sở Công an tỉnh Cần Thơ vào đầu năm 1953.


Đến tháng 3-1953, tôi cùng 12 công nhân về tổ chức lại CA xưởng Cần Thơ, đưa vào sản xuất vũ khí. Sau khi tìm hiểu tình hình cán bộ công nhân của xưởng, tôi thống kê lại những anh em bỏ xưởng về quê làm ruộng. Chúng tôi đi đến tận nơi trao đổi cùng gia đình họ, động viên thuyết phục họ trở lại xưởng tiếp tục công tác. Có một số anh em trở lại xưởng và 2 tháng sau, chúng tôi đã sản xuất được súng, SCA của sở CA Nam Bộ. Ở đây, mỗi tháng làm ra được 6-7 cây súng.


Chúng tôi tìm chỗ để xây dựng nhà xưởng sản xuất. Vì khó khăn, chúng tôi phải về Cái Chanh bé ở tạm. Đây là rừng, rắn độc nhiều, việc bắt cá ăn cũng khó, mỗi đêm đi soi chỉ được vài con cá rô. Cực quá tôi phải qua kinh Rạch Bà Ai Cai Giản tìm nhà dân đóng xưởng. Từ ngày đầu kháng chiến, bà con họ sợ xưởng lộ điểm bị máy bay địch hay ném bom. Nhiều nhà không cho mượn chỗ ở.


Tôi nhờ có cây guita đờn vọng cổ, làm quen với dân địa phương. Bác Sáu thích nghe đờn vọng cổ mà cho chúng tôi ở nhờ, một phần đóng làm văn phòng, một phần để tổ thợ nguội làm súng. Dần dần, bà con lân cận trở nên thân quen, ủng hộ chúng tôi từ cá tôm bắt được hằng ngày, còn đào rẫy khoai lang, khoai mì nấu cho chúng tôi ăn trưa thay cơm.


Chúng tôi đóng trong kinh Chín Cò thuộc Bà Ai Cai Giản, huyện Hồng Dân. Bà còn trong xóm có đám tiệc, cúng bái, thường gọi tôi tới đờn. Có người biết ca vọng cổ, tôi đờn giúp họ vui, giải sầu. Nhờ đó bà con nơi đó rất thương mến chúng tôi, từ chỗ không dám chứa chúng tôi trong nhà đến thương yêu không cho chúng tôi dời đi nơi khác! Chúng tôi không phải cất nhà xưởng. Suốt hai năm làm súng, đến tháng 9-1954, chúng tôi tập trung về kinh 1, sông Cái Tàu để nhập về ngành quân giới Khu 9, đi tập kết.


Xưởng còn tổ chức đội bóng đá chân đất. Khi đóng ở địa phương nào, sau mùa gặt hái, ngoài đồng chỉ còn có gốc rạ, thì chúng tôi đo đúng kích thước một sân banh, cắm cọc bốn góc, dựng cọc tre làm hai khung thành, ở giữa đặt hai đống đất làm ranh giới. Chúng tôi đạp cây rạ nằm sát xuống ruộng lúc đầu đá banh vướng chân nhưng sau lâu ngày gốc rạ bung lên. Chúng tôi làm việc từ hơn 6 giờ sáng liên tục đến 4 giờ chiều là dắt nhau ra sân banh đá. Khi có tiếng máy bay thì chạy vào lùm cây. Đóng xưởng ở nơi nào là vào mùa khô thì chúng tôi tổ chức sân banh. Anh em ở địa phương tại ấp, xã thấy vậy họ cũng tham gia với chúng tôi, chia ra hai bên, một bên là xưởng, một bên là xã cùng đá rất vui.


Nhờ đó, anh em thoát ly đi kháng chiến bớt nỗi nhớ nhà, ngày thì làm súng, chiều về đá banh tới chập tối, tối sau khi ăn cơm còn tập văn nghệ để liên hoan với địa phương, giúp vui với bà con xóm làng. Tôi đá banh rất khá, khi đi học rồi vào lính sân bay Biên Hòa, tôi là một thành viên của đội bóng aviation Biên Hòa, đá giày. Tôi mang số 7 chạy góc mặt, tôi chạy nhanh lắm, nên anh em thọc sâu theo đường biên là tôi vọt lên dắt bóng xuống tận mép đường ngang, đá tém vào, đúng điểm có người mình lao xuống. Đóng xưởng ở Tam Bình, có bữa nghỉ, chúng tôi lội qua đồng ruộng đến gần bót Ba Càng làng Song Phú để đá, đường xa chừng 4 cây số, mười hai giờ trưa đi đá xong về đến xưởng khoảng 6 hoặc 7 giờ tối đói bụng, mệt mà vui.


Ở rạch Bà Ai Cai Giản, kinh Chín Cò xã Vĩnh Lộc, có bữa đá xong cho xưởng rồi địa phương mượn tôi đá cho xã nhà. Họ thường kêu tôi là anh Ba nông dân, vì tôi cởi trần mặc quần đùi và đá banh khá nên họ mến.


Anh em trong xưởng chỉ có nhiệm vụ làm ra súng. Xưởng chúng tôi nhiều lần bị ném bom, bị máy bay bắn phá, bị các đồn bắn súng cối bắn đại bác, nhưng đều né tránh được. Có lần xưởng ở Trường Tín, xã Tân Thới Hòa, tôi và đồng chí Oanh đi qua cầu khỉ cao để đến một phân xưởng đóng phân tán, bị đại bác bắn từ bót Tam Bình vào. Đạn nổ, phát đầu chúng tôi đang ở trên cao giữa cầu, tôi hô nhảy xuống sông. Xuống sông tôi lội, biết đạn đã qua khỏi đầu, tôi lội trở lại bờ bên kia, nên an toàn. Đồng chí Oanh không kinh nghiệm nên lội về bên kia bờ và chạy tới. Đạn đại bác nổ liên tiếp trên đọt dừa, khói đạn pháo bám đầy mặt. Đồng chí Oanh gặp tôi sau trận pháo, hú vía.


