IV. CA MÚA NHẠC
1. Âm nhạc có thể bắt đầu từ thời vua Hùng với đàn đá, trống đồng, khèn v.v... Từ thời Đinh - Lê trở về trước, trừ những tư liệu Khảo cổ học, không thấy có sách nào nói đến. Đến đời Lý trở về sau, sách chính sử và dã sử nói đến nhiều.
Nhìn vào đời sống thực tế, cùng với việc đọc sách, tạp chí, ta có thể nói như Đào Duy Anh, âm nhạc xưa không rõ thế nào, trong sử sách không thấy ghi chép([1]). Đến đời Lý – Trần, quan niệm chính thống về nghệ thuật (kể cả kiến trúc, mỹ thuật, âm nhạc...) là để truyền đạo Phật và thờ cúng([2]). Ca múa nhạc bình dân không được nhắc đến, nhưng chắc chắn đã phổ biến, bởi chưng ca múa nhạc liên quan nhiều đến đời sống nói chung và đời sống lao động nói riêng. Hình thức sơ khai nhất của âm nhạc còn thấy ở người Xơ Đăng (Tây Nguyên). Đi dọc theo các suối ở vùng này, cách một đoạn ta lại gặp các dàn nhạc rừng([3]). Ngoài nhiều tấm đá kêu được ghè đẽo, treo cùng các loại tiền thân của các đàn tờ rưng, klaong put làm bằng các đoạn cây lồ ô và ống bương trong "dàn nhạc rừng" để xua thú, đuổi chim nhờ sức của gió, nước, giữ cho nương rẫy khỏi bị chúng phá họai. Những tấm đá này sau được tu chỉnh thành bộ đàn đá, đàn tơ rưng, đàn klaong put v.v... Người phát hiện đầu tiên một tập hợp các thanh đá kêu là G. Condiminas([4]). Theo như A. Ferreiros([5]), các thanh đá còn được treo như lúc đầu trên cành cây nhằm đuổi chim thú, nay được đặt nằm để đánh. Hiện nay phát hiện được gần chục bộ tập trung ở quê hương Khánh Sơn. Đàn đá có thể thấy ở nhiều nước, nhưng ta có thể khẳng định các cư dân Tây Nguyên thuộc ngôn ngữ Môn - Khmer và Malayô Pôlinéxia là chủ nhân đầu tiên của tập hợp những thanh đá kêu.
Đàn đá cho ta mường tượng tới những chiếc khánh của người Kinh thường dùng vào âm nhạc hay treo trên cành cây nêu trong dịp tết hồi trước Cách mạng tháng Tám. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi có chép: "Hoa Triều thuộc huyện Đông Anh, Kinh Chủ thuộc huyện Hiệp Sơn, đá của hai núi ấy có vân như mây, có thể làm khánh"[6]. Đến năm 1437, vua Lê Thái Tông theo đề nghị của Nguyễn Trãi, sai lấy đá ở núi Kính Chủ làm khánh[7].
Nổi tiếng thứ hai cũng lại thấy ở Trường Sơn, Tây Nguyên một loại nhạc khí là cồng chiêng, mà ở đấy ta không phải nói nhiều vì đã được UNESCO coi là một di sản thế giới. Trống đồng được phát hiện trong nhiều đi tích khảo cổ và trong đời sống hiện nay (dân tộc Mường) cũng là một nhạc cụ, biểu tượng cho quyền uy của các tù trưởng, các vua chúa thời xưa.
Ngoài trống đồng, khánh, cồng chiêng, nhạc cụ Việt Nam còn có thêm các bộ trống lớn, bé khác nhau. Còn thấy có các loại chuông lớn treo ở các nhà thờ, các chùa chiền, các chuông nhỏ, chũm choẹ, mõ, phách, sếnh, tiền... nhiều thứ, nhiều loại dùng ở các hội hè, đình đám, ca hát trù...
Bên cạnh bộ gõ là chủ yếu đã nêu ở trên, ta thấy có thể thêm bộ hơi như khèn, kèn môi (kèn lá), sáo, tiêu, đàn klaong put... Các nhạc cụ thuộc bộ hơi này mỗi tộc người một khác. Có thể coi thuộc tính bản địa là chiếc kèn môi đơn giản nhất là lá rừng nhằm gọi thú cũng như gọi người yêu. Đàn tơ rưng đứng giữa bộ hơi và bộ gõ là thứ đàn độc đáo cùng với kloang pút ở Tây Nguyên. Đàn ngày trước làm đơn giản, nay được nghệ sĩ nhân dân Đỗ Lợi phát triển thêm để có thể biểu diễn một mình trên sân khấu.
Khèn lá. Ảnh: Bảo tàng dân tộc học Việt Nam
|
Bộ dây khá phong phú thường có nguồn gốc nước ngoài như đàn tỳ bà, đàn tranh, đàn đáy, đàn nguyệt, đàn nhật. Đàn bầu một dây đơn giản, độc đáo nhưng vẫn có khả năng thể hiện nhiều thanh điệu khác nhau là thứ đàn duy nhất bản địa. Các đàn khác có thể nhập từ ngoài vào, và được tiếp biến khá nhuần nhuyễn thấy. Từ thời Lý – Trần, các đàn này đã được đặc tả trong hình tượng phường bát âm chạm khắc ở chân bệ đá chùa Phật Tích (Tiên Sơn, Bắc Ninh). Đời Trần đã thấy mô tả nhạc cung đình trong Sử giao khúc tập khá tỉ mỉ: có nghi thức đánh trống đồng trong quân cấm vệ dẫn đón đoàn sứ giả và phường bát âm biểu diễn riêng hay hòa tiếng ca: tì bà, cầm, đàn tranh, nhất huyền (đàn bầu), song huyền (nhị), sáo, tiêu các thứ (tiểu nhