II. ĐIÊU KHẮC
Trong nền mỹ thuật cổ của ta, kiến trúc và điêu khắc liên hệ chặt chẽ với nhau. Điêu khắc làm cho những bộ phận kiến trúc trong ngôi nhà như trổ phù, kèo bảy, đầu dư, câu đầu... có hình dáng đẹp đẽ; còn kiến trúc là chỗ dựa tốt cho điêu khắc phát huy sự sáng tạo của người thợ. Bởi thế, trước kia những nhà điêu khắc cũng thường là nhà kiến trúc thiết kế ngôi nhà.
1. Điêu khắc thời Lý - Trần
Theo Nguyễn Phi Hoành[1] thì nghệ thuật cổ của ta còn đến nay, đại bộ phận là nghệ thuật Phật giáo. Đặc biệt dưới thời Lý – Trần, Phật giáo được chú ý phát triển mạnh, rất nhiều chùa tháp được xây dựng và trang trí đẹp đẽ. Vậy trong mục điêu khắc này, trước tiên chúng ta nên bàn đến việc điêu khắc tượng trong các chùa. Việc điêu khắc nhóm tượng Phật nói riêng và các nhóm tượng khác nói chung đều bị các công thức tôn giáo quy định chặt chẽ như các giáo điều. Nên các tượng Phật từ tư thế ngồi "kiết già", "tịnh tọa", "nhập định" đến những nét mặt mũi, tay chân, quần áo... dù là Thích Ca, A Di Dà, Tam Thế, Tam Thân đều hao hao giống nhau. Hơn nữa làm tượng là để thờ, giá trị nghệ thuật bị coi là thứ yếu, nên tượng Phật đẹp là một ngẫu nhiên ít có. Tuy nhiên, các vị Phật như Thích Ca và Quan Âm có nhiều cách thể hiện, cho nên sự quy định công thức trong đường nét chính không ngăn cản đầu óc sáng tạo của các nghệ sĩ. Loại tượng mà các nghệ sĩ ít bị công thức gò bó nhất là tượng La Hán, Tôn Giả, Kim Cương.
Trong chùa có có nhóm tượng chân dung, là loại nhân vật có thực. Những tượng chân dung cổ còn đến nay hầu hết là những nhân vật liên quan đến nhà chùa, nên với nhóm tượng này, người nghệ sĩ cũng làm theo một số công thức như đối với tượng thờ, cũng bị gò bó như tượng Phật, nhưng gương mặt thì có thể có nhiều điểm đặc biệt.
Điêu khắc trang trí là một phần rất quan trọng trong một ngôi chùa, và chính nhờ nó ta có thể xác định được niên đại của tác phẩm. Những đồ án căn bản thời Lý - Trần khác với thời Hậu Lê và tất cả đều khác với thời Nguyễn. Theo thời gian và cường độ của sự tiếp xúc với văn hóa Chămpa hay Trung Quốc mà dấu vết của những nền văn hóa này trong các họa tiết trang trí nhạt hay đậm. Nhìn chung, nghệ sỹ thời Lý - Trần đã phối hợp được ảnh hưởng ngoại lai với vốn dân tộc cổ truyền từ thời Đông Sơn để tạo ra một phong cách độc đáo, xây dựng cơ sở cho nền mỹ thuật dân tộc. Các nghệ nhân thời Lý đã sáng tạo ra những đồ án đặc sắc như vân mây, hoa, lá và con rồng là một sản phẩm độc đáo nhất của thời này. Con rồng thời Lý như một con rắn dài, mình không vảy to, uốn làm nhiều khúc, đầu không có sừng và cũng không rõ hình, thắt hình miệng túi. Đồ án trang trí rồng này rất phổ biến như trong lá đề, trong cánh hoa sen, ở bệ tượng, trong cánh cửa đền chùa, trong nhiều vật bằng gỗ, bằng đá hay đất nung. Con rồng thời Trần thì có đầu to hơn, râu tóc rõ hơn, vảy nổi hơn, và đôi khi có vảy trên lưng.
Điêu khắc đá thời Lý – Trần đáng kể nhất có pho tượng tròn A Di Dà đặt ở chùa Phật Tích. Pho tượng này cao 1.85m, ngồi toà sen trên bệ bát giác có nhiều bậc trang trí với hoa văn phổ biến thời Lý. Tượng Phật A Di Đà này rất gần với những tượng Phật thời Đường, cùng kiểu thon dài, cổ bé, y phục như bó sát vào thân thành những nếp sóng song song mềm mại. Ngoài tượng A Di Đà, thời Lý còn có tượng Kim Cương đã gãy mất đầu và tay; còn một loại tượng tròn khác không to, còn tương đối nguyên vẹn, cũng được tìm thấy ở chùa Phật Tích là hai tượng thần thoại đầu người mình chim, một thể hiện gảy đàn, một thể hiện đánh trống cơm. ảnh hưởng của Chăm là rõ ràng, nhưng tinh thần thể hiện lại rất Việt. Về tượng đá tròn thời Lý, Trần, Hồ chúng ta có thể kể những tượng thú ở chùa Phật Tích, Phổ Minh, Thiên Phúc, Quang Nghiêm... như rồng, hổ, voi, ngựa, nghê...
