XV
Trong túp nhà tranh nhỏ, náu hình giữa cánh rừng làng Yếng, cách bốn, năm cây số về phía bắc tỉnh thành, Hoàng Lang, lúc đó vừa đi thám thính về, đang ngồi đợi bố cu Khải. Chàng nóng ruột lắm. Mỗi phút qua đi như nhóm thêm trong lòng chàng một mớ than hồng. Nếu bõ Khải tìm không thấy cụ Điều, hay nếu cụ đã bị hại rồi, thì hy vọng của chàng sẽ tan nát cả.
Hoàng Lang nghĩ đến đấy, càng thêm bồi hồi. Mà trong trí tưởng của chàng, hình ảnh Thục Nương càng thấy mờ dần đi sau bao tầng hơi máu. Thục Nương! Trước khi gặp Thục Nương, Hoàng Lang đã nhiều phen nghe lời ca tụng cái sắc đẹp và đức hạnh của nàng. Những lời tán dương ấy đã gảy lên trong lòng chàng những khúc đàn êm ái. Nhất là cái tên Thục Nương, cái tên đã làm cho chàng, mỗi khi nhìn bóng trăng soi mặt nước, hay ngắm bông hoa nở đầu cành, phải mơ màng, vơ vẩn. Chàng thường một mình nhắc tới tên Thục Nương, nhắc tới để mà mong ước, mà não nùng. Đối với cái đời giang hồ, cái đời bấp bênh nguy hiểm, cái đời không hy vọng, không ngày mai ấy, Thục Nương đã vô tình mà thành ra sự an ủi, sự nhớ mong, đã thành ra cái chuẩn đích ái tình.
Lại khi được gặp nàng trên Bắc Nhụng. Trong cơn lưu lạc, vẻ phù dung hầu tan nát với phong ba, Hoàng Lang nhìn nàng, yêu bao nhiêu lại càng đau đớn hối hận bấy nhiêu. Chàng không mong gặp nàng giữa bước phiêu lưu ấy, giữa lúc gia đình nàng bị tan nát, cốt nhục nàng phải chia lìa. Dù cái cảnh đoạn trường kia không phải tự chàng đã gây nên, nhưng chàng thực là một tay đồng phạm vô tình, một người có trách nhiệm gián tiếp. Đối với Thục Nương, Hoàng Lang thế là đã bị hãm vào một cảnh ngộ khó nói. Chàng lấy làm tuyệt vọng lắm, vì Thục Nương biết đâu đã chẳng coi chàng như một kẻ tử thù, biết đâu nàng đã chẳng coi chàng như một kẻ dã man tàn ác, cũng như những kẻ đồng đảng khác, có thể làm được những việc vô nhân đạo, những việc mà chỉ loài thú dữ mới không động lòng!...
Trời ơi, thế là hết thảy những điều ước mong, những tình yêu dấu, những hy vọng thiết tha đã làm cho chàng thấy cuộc đời có thi vị, có hứng thú, đáng vui, đáng sống kia đều tan nát cả, đều hão huyền cả. Mà cái dung nhan mỹ lệ, cái đức hạnh hoàn toàn, cái linh hồn băng tuyết, cái trái tim nguyên vẹn nọ, đối với chàng, có chăng chỉ như một ánh trăng dưới nước, bông hoa trong gương mà thôi. Trời ơi, nhưng chẳng nhẽ số mệnh cợt đùa chàng đến thế? Chàng rất mong chuộc cái tội ác mà chàng đã bị lây với kẻ đồng đảng. Chàng mong, trước mắt Thục Nương, cái hình ảnh của chàng không bị một vết nhơ nhuốc nào cả. Nếu làm thế nào cho trong cặp mắt Thục Nương mất hẳn được cái tia lửa oán thù, khinh bỉ thì chàng dầu phải hy sinh cả tính mệnh, chàng vẫn lấy làm sung sướng. Hoàng Lang định bụng đem bõ Khải theo để lão dò la tin tức cụ Điều. Nếu tìm thấy cụ, chàng sẽ đưa Thục Nương và mẫu thân nàng về tỉnh, cho một nhà lại được đoàn tụ như xưa. Trên đống tro tàn nọ, chàng phải tự tay xây dựng cái gia đình hạnh phúc để đền cho Thục Nương. Có thế họa chăng trong tấm lòng ai mới khỏi sự oán thù. Mà rửa được sự thù oán cho lòng nàng, tức là cái hy vọng độc nhất của Hoàng Lang lúc đó vậy. Chàng không dám ước mong sự gì hơn thế nữa. Chàng đợi mãi. Bố cu Khải vẫn chưa thấy tăm hơi đâu. Hoàng Lang lo lắng, chốc chốc lại chạy ra cửa nhìn. Bên ngoài, trăng vẫn mờ, cảnh vẫn vắng, cả tạo vật đều chẳng hứa cho chàng một hạnh phúc nào cả. Trời ơi, cái ước nguyện cuối cùng kia có lẽ lại cũng hão huyền nốt hay sao?
