tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và
hội họa
truyện dân gian Việt Nam
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 1219722
Những bài báo
11.03.2010
Hà Đình Nguyên
Nguyễn Bính hành phương Nam (2)

3: "Từ gác Nam Phong đến thơ" Người xóm Rẫy 


Trên bước đường giang hồ Nguyễn Bính đã đến tận Hà Tiên, mảnh đất thi ca vùng cực Nam với Chiêu Anh Các của Mạc Thiên Tứ ngày xưa, và sau đó là “cõi riêng” của cặp Đông Hồ - Mộng Tuyết.


Đối với một tâm hồn nhạy cảm, thích dịch chuyển, phiêu bạt như Nguyễn Bính thì việc “giẫm chân tại chỗ” - cho dù chỗ đó là Hà Nội hay Sài Gòn – mãi cũng “cuồng chân”. Cho nên khi nhận được thư của nhà thơ Đông Hồ từ Thạch Động Hà Tiên gửi lên, mời thi nhân làm một chuyến xuôi Nam tham quan Hà Tiên thập cảnh (tên một tập thơ ngâm vịnh của Mạc Thiên Tứ - NV), Nguyễn Bính mừng lắm. Các bạn thơ Hoàng Tấn, Lê Tràng Kiều gom góp lộ phí để chàng tức tốc lên đường.


Trong hồi ký Để nhớ Nguyễn Bính - những ngày ghé bến Hà Tiên, nữ sĩ Mộng Tuyết kể lại (lược ghi): “Vào một buổi chiều mùa hạ năm 1944, tôi đang ngồi may trong Yiễm Yiễm thương điếm ở chợ Hà Tiên thì có một người khách lạ xách valy bước vào, ngập ngừng hỏi: “Có phải chị Tuyết không? Bính đây!”… Từ đó, anh Đông Hồ đã nhường Nam Phong tiểu các cho thi sĩ để chàng làm thơ. Anh còn bắt tôi cắt may cho chàng nghệ sĩ “khăn gói gió đưa” một bộ bà ba từ cây lụa Hà Đông mới từ Hà Nội gửi vào. Bính thích lắm! Một hôm Bính lật bên trong lá đỉnh vạt trước khoe với tôi: “Đố chị, mấy chữ này nghĩa là gì?”. Tôi cầm vạt áo thấy có bốn chữ Khả Thủy Sơn Nhân viết bằng chữ Hán, thêu chỉ son. Tôi đoán không ra, hỏi anh Đông Hồ mới hiểu là Bính chiết tự 2 chữ Hà Tiên (Khả Thủy là chữ Hà, Sơn Nhân là chữ Tiên). Bính còn khoe “Ngọc thêu cho chú Bính đấy!” (Ngọc là cô cháu gái của Mộng Tuyết - NV).


Mỗi ngày, sau khi ăn sáng tại nhà anh Đông Hồ, Bính lại theo tôi ra Yiễm Yiễm thương điếm để “trông hàng cho chị”, để “nhìn chị may áo” và để “đi gửi thư cho chị”. Mỗi khi tôi viết thư xong, Bính giành đi bỏ vào thùng thư. Chiều chiều, tôi thường đạp xe từ cửa tiệm về nhà riêng ở xóm Rẫy. Từ ngày có Bính, Bính thường đi theo.


Đưa tôi về xóm Rẫy xong, Bính lại trở về nhà anh Đông Hồ để ăn cơm tối (lúc này, Đông Hồ vẫn đang là anh rể của Mộng Tuyết. Vợ của Đông Hồ mất sớm, Mộng Tuyết phải thay chị chăm sóc hai đứa trẻ, con của Đông Hồ. Phải sau đó 10 năm, họ mới chính thức thành vợ chồng - NV). Xong, lại rủ Đông Hồ ngược vào xóm Rẫy. Hôm nào Đông Hồ bận thì Nguyễn Bính một mình vào xóm Rẫy. Nhà ở xóm này cứ chạng vạng tối là đã khép cửa. Dưới ngọn đèn dầu dừa, cô cháu gái tên Ngọc của tôi đọc Tam quốc chí  cho má tôi nghe, Bính cũng thường ngồi nghe ké. Nhiều lần Bính đến trễ, cửa đã cài then, Bính ngồi ngoài thềm cho đến tận khuya mới về mà không dám gọi cửa. Bính nói : “Ngồi trong đêm khuya, nghe trộm tiếng Ngọc đọc sách, cách một lần cửa đóng kín, cũng có cái thú vị riêng”.