Nét độc đáo nhất của điêu khắc Lý – Trần là những bức chạm nổi ở những chân cột, đầu kèo, thành bậc thang, chân tháp... Chân cột đá ở chùa Phật Tích là một tác phẩm được chạm trổ tiêu biểu của thời Lý. Chân cột hình vuông, bốn mặt đều có chạm nổi. Trên mỗi mặt, ta thấy chính giữa là cây bồ đề, mỗi bên có 5 người đang múa và tấu nhạc. Sự chú trọng đến hình khối, cách bố cục, lối trang trí trang phục làm cho ta phải nghĩ đến tượng vũ nữ Trà Kiệu của Chămpa. Nhưng trong một số chân cột, có đồ án rồng thắt miệng túi thời Lý. Tác phẩm này là sự phối hợp những nguồn ảnh hưởng khác nhau rất hài hòa, tự nhiên. Hình chạm nổi của đời Trần đến nay không còn nhiều, nhưng có những bức chạm gỗ đẹp nguyên vẹn tập trung ở chùa Thái Lạc, đó là bức Tiên tấu nhạc và Tiên nữ dâng hoa. Một tác phẩm chạm nổi nữa của điêu khắc Trần được nhiều người biết đến là bốn cánh cửa gỗ lim chạm rồng của chùa Phổ Minh. Rồng của cánh cửa chùa Phổ Minh gần giống rồng thời Lý: mình dài, vẩy bé, đầu không to, chưa có sừng và lông gáy. Hình rồng được bố cục khéo léo trong cánh cửa, đầu từ dưới vươn lên, đuôi uốn khúc thành nhiều vòng cung như tất cả rồng Lý - Trần.
2. Điêu khắc thời Lê sơ
Theo Nguyễn Phi Hoành, "những di tích điêu khắc thời Lê sơ còn ở trình độ bình thường, không có gì đặc biệt"[2]. Trong thời Lê sơ, Phật giáo đã lui về làng
xã, không còn được triều đình quan tâm, Nho giáo chiếm ngôi độc tôn. Ngoài ba pho tượng đá chùa Ngọc Khám (Bắc Ninh), đến nay, hình ảnh điêu khắc Phật giáo thời Lê sơ rất mờ nhạt. Thay vào đó là nền điêu khắc lăng mộ của các vua Lê ở Lam Sơn (Thanh Hóa). Tám lăng vua Lê và hai bà hoàng hậu đều theo hình thức của lăng vua Lê Thái Tổ được làm vào năm 1433, mặt bằng hình vuông, chính giữa là đường thần đạo dẫn đến mộ phần ở đáy lăng, hai bên có hai dãy tượng chầu gồm quan hầu, lân, tê giác, ngựa. Bên ngoài lăng là nhà bia. Các lăng khác đều tương tự, tuy các con vật chầu có chút ít thay đổi.
3. Điêu khắc thời Mạc, Trịnh, Tây Sơn
Có thể nói đây là thời kỳ đất nước kém ổn định nhất, chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên. Nhưng nhà Mạc thay thế nhà Lê sơ từ 1527 đến 1677, với một chính sách cai trị phóng khoáng hơn, đã tạo được dấu ấn rõ nét của mình trong lịch sử điêu khắc Việt Nam không chỉ trong thời kỳ nhà Mạc cai trị mà còn cả thời kì rất lâu về sau nữa. Chiến tranh loạn lạc, nhân tâm náo loạn, Phật giáo đã được phục hưng lại như một cứu cánh tinh thần. Thế kỷ XVII – XVIII cũng là giai đoạn phát đạt nhất của văn hóa nghệ thuật. Nhiều tượng tròn và phù điêu của những thế kỷ này có thể đem so sánh với tác phẩm đẹp của các nước. Trong điêu khắc Phật giáo, nổi bật nhất là tượng Phật Bà Quan Âm nghìn mắt, nghìn tay ở chùa Bút Tháp. Đây là pho tượng đẹp nhất trong số tượng Quan Âm cổ của Việt Nam. Điểm đặc sắc nhất của pho tượng này là giữ được vẻ đẹp tự nhiên, không có gì là nghịch mắt, dù cho bản chất của nó rất kỳ quái. Nguyễn Phi Hoành đã nhận ra rằng: "Ba mặt lớn ở dưới là mặt Phật vào loại đẹp nhất của nghệ thuật tôn giáo Việt Nam. Bốn bàn tay để phía trước rất mềm mại tự nhiên mà không rơi vào khuyết điểm mềm yếu như một số tượng khác. Bố cục chung và động tác của những bàn tay lớn rất thoải mái, chứng tỏ trình độ cao của nghệ sỹ trong việc giải quyết một hình thể khó khăn như tượng này"([3]).