Thời khắc qua... Hoàng Lang loanh quanh trong túp nhà như một con hùm mắc cạm. Mãi sau, chợt có tiếng quân canh quát hỏi, rồi có tiếng người vào sân. Chàng vội cầm đèn chạy ra hỏi thì bố cu Khải đang cõng ông cụ Điều vào.
- À! Bõ Khải đã về. Cụ Điều đấy phải không?
- Vâng, cụ tôi đây rồi!
Hoàng Lang thở dài. Trên ngực chàng như cất được cái vác nặng. Nhưng, lúc thấy bố cu Khải đặt ông cụ Điều lên giường như đặt một khúc gỗ, Hoàng Lang bỗng tái mặt hỏi:
- Sao thế này?
- Công tử có cứu cụ tôi mau không thì nguy mất!
- Chết chửa! Làm sao?
Vừa thở vừa nói, lão Khải thuật cho Hoàng Lang nghe câu chuyện trong chùa.
Hoàng Lang giậm chân xuống đất, nghiến răng nói:
- Độc ác thay quân khốn nạn! Ta sẽ phanh thây chúng bay ra mới hả giận này!
Chàng lấy thuốc đổ cho cụ Điều và thân tự xoa đắp các vết thương. Chạy chữa như thế non một trống canh, cụ Điều mới tỉnh táo. Hoàng Lang mừng rỡ hỏi:
- Cụ đã khá chứ?
Cụ Điều ngẩn ngơ nhìn bõ Khải.
- Thưa cụ, đây là Hoàng công tử, ân nhân của nhà ta.
- Đội ân công tử, già này may thoát chết chăng?
- Xin cụ cứ yên tâm. Con sẽ trị tội những đứa toan hại cụ, sẽ đưa cụ bà và lệnh ái về.
- À, thế ra mẹ cháu và Thục Nương cũng đã nhờ ơn công tử che chở cho?
- Cụ bà và lệnh ái hiện vẫn được bình an.
Cụ Điều ứa nước mắt, nói:
- Toàn gia tôi thực đội ơn tái sinh của công tử!
Cái vẻ cảm động ấy làm cho Hoàng Lang phải thẹn thùng. Chàng quay lại hỏi bõ Khải:
- Quanh vùng đây, có nơi nào để cụ tạm lánh được chăng?
- Cụ tôi có người anh họ làm ruộng ở làng Đồng, có thể đến ở tạm đấy được.
- Vậy mai tôi sai bốn tên quân đưa cụ sang tạm lánh bên ấy và tôi cho một lá cờ lệnh bảo an để phòng lúc nguy biến. Như thế thì không còn lo ngại gì nữa.
Bõ Khải nói:
- Vâng, trăm sự nhờ công tử chu toàn cho.
- Già cứ yên tâm. Tôi lấy làm cảm phục tấm lòng trung nghĩa của già lắm!
- Còn tôi xin theo công tử cho đến ngày tôi đón được chủ mẫu và cô tôi về. Vả, tôi cũng còn có một cái thù lớn chưa trả được.
- Điều đó già không ngại, cụ bà và Thục Nương sẽ được đưa về tận nơi tử tế. Những kẻ thù của già ta sẽ trị tội rất nghiêm.
XVI
Đội ngũ chỉnh tề, gươm giáo sáng quắc, quân Cờ Đen theo đường cái quan tiến thẳng về tỉnh. Chỉ chốc lát đồn trại Bắc Nhụng khuất sau cánh rừng xanh.
Bấy giờ là cuối tháng một năm Giáp Thân. Trời âm thầm, đất lặng lẽ, có chăng tiếng gió gào thét trong ngàn lau vàng héo và chốc chốc tiếng quạ bay kêu thê thảm như tiếng báo hiệu của thần chết.