 Lúc này, Bính tiết lộ với chúng tôi là sẽ khởi thảo một truyện dài bằng thơ lục bát “dài hơn cả truyện Kiều!”. Ở tỉnh nhỏ, hầu như nhà ai cũng đốt đèn dầu dừa, dầu cá... riêng trên Nam Phong tiểu các thì Đông Hồ dành cho  Nguyễn Bính những ngọn hồng lạp để đêm đêm hồn thơ phát tiết. Mỗi đêm Bính viết được 4-5 trang lục bát. Sáng ra, đọc cho chúng tôi nghe rồi cùng nhau bình luận. Tết Đoan Ngọ, thấy tôi nấu nước cây thạch xương bồ để tắm gội, Bính rất thích 3 chữ “thạch xương bồ” bèn quyết định đặt tên đó cho tác phẩm đang viết của mình. Nhưng tác phẩm Thạch xương bồ chưa dài bằng... nửa truyện Kiều thì máu giang hồ nổi lên, Bính quyết định rời Hà Tiên dù chúng tôi hết sức níu giữ...”.


Những ngày ở Hà Tiên, Nguyễn Bính không hoàn thành Thạch xương bồ, nhưng bù lại, ông đã âm thầm viết được một tuyệt tác - đó là trường ca Người xóm Rẫy, dành tặng chị Mộng Tuyết và… em Ngọc! Bài thơ không biết được làm xong từ lúc nào (trong thời gian Nguyễn Bính ở Hà Tiên).  Nhà văn Hoàng Tấn kể, về lại Sài Gòn, giữa Lan Chi Viên, Nguyễn Bính mua 3 tờ giấy hồng điều, dán lại, dài thậm thượt và cũng lại “rị mọ” chép bài thơ Hà Tiên - Người xóm Rẫy (độc vận) bằng mực tàu, bút lông: “Một mình làm khách gác Nam Phong/Giở Tam Quốc Chí đọc mê mải/Mơ xanh uống rượu luận anh hùng/Tóc bạc, ném nghiên tỏ khí khái/Mê gái, cửa thành giết bố nuôi/Thương người, đường hẻm thả giặc chạy...”.  Đó là những câu mở đầu của chương I (khá dài), toàn những điển tích trong truyện Tàu.  Ly kỳ nhất là ở chương II, Nguyễn Bính tự thú mình đã yêu... Ngọc: “Cô cháu, Minh hương tuổi mười bảy/Mũi thẳng mi cong tóc mượt dài/Răng đều môi mọng ngực tròn mẩy/Gặp nhau chào nhau rồi quen nhau/Ngày một ngày hai thành luyến ái/Vườn xanh đốm nắng đổi dời luôn/Hai đứa trong vườn đùa ném trái/Dưới gốc ngửa mặt căng áo hoa/Trên cành trái sữa ném như vãi/Trái sữa không lăn vào áo hoa/Ngực tròn trái cứ ném trúng mãi/Vườn trăng cầm tay thương quá đi/Một ngày không gặp nhớ biết mấy/Thơ tôi nàng gối trên đầu giường/Đêm che ánh đèn đọc vụng mãi... Tôi cười bảo chị: Gả cho tôi/Mộng Tuyết cười theo: Lấy thì lấy/Trao trâm tặng quạt ỡm ờ chi/Trai tài gái sắc vừa đôi đấy... Rồi tôi khăn gói lại lên đường/Nàng ra bờ sông đứng khóc mãi/Tàu đi xa mấy dặm sông dài/Ngoảnh lại vẫn còn tay Ngọc vẫy/Người ở những mong ngày gặp nhau/Kẻ đi biết khó kỳ quay lại...”.