Trong loại tượng Phật thì những tượng La Hán và Tôn Giả là loại tác phẩm có nhiều sáng tạo nhất của nghệ thuật cổ Việt Nam cùng một số tượng La Hán và Tôn Giả ở các chùa Tây Phương, Bút Tháp, chùa Mía... thuộc loại đẹp nhất của điêu khắc nước ta. Một số tượng thuộc nhóm tượng này có thể được lấy từ nguyên mẫu trong thực tế, mang những nét rất thân quen của người Việt Nam: mặt bẹt, mắt nhỏ, môi mỏng và hơi xếch hai mép ngoài, mũi tẹt, gò má cao... (tượng Ra-hu-la, chùa Tây Phương) hay mũi tẹt, miệng gồ, hai bên miệng hơi dăn dúm (tượng Thị Kính, chùa Bút Tháp). Một nhóm tượng cần chú ý đến nữa trong thời kỳ này là tượng chân dung. Tuy là tượng chân dung nhưng nó không thể hiện được con người thật trong tư thế bình thường mà là con người lý tưởng với dáng điệu, trang phục theo nghi lễ, cho nên không được tự nhiên, thiếu sức sống. Những chân dung như tượng Hòa thượng Minh Hạnh ở Trạch Lâm, Hà Trung (Thanh Hóa), tượng đá nhà sư chùa Trấn Quốc (Hà Nội), tượng công chúa Trịnh Ngọc Tú (cũng ở Trạch Lâm), tượng Hoàng hậu Diệu Viên ở chùa Bút Tháp; tượng Lê Thánh Tông ở Mạt Sơn... là tiêu biểu nhất cho nhóm tượng chân dung thời kỳ này. Điêu khắc đình làng như các đình Phù Lão, Chu Quyến, Thổ Tang, Liên Hiệp, Hương Lộc... mang đến một nguồn sinh khí mới với nét chạm tự do, cấu trúc đồ sộ như nghệ thuật baroque. Cá tính và phong cách cá nhân chìm lẫn trong các hình tượng, nhưng lại đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện một cách lý thú nhiều truyền thuyết dân gian.
4. Điêu khắc thời Nguyễn
Đến thời Nguyễn, điêu khắc phong kiến Nguyễn nói riêng và nghệ thuật phong kiến Nguyễn nói chung có sa sút do nhiều nguyên nhân khác nhau, mà đáng chú ý nhất là nguyên nhân thuộc về chính sách phản động của cung đình đối với các nghề thủ công, với nghệ thuật. Điêu khắc phong kiến Nguyễn nổi bật nhất là điêu khắc lăng mộ, nhưng nó cũng nghèo nàn về ngôn ngữ và cứng nhắc về quy phạm. Tượng quan hầu, lính hầu, voi và ngựa nghiêm trang hai bên thần đạo, kích thước gần như nguyên mẫu nhưng rất thiếu sinh khí. Nhưng trong quần chúng lao động thì điêu khắc Phật giáo tiếp tục phát triển với một tinh thần chung của xã hội phong kiến cuối mùa, tượng thì to ra nhưng vẻ sinh động thì giảm thiểu. Tác phẩm Quan Âm 112 tay ở chùa Tây Phương, tượng Phật chùa Bà Đá, chùa Hồng Phúc... là những ánh sáng lóe lên cuối cùng khi một thời đại mới bắt đầu. Năm 1925, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ra đời, điêu khắc Việt Nam có bước ngoặt mới.
Để kết thúc phần này, xin được nói đôi nét về điêu khắc đình làng Việt. Điêu khắc đình làng Việt thực sự là một di sản nghệ thuật bất hủ đáng tự hào mà ông cha ta để lại. Trong suốt 4 thế kỷ (XVI – XIX), ngôi đình là sản phẩm thuần khiết gắn bó với văn hóa làng, hội tụ biểu tượng cao độ về đời sống vật chất và tinh thần của làng. Giá trị bất hủ của nó nằm ở thành tựu kiến trúc và điêu khắc Việt Nam, ở đó đã kế thừa và phát triển cao, độc đáo nghệ thuật điêu khắc truyền thống. Những ngôi đình này, tuỳ theo từng thời đại mà mức độ chạm khắc có khác nhau kỹ thuật khi chạm nông, lúc chạm nổi, kênh, bong, lộng... nhưng tất cả đều thể hiện tài nghệ của các nghệ nhân xưa: vừa giỏi kiến trúc, vừa đầy tài hoa chạm khắc. Điêu khắc đình làng là sự tập trung và phát huy tột bậc các kỹ thuật chạm khắc gỗ Việt Nam. Đặc biệt, sự tự do trong việc chọn và đưa các đề tài vào nội dung chạm khắc đã làm cho không những tài năng của các nghệ nhân xưa được tự do bộc lộ mà các bức chạm khắc, phù điêu đó càng trở lên sống động vì nó gắn liền với cuộc sống lao động và sinh họat của ông cha ta.