Dọc đường từng quãng xa xa mới thấy hiện ra một xóm nhỏ, lèo tèo dăm bảy nóc nhà đứng tản mát trên một cánh nương bỏ hoang. Cảnh lặng lẽ và tiêu điều.
Đoàn quân cứ tiến. Đi đầu là một lá cờ đại sắc thâm, giữa thêu một chữ Hoàng bằng nỉ đỏ. Hoàng Tử Trung mặc áo gấm biếc, cưỡi ngựa bạch đi sau lá cờ. Kế đến hai quân kỵ, bộ ước chừng năm vạn người. Kỵ binh gồm hai đội do hai tướng Bá Thái và Woòng Tsi quản lĩnh. Bộ binh chia làm ba đội do Hoàng Chánh Hưng, Bá Dương và Hoàng Tài đốc suất.
Quân đi đến đâu, bụi đường lầm lên đến đấy. Nếu thỉnh thoảng có ai nhìn lại sau lưng thì rừng cây xa chỉ như thoáng hiện sau đám sương mù.
Bọn giặc phần nhiều cao lớn dữ tợn. Dưới những chiếc nón rơm to, những nét mặt cháy đen đầy sẹo, đều có vẻ quả quyết vâng theo lệnh tướng, dù chết không từ.
Đối với những quân ấy, tướng ấy, triều đình nhà Nguyễn không thể coi thường. Và, nếu Pháp quân không can thiệp thì lịch sử chưa biết sẽ cho ta thấy những chuyện không thể ngờ được cũng nên.
Toán đại quân ấy, thỉnh thoảng lại cất lên những câu hát hùng hồn, mạnh dạn, khảng khái, ngang tàng, khiến cho kẻ đi tìm cuộc huyết chiến càng sôi nổi lòng quyết tử.
Sau đại quân thì đến những xe cộ, ngựa thồ tải các chăn nệm, lương thực và các vật dụng khác do một bọn nô bộc đi kèm.
Ngày dần dần tối.
Cái thác người vẫn cuồn cuộn chảy.
Trong khoảng tịch mịch chiều hôm, những tiếng chân người, chân ngựa, những tiếng bánh xe rít trục, những tiếng gươm súng chạm nhau, nghe thảm đạm mà rất hùng...
Thốt nhiên mấy tiếng hô ngắn ngủi mà riết róng. Cả đoàn quân đứng sững lại. Từ khu rừng Kho Do, một viên tướng trẻ tuổi phi ngựa xông ra.
Hoàng Tử Trung mừng rỡ:
- Ô kìa, con ta đã đến!
Hoàng Lang kìm ngựa, cúi đầu thi lễ và nói rằng:
- Xin phụ thân lệnh truyền cho quân sĩ tạm đóng trong khu rừng này, nghỉ ngơi một đêm để sáng mai ra trận.
Hoàng Tử Trung ngắm nghía địa thế xong, gật đầu:
- Ừ, chỗ này có thể dồn quân được.
Một tướng lệnh truyền ra, chỉ giây lát trên đường đã vắng bóng người.
Nhưng, cũng cùng lúc ấy, rừng cây vụt biến thành một cảnh huyên náo. Những tiếng dao chặt chí chát, những tiếng kêu gọi ồn ào, rồi nửa khắc sau, giữa cảnh hoang vu, hiện ra một thị trấn sầm uất.
Những toán quân canh chia nhau đóng các ngả để phòng xa. Bọn nô bộc thì túi bụi đem chăn nệm và các thứ vật dụng của các tướng nào đưa hầu về chỗ ấy. Ngoài ra quân sĩ chia nhau kẻ xuống suối vục nước, kẻ vo gạo bắc nồi, kẻ chẻ củi nhóm bếp, làm cho nhanh để đến lúc phát hiệu tắt lửa thì cơm nước vừa xong.
Khắp rừng lúc đó sáng rực. Những đống lửa khổng lồ cháy ngùn ngụt, khói bốc cuồn cuộn như những con rồng đen cuốn khúc lên cao. Dân cư thấy lạ nhiều người đánh bạo đem gà vịt, gạo trứng đến bán. Tuy bọn giặc mua nhiều giả ít mà được nhìn cái đám lao xao dưới ánh lửa đỏ, nhìn tận mặt những người vẫn làm cho họ phải sợ hãi như một lũ hung thần nọ, thì dù có thiệt, họ cũng đã được thỏa cái tính tò mò.