Đây chỉ là những đoạn trích, còn bài thơ thậm dài được tác giả treo giữa phòng khách, bên cạnh lư trầm luôn tỏa hương làm cho cả căn phòng luôn ngào ngạt khí thơ. Theo nhà văn Hoàng Tấn thì làm thơ theo thể độc vận mà lại là vận trắc (Rẫy) thì quả là công phu. Đoạn Bính và cô Ngọc chia tay, Hoàng Tấn đề nghị thêm vào hai câu: “Rặng liễu thương ai mà gầy mòn/Hàng cau nhớ ai mà vẫy vẫy”. Bính thích lắm, điền ngay vào nhưng cũng vẽ thêm một ngôi sao làm dấu và chú thích “thơ Hoàng Tấn” rất rạch ròi, sòng phẳng.  


4: Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau   


Đã hơn 60 năm nhưng những ấn tượng về Nguyễn Bính và buổi gặp gỡ đầu tiên ấy vẫn không phai trong trí nhớ của nhà thơ lão thành Kiên Giang.


Nhà thơ Kiên Giang - Hà Huy Hà là một trong rất ít văn nghệ sĩ ở phía Nam có duyên gặp gỡ và cận kề với “nhà thơ chân quê” Nguyễn Bính trong một thời gian khá dài.


Lưu lạc về Rạch Giá


Số là vào khoảng năm 1946, cậu học trò Trương Khương Trinh đang học bậc trung học ở Rạch Giá (ông sinh năm 1929 tại Xẻo Đước, làng Đông Yên, huyện An Biên, do nạn cướp lộng hành nên phải tản cư về Rạch Giá). Một hôm có người bạn học tên Nguyễn Phi Long khoe: “Nhà thơ Nguyễn Bính đang ở xóm biển, sau đình Nguyễn Trung Trực”. Vốn mê thơ văn, mà Nguyễn Bính lại là thần tượng của mình nên Trương Khương Trinh (sau đây xin gọi là Kiên Giang dù lúc đó ông chưa lấy nghệ danh này) quyết đi tìm.


Đến xóm biển, người ta chỉ cậu đến nhà ông quản thủ địa bộ tên N.Đ.L (ông này vốn người gốc miền Bắc, thấy “đồng hương” lưu lạc đến tận cái xứ chót biển phương Nam này nên đón về, cho ở nhờ). Hỏi người nhà ông Lý thì họ bảo: “Ông Bắc Kỳ đang ngủ ngoài đình”. Kiên Giang ra đình thờ Nguyễn Trung Trực (sau này mới nâng cấp thành đền thờ), lúc ấy đã hơn 9 giờ sáng mà thấy cảnh vật vắng hoe. Ông hỏi thăm một bà hàng nước xem có người nào dáng vẻ nho nhã như mình đã mường tượng không. Bà hàng nước chép miệng bảo: “Chẳng thấy nhà thơ nhà thẩn nào cả, chỉ có một anh hàn sĩ giống hệt “Trần Minh khố chuối” ngày nào, lật nóp nằm ngủ sau cửa đình. Chắc là ổng muốn xin Ngài báo mộng chi đó?”.


Lúc này Kiên Giang mới nhìn kỹ, thấy một người vẫn còn nằm ngủ trong chiếc nóp. Đi quanh chiếc nóp một lúc, Kiên Giang đánh bạo đập dậy: “Ông ơi, tui nghe nói ông vừa tới đây, tui cũng là người làm thơ. Xin chào mừng ông!”. Dụi mắt nhìn cậu học trò thiếu niên, câu đầu tiên của nhà thơ là “Có thuốc không?”. Thời may, Kiên Giang cũng mới tập tành hút thuốc. Trong túi có bao Cotab còn sót lại hai điếu. Sau khi hút hết cả hai điếu thuốc, Nguyễn Bính xé vỏ bao thuốc lá và ghi liền vào đó 4 câu thơ tặng người bạn mới: “Có những dòng sông chảy rất mau/Nhớ chi nghĩa bến với duyên cầu/Lá vàng hoa đỏ trôi không kịp/Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau”.