5. Điêu khắc của các dân tộc thiểu số
Với tộc người thiểu số ở Việt Nam, nhìn chung điêu khắc ít phát triển, trừ nền điêu khắc phong phú của người Chăm và điêu khắc tượng nhà mồ của một số dân tộc ở Tây Nguyên, điêu khắc "khau cút" ở nhà người Thái.
Điêu khắc Trường Sơn - Tây Nguyên([4]) có thể chia làm hai loại: loại tượng trang trí ở các ngôi nhà mồ và loại điêu khắc cầu thang và nhà rông (có thể còn là một số nhà thường). Loại tượng trang trí ở nhà có thể xếp làm 3 lớp là: thế giới sinh thành con người (có giao phối, có bào thai trong bụng mẹ...). Con người thuở nguyên sơ, phô bày trong dáng khoả thân, những bộ phận sinh dục (bộ phận để duy trì nòi giống) được cường điệu mạnh mẽ trong những nét đẽo thô ráp nhưng rất gây ấn tượng. Bên cạnh đó còn có những tượng người ngồi ôm mặt trong dáng rất trầm tư, nhiều khi là đau khổ, gợi lên rất nhiều điều về cuộc sống hiện thực, có vui, có buồn, có sinh thành, có suy tàn... Nhóm thứ hai là những con vật gần gũi với con người như voi, chó, trâu, bò... Nhóm thứ ba là những sinh họat cộng đồng như săn bắn. Những tượng này thường được đơn giản hóa đến cao độ chứ không được làm cẩn thận như tượng trang trí nhà ở. Điều mà họa sĩ Trần Văn Cẩn phải thán phục là công cụ chế tác các tượng mồ không có gì khác ngoài chiếc rìu và hầu như người đàn ông nào trong buôn làng cũng có thể làm công việc điêu khắc này được. Còn những tượng đầu cầu thang lên nhà và hình trang trí kèo cột thường là tác phẩm hiện thực hình người, động vật có quan hệ mật thiết với đời sống hằng ngày của chủ nhân. Hình người cầm dao mác, hình đôi bầu vú, hình voi, khỉ, rắn... là thường thấy nhất. Đây là những tác phẩm hiện thực được đơn giản hóa với một phong cách đặc biệt dân tộc.
Điêu khắc Chăm
Điêu khắc là môn đặc sắc nhất trong nền mỹ thuật Chăm và không vì ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ mà làm mất đi những nét đặc trưng của dân tộc. Từ khoảng thế kỷ VII, VIII, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Chăm đã trở nên rực rỡ cùng phong trào Phật giáo hóa và Ấn Độ giáo lan rộng khắp Đông Nam Á. Tháp Chăm được xây bằng gạch, không vữa, thường có một cổng, một tháp phụ có mái hình con thuyền, một tháp chính ở trung tâm cao vút lên và nở ra ở nhiều góc và các múi vòm. Trên đó thường gắn các phù điêu chạm khắc hình thần Siva hay các tiên nữ Apsara. Cửa chính quay về phía nam hoặc đông nam. Trong lòng tháp đặt biểu tượng thờ Linga và Yoni (dương vật và âm vật). Sở trường của điêu khắc Chăm là tượng tròn. Những vị thần của đạo Bà La Môn được nghệ sỹ Chăm thể hiện thành những vị thần dân tộc, tượng phụ nữ càng thể hiện rõ điều này. Không như các nghệ sỹ điêu khắc Ấn Độ luôn cường điệu bộ phận mông hay vú của người phụ nữ, nghệ sĩ điêu khắc Chăm tạc rất giống con người thực, đó là tượng Vũ Nữ nổi tiếng ở Trà Kiệu có gương mặt trái xoan, môi dày, mũi không cao... thân người rất cân đối, tay chân mềm mại như "bất cứ vũ nữ nào của các dân tộc trên bán đảo Đông Dương"([5]). Điêu khắc tượng tròn được bố trí hài hòa kiến trúc với xung quanh và tuỳ theo chức năng mà đục đẽo các tượng thần. Các tượng điêu khắc Ấn Độ được điển hình hóa đến cao độ theo một công thức chặt chẽ, còn tượng Chăm là hình con người thật như vẫn thường thấy xung quanh ta, và vì thế những pho tượng dù là thần linh cũng trở nên sống động và gần gũi hơn.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.
|