Lúc ấy trong túp nhà tranh mà ở thiên trước, độc giả đã có dịp vào theo bố cu Khải và cụ Điều, Hoàng Lang đương thuật cho cha nghe rõ những điều mình đã thám thính được về tình trạng quân Pháp.
Hoàng Tử Trung nghe con nói tỏ ý rất bằng lòng:
- Con tuổi trẻ mà việc lớn đã có tài tháo vát như thế, thực không phụ lòng mong cậy của cha.
Dứt lời, Tử Trung kéo một hơi thuốc phiện, đoạn gác dọc tẩu lên ngang bụng, vừa thở vừa nói:
- À, tinh sương ngày mai con lại phải lên Bắc Nhụng...
Hoàng Lang ngạc nhiên nhìn cha:
- Nhưng, trong cuộc đại chiến ngày mai, có được theo hầu bên tả hữu cha, con mới yên lòng.
- Cha cũng lấy làm tiếc cho con lắm! Ngặt vì lúc cha cất quân đi, mẹ con bỗng kịch bệnh, tình thế rất nguy. Thế nào con cũng phải thân xem chăm sóc thuốc men cho mẹ con mới được.
Hoàng Lang cúi đầu im lặng, vẻ mặt rất buồn. Tình mẫu tử khiến chàng lo ngại xót thương bao nhiêu thì lòng quyết chiến lại càng làm cho chàng phải ân hận, bực tức bấy nhiêu.
XVII
Trong thành, kèn báo thức bắt đầu thổi. Tiếng đồng lanh lảnh, vọng vào núi xa nghe rất hùng tráng.
Góc trời đông chói lọi màu bạc trắng. Ngọn Sâm Sơn mỗi lúc một hiện rõ trên đám sương mù. Ánh sáng tràn ngập cả những đường ngang lối tắt. Những nhà cửa lụp xụp và trống rỗng hình như ngơ ngác nhìn trộm lê minh.
Trong thành thức giấc. Lá cờ ba sắc phấp phới trên ngọn Thổ Sơn.
Thành là thành cổ, xây toàn bằng đá ong, ngay bên hữu ngạn Thanh Giang. Xung quanh đồi núi bao bọc mà gò Chùa tức là một ngọn gò sát với thành nhất. Bên ngoài tường thành, bờ lau búi lác, cảnh hoang tịch đìu hiu. Tuy vậy, giữa lúc nhiễu nhương, cái lặng lẽ của rừng cây chẳng phải là cái người ta có thể tin chắc được.
Thì quả nhiên, lúc đó, cửa thành sịch mở. Một toán kỵ binh lê dương, do một viên tướng trung úy chỉ huy, tế ngựa ra thành, tiến thẳng về phía bắc.
Vừa được tin có giặc về đánh tỉnh, thiếu tá Franger vội phái quân đi thám thính.
Ngựa cuốn đều bốn vó, toán kỵ binh quay lại đã chẳng thấy bóng thành quách đâu nữa. Trên ngọn Thổ Sơn, lá cờ ba sắc chỉ còn là một điểm nhỏ con con. Trước mặt, sau lưng, bát ngát những đồi cùng ruộng. Xóm làng thưa thớt, ẩn dưới bóng tre xanh, cũng lặng ngắt tiếng người.
Cảnh rất buồn. Cái buồn của một ngày đông giữa thời loạn. Ánh nắng vẫn rỡ ràng, khí hậu vẫn ấm áp, nhưng bên trong vẫn có cái khí vị tịch diệt âm thầm. Nền trời cao có những vệt mây màu tro lạnh. Những cánh rừng xanh mốc bao quanh những ruộng hoang vàng úa. Trên đồi cao thưa thớt mấy cụm cây cằn; hay vài khóm lau già đầu bạc, chốc chốc rền rĩ trước làn gió thoảng. Trong không khí hanh hao, đàn rĩn bay lao xao như một mớ bụi. Chốc chốc một con mồng bay vi vút, như tiếng liềm của thần chết rạch ngang cái quạnh hiu...
Ánh nắng mỗi lúc một gắt. Người, ngựa đã ra chiều uể oải, đi đến đâu, in lên nệm cỏ những vệt bóng chập chờn.