Sau khi Nguyễn Bính cuốn chiếc nóp để vào một góc đình. Kiên Giang mới kịp ngắm trang phục của nhà thơ: quần soóc, chiếc áo sơ mi đã cũ, vạt sau dài hơn vạt trước. Nhà thơ đi xuống mé sông rửa mặt rồi kéo vạt áo sau lên lau. Kiên Giang thỏ thẻ mời nhà thơ đi thưởng thức cà phê Quảng Phát - ngay chợ Rạch Giá, gần tiệm thuốc tây Nguyễn Khoa Dai. Khi Kiên Giang hỏi sao nhà thơ không ở nhà ông Ng.Đ.L nữa? Nguyễn Bính cười buồn bảo rằng tại bà vợ ông này đẹp quá, mái tóc xõa dài cứ nằm trên võng ngâm thơ... Nguyễn Bính! Ông chồng phát ghen, có cử chỉ sao đó nên Nguyễn Bính buồn, bỏ ra ngoài đình ngủ. Kiên Giang sực nhớ cách đó không xa có căn nhà bỏ trống của một người coi giữ sân banh (sân bóng đá), nên đã cùng Nguyễn Bính đi tìm người này điều đình để nhà thơ có chỗ trú thân.


Mộc Kiều Trang và 2 tâm hồn thơ


Vậy là căn nhà bỏ hoang đã lâu ngày nay được hai thầy trò ra sức sửa sang lại cho có vẻ tươm tất. Trước nhà có con mương nhỏ với chiếc cầu gỗ bắc vào khoảng sân đóng đầy rêu, Nguyễn Bính đặt tên “giang sơn” của mình là “Mộc Kiều Trang”. Ở trong nhà có một bộ ngựa - sau này vừa là chỗ ngủ, vừa là bàn viết và cũng là bàn nhậu của hai hồn thơ. Sau nhà có một chái bếp, cỏ ô rô, cóc kèn mọc chen vào kẽ vách, Kiên Giang tính dọn sạch cỏ nhưng Nguyễn Bính cản: “Để vậy cho... hoang dã!”.


Dạo đó, bà mẹ của Kiên Giang làm nghề bán mắm cá đồng trong nhà lồng chợ Rạch Giá. Bà không thể ngờ rằng cậu quý tử vẫn rình mỗi lần bà rời khỏi quầy là thọc tay vào “thó” mấy đồng để mua thức ăn, gạo thì xúc ở nhà để “tiếp tế” cho ông thầy. Nguyễn Bính không biết ăn mắm như dân Nam Bộ, nhưng rượu đế thì uống tì tì ! Khi chỗ ở đã tạm ổn định, Nguyễn Bính viết mấy câu thơ dán trước cửa: “Từ dạo về đây sống rất nghèo/Bạn bè chỉ có gió trăng theo/Những phường phú quý xin đừng đến/Hãy để thầm ta xanh sắc rêu”. Chữ Nguyễn Bính rất đẹp, ông thường chép lại những bài thơ cũ của mình dán đầy lên vách: “Ở đây ngày lại qua ngày/Nhà không mở cửa mưa đầy tuần trăng”, hoặc bài Những người của ngày mai: “Quê các anh ở miền Bắc xa xôi/Bước chân đi đã biết mấy năm rồi/Xa chiếc cầu ao, xa mái rạ/Cô gái làng gội tóc nước hương nhu... Quê anh ở miền Trung bát ngát/Bãi cát vàng bờ biển uốn quanh co...”. Dưới mái Mộc Kiều Trang chỉ có hai thầy trò nhưng mỗi bữa ăn thường kéo dài hai, ba tiếng. Vừa ăn vừa đàm đạo chuyện văn chương, chuyện kháng chiến...