Tôi còn tổ chức lớp học bình dân học vụ cho anh em chưa biết chữ. Tôi xóa mù chữ cho họ. Tôi còn dạy anh em đã biết đọc biết viết thông thạo, làm thạo bốn phép toán cộng, trừ, nhân, chia. Tôi chuyển sang dạy toán đại số học, học tắt, tiến tới làm được toán tam giác lượng. Anh Dương khi mới vào xưởng là một nông dân, vừa học thợ tiện vừa học chữ đến tam giác lượng. Tôi hướng dẫn với phép toán này xếp được việc tiện răng, tiện hình côn trong và ngoài theo kích thước. Dương học được cả. Anh em kêu Dương là Dương pitago (công thức pitago). Anh Dương tiện được đủ thứ như ổ đạn rouleau và các chi tiết khác của súng.


Cũng trong năm 1952, chúng tôi nuôi heo cho xưởng, bán lấy tiền mua vải cho anh chị em mỗi người một bộ áo bà ba đen. Má tôi và vợ tôi phải tập trung nhiều ngày may gấp để cho anh em có mặc, anh em nào cũng mong được may sớm để mặc, cuộc sống kháng chiến cực mà rất vui!


TẬP KẾT RA BẮC


Tập kết ra Bắc, tất cả anh em trong đoàn đi nhận nhiệm vụ mới, còn tôi, Ban Tổ chức cử vào đoàn cán bộ đi tiếp quản thành phố Hải Phòng. Lúc đó Trung ương nghiên cứu lý lịch biết tôi có tay nghề làm thợ, nên chuyển về Tổng Công đoàn Việt Nam. Tổng Công đoàn hỏi tôi còn làm thợ được không, tôi nói tôi làm được, vì vào quân giới tuy là lãnh đạo nhưng tôi vừa làm quản đốc, vừa làm tổ trưởng Tổ rèn, kiêm luôn tổ trưởng Tổ lắp ráp súng…


Tôi được giao nhiệm vụ về xưởng làm thợ là tôi mừng lắm. Lúc tôi được đưa về làm thợ hàn hơi ở Xí nghiệp sửa chữa đầu máy xe lửa Hà Nội, ban lãnh đạo không biết tay nghề tôi, xếp lương tôi 29,5đ, lương thợ thấp nhất. Anh Huỳnh Văn Tốt, thợ nguội trong Công an xưởng của tôi cùng về đây, được xếp 32đ, cao hơn lương của tôi. Anh gặp tôi, anh nói anh xấu hổ quá, vì lương anh cao hơn lương tôi. Việc này tôi không có ý kiến gì. Tôi không thích bon chen. Về sau tôi làm tổ trưởng nguội, sửa chữa máy bơm gió (hãm ET6), do một anh chuyên gia Trung Quốc tên Tống hướng dẫn. Tống chỉ một, tôi biết mười. Những chi tiết của máy bơm gió, cần rèn, hàn thì tôi tự làm. Lúc đó, máy xe lửa phải sửa chữa mau để ra vận chuyển, nên tôi tự đi rèn, có cái tự đi hàn, mà không qua các bộ phận rèn, hàn. Làm phiếu chuyển qua bộ phận đó có khi cả ngày họ chưa rờ tới. Có những việc cần tính toán, tôi áp dụng đại số học (Algebre) tính rất nhanh. Anh Tống Trung Quốc khâm phục, nói tay nghề của tôi giỏi hơn anh. Anh hỏi tôi học nghề hồi nào mà giỏi nhiều nghề như vậy. Tôi nói tôi học nghề hồi tôi 15 tuổi. Tống nói anh học nghề ở tôi chớ tôi không phải học ở anh. Anh nói tôi tính toán giỏi và mau hơn anh.


Trước khi đoàn chuyên gia Trung Quốc về nước, có gặp lãnh đạo Tổng cục đường sắt báo cáo làm xong nhiệm vụ hướng dẫn tay nghề cho công nhân sửa chữa đầu máy xe lửa Hà Nội. Ông Tổng cục trưởng hỏi ông trưởng đoàn chuyên gia về tay nghề của thợ Việt Nam. Trưởng đoàn Trung Quốc giới thiệu: đồng chí Lê Minh Đức là thợ giỏi nhiều mặt, cần bồi dưỡng để đồng chí Đức làm cán bộ lãnh đạo của xí nghiệp sửa chữa đầu máy xe lửa!


(còn tiếp)


Nguồn: Cuộc đời người thợ. Tự truyện của Anh hùng Lao động Lê Minh Đức. NXB Văn học sắp phát hành.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Minh bạch - Nguyễn Hồng Cẩn 06.09.2010
Đường xưa mây trắng - Nhất Hạnh - Nguyễn Lang 06.09.2010
Một ngày cho trăm năm - Nguyễn Bá Trình 04.09.2010
Bóc vỏ trái đất - Mã Thiện Đồng 04.09.2010
Nỗi oan - Vũ Mỹ Dung 04.09.2010
Hãy trả lại tình yêu - Phạm Thanh Quang 03.09.2010
Cuộc đời người thợ - Lê Minh Đức 20.08.2010
Ái tình họa lang - Trương Kháng Kháng 18.08.2010
Hai mươi năm sau - A. Dumas 17.08.2010
Zorba tay chơi Hy Lạp - Nikos Kazantzakis 04.08.2010
xem thêm »