Viên trung úy đi đầu, hai mắt sáng quắc, nhìn bới móc những cụm cây xa, những lớp rừng u uất. Dưới tầng lá dày, chẳng có gì khác hơn là những thân cây khổng lồ vạch lên nền tối những nét trắng lốp. Tuy vậy, càng thấy im lặng bao nhiêu, trung úy càng ngờ vực bấy nhiêu.
Quanh mình cái cảm giác rằng thần chết vẫn rình mò làm cho ai nấy khó chịu. Không phải quân, tướng thiếu can đảm, nhưng nhà binh ưa nhìn tận mặt sự nguy hiểm hơn là sự lẩn lút, ám muội.
Đã tới chợ làng Rinh. Trung úy và một viên đội phóng ngựa lên một ngọn đồi gần đấy. Thốt nhiên, viên đội giơ tay chỉ xuống cánh rừng trước mắt:
- Bẩm trung úy, trong rừng kia, tôi nhận thấy có nhiều bóng đen cử động.
Trung úy đặt viễn kính nhìn và nói luôn:
- Thầy đội, mau dàn quân quanh chân đồi này!
Tiếng ngựa chạy như thác chảy, tiếng gươm súng va chạm nhau, tiếng hô:
- Đứng lại!
Trung úy vừa dứt lời, những bóng đen đã nhảy ra khỏi rừng. Đất như cựa lên. Một tiếng vang ầm, rồi thì trăm nghìn đợt sóng chàm cuồn cuộn vỗ tới chân đồi.
- Xuống yên để đánh bộ. Cách năm mươi thước, bắt đầu khai pháo!
Súng nổ dịp một, trước còn thưa, sau mỗi lúc một rền. Dưới chân đồi, nhiều cái áo xanh quay lông lốc, ngã vật xuống. Nhưng muôn lớp sóng kình cứ tiến. Cơn phong ba mỗi lúc một hăng. Xa xa, hai bên tả hữu dực bộ quân Cờ Đen, kỵ binh hiện ra như hai cái tay kìm muốn khép lấy ngọn đồi...
- Bắn! Bắn mau!
Quân giặc bạt ngàn, lụt đồi, tràn ruộng, tiếng quát tháo như sấm vang, gươm sáng lập lòe như chớp giật.
Dưới ánh nắng khô khan, bụi cuốn mù mịt.
- Lùi! Lên ngựa!
Trung úy nhìn qua trận thế, biết phải lui quân về gần thành để mong có trợ lực và tiện chỗ dàn quân.
Thấy quân Pháp lùi, bên giặc reo vang trời. Hàng vạn cánh tay khua gươm múa súng, hung hăng quyết thắng.
Cùng một lúc ấy, Hoàng Tử Trung dẫn quân kỵ lẻn xuống làng Đồng, đánh tạt ngang đường cái, triệt lối quân Pháp tháo lui.
“Đùng!... Đoàng!...”.
“Roạt!... Roạt!...”.
Cờ Đen bắn. Quân Pháp bắn...
Người ngã, ngựa lồng, thịt rơi, máu chảy...
Quân Pháp vừa lùi vừa bắn rất hăng, nhưng đạn lửa không thể cản được ngọn trào đa số.
Trung úy biết chỉ có đem toàn lực đánh tan đám quân triệt lộ mới hòng thoát được. Vươn mình hoa kiếm, trung úy hô một cách quyết liệt:
- Xung sát!
Thục hai gót giày vào bụng ngựa, tay vung kiếm, miệng quát to, cả cánh kỵ binh Pháp xông thẳngvào đám quân Hoàng Tử Trung như một luồng bão táp. Quân Cờ Đen kinh ngạc và thán phục cái can đảm của bên địch đến nỗi chùn lại. Cái phút vô cùng quan trọng! Cái phút sinh tử vô song! Trung úy hô quân cố tiến. Súng nổ vô hồi, gươm lia nhoang nhoáng đập vào giáo mác, ánh lửa lập lòe. Tiếng ngựa hí, tiếng binh khí chạm nhau, tiếng quát tháo, tiếng rên la, hiện thành một cảnh tượng sầu thảm, kinh khốc!...
- Tiến!...