Bài thơ Tiền và lá của Kiên Giang cũng được sáng tác trong dịp này (cho nên văn phong cũng bị ảnh hưởng Nguyễn Bính ít nhiều - NV). Trò đọc cho thầy nghe, thầy khen nhưng sửa lại vài chỗ, như ở câu “Tiền không là lá em ơi/Tiền là giấy bạc của đời phồn hoa”, Nguyễn Bính sửa lại “Tiền là giấy bạc của đời in ra”, rồi ở câu cuối: “Chợ đời họp một mình tôi. Phiên chiều” được sửa là “Chợ đời họp một mình tôi vui gì!”...


Tình nghĩa thầy trò ở Mộc Kiều Trang chỉ kéo dài mấy tháng, khi Kiên Giang trở về xóm Xẻo Đước (làng Đông Yên) chở lúa gạo cho gia đình cũng là lúc phong trào “Nam kỳ tự trị” của Nguyễn Văn Thinh đang lúc cao trào, họ tuyên truyền “Đả đảo Bắc kỳ” một cách quá khích. Mấy ngày sau, khi Kiên Giang trở lại Rạch Giá thì hay tin Nguyễn Bính bị bắt giam ở bót Giếng Nước gần Trường con trai (Nam học đường), ông có mua xôi và thuốc lá hiệu Mélia tiếp tế cho thầy. Khoảng nửa tháng sau Nguyễn Bính được thả, ông buồn rầu nói với Kiên Giang: “Chắc là anh phải xa em thôi”. Rồi Nguyễn Bính âm thầm vào chiến khu. Ít lâu sau, Kiên Giang nghe nói Nguyễn Bính đang là Chủ tịch Hội Văn nghệ Cứu quốc tỉnh Rạch Giá. Lần gặp cuối cùng giữa hai thầy trò là ở xóm Nước Trong (Khu 9), Kiên Giang đãi thầy một bữa thịt gà, do mình “cải thiện” được!


Năm 1956, Kiên Giang lên Sài Gòn làm “thầy cò” (sửa mo-rát) cho báo Tiếng Chuông, hàng xóm có một “ông cò” thứ thiệt (cảnh sát) hay hoạnh họe. Tức mình, Kiên Giang cũng dán bài thơ của Nguyễn Bính trước cổng: “Từ dạo về đây sống rất nghèo/Bạn bè chỉ có gió trăng theo” và chữa lại: Những thằng bất nghĩa xin đừng đến/Hãy để thềm ta xanh sắc rêu”...


Hà Đình Nguyên


 

Số lần xem: 204 bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đọc tự truyện của một người thợ - Dương Trung Quốc 10.09.2010
Cần dạy chữ Hán trong nhà trường phổ thông Việt Nam - Nguyễn Đình Chú 09.09.2010
Ấy là Ngô Thảo - Trung Trung Đỉnh 08.09.2010
9 kỷ lục gốm sứ Việt Nam 2010 - Tư liệu 08.09.2010
GS NGND Nguyễn Đình Chú: Hai điều ước cho ngành giáo dục - Tư liệu 08.09.2010
Nhóm Văn chương Hồn Việt mừng sinh nhật nhà văn Triệu Xuân - Minh Đức 06.09.2010
Lại nói về Đại hội VIII Hội nhà văn - Kao Sơn 06.09.2010
Lần đầu tiên một cây bút nam đoạt giải nhất Văn học tuổi 20 - Tư liệu 06.09.2010
Bác Sáu Giàu - Tư liệu 06.09.2010
Lắp đặt rotor tổ máy số 1 Nhà máy thủy điện Sông Tranh 2 - Triệu Xuân 03.09.2010
xem thêm »