Quân Cờ Đen không cưỡng nổi, phải dạt ra hai bên. Quân Pháp mở xong đường máu, vừa toan chạy thì cánh quân đuổi theo vừa tới. Tiếng xung sát bội lên; những bộ áo choàng loang máu hồ chìm khuất dưới làn sóng màu chàm thì lại nổi bềnh lên, chẳng khác những chiếc phao bập bềnh trên mặt sóng. Toán cô quân lúc đó không phải một chọi một, mà chọi với trăm nghìn... Quân Cờ Đen hăng lắm, dù tên nào bị thương ngã xuống, cũng cố bò lại, chặt chân ngựa bên địch, có khi níu lấy yên, leo lên để chém người.
Năm... mười... hai, ba mươi... bốn, năm mươi tên ngã, quân Pháp chỉ còn độ sáu, bảy chục người phần nhiều đã bị thương tích và mệt lắm. Trung úy lúc đó như con mãnh hổ cùng đường. Hai vế cặp chặt lấy yên ngựa; tay múa gươm, tay bắn súng, quyết phá vòng vây để cứu lấy tàn quân.
Cờ Đen lại chùn. Một phút ngơi tay, một phút thán phục kẻ thù địch anh hùng, vì chúng dù sao cũng là những chiến sĩ chân chủng.
- Thoái!
Con đường về tỉnh đã mở. Cơ sống còn là ở đấy.
Trung úy phóng ngựa đi trước dọn đường, tàn quân theo sau.
Một tiếng gầm thét căm hờn của Tử Trung làm cho ba quân sực nhớ đến điều lỗi lớn. Chúng hò reo đuổi theo, một là bắt, hai là quyết giết cho kỳ hết đám quân thù.
- Roạt!... Roạt!
Quân Pháp vừa chạy vừa bắn trở lại, bắn vào giữa cơn lốc người. Cờ Đen tử thương rất nhiều; cuộc truy nã dần dần bớt hăng hái.
Tuy vậy, cái thác vẫn réo ồ ồ. Tán quân tàn vừa vào khỏi cổng thành thì ba bề bốn bên, áo xanh ngàn ngạt bao vây. Bức cổ thành lúc ấy chỉ như một cái cù lao giữa cảnh ba đào sát phạt.
Thiếu tá Franger thân lên mặt thành đốc chiến. Trái phá nổ ầm ầm. Súng tay như pháo cháy. Bên giặc thêm tiếng cồng khua trống giục, thảm đạm kinh hồn.
Trên mặt chiến trường, những con ngựa mất chủ, hoảng chạy tán loạn, giày xéo lên cả những thây chết nằm ngổn ngang, lắm cái mất cả đầu, vỡ cả ngực, ruột gan bừa bãi, máu me bét be.
Hoàng Tử Trung đang đốc quân đánh thành, chợt thấy về góc tây nam, súng nổ, người reo kinh động. Biết rằng cánh quân của Lưu Vĩnh Phúc đã đến, Hoàng lại càng thêm hăng hái, truyền lệnh cho sĩ tốt nhất tề lên thành. Bên trong vẫn bình tĩnh ứng chiến, không vì bên địch nhiều hơn mà nao lòng.
Quân Cờ Đen không ngờ đâu thế, đua nhau hăm hở lên thành. Mấy dịp súng nổ liền, những kẻ đang chắc mẩm công đầu tức thì lăn xuống như sung rụng. Hoàng Tử Trung căm giận, ba lần thúc quân tiến đánh, ba lần phải lùi trở ra.
Mà, cái số tử thương dần không xiết kể...
Đánh nhau từ sáng đến tối, hai bên đành nghỉ tay.
Trong thành bị thiếu nước, phải đào đường ngầm ra sông. Có người nghĩ kế viết thư cầu viện bỏ vào những chai rượu không, miệng chai gắn xi kín, thả trôi theo dòng nước. Nhờ thế mà ở Sơn Tây, đại tá Duchesne mới được tin cáo cấp và đem binh giải vây thành Tuyên.
Quân Cờ Đen hãm thành đã ba hôm. Lưu Vĩnh Phúc chợt được tin ấy, lập tức truyền lệnh lấy rõ nhiều thuyền chở đá, bơi xuống đánh đắm ở chỗ Gành Riềng, để ngăn đường quân thủy. Lưu lại dặn Hoàng Tử Trung vây thành, còn mình thân tự dẫn quân xuống mai phục ở Hòa Mục.
(còn tiếp)
Nguồn: Gái thời loạn. Tiểu thuyết, rút từ Lan Khai tuyển tập, (hai tập, 1700 trang khổ 16 x 24 cm). Trần Mạnh Tiến sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học sắp phát hành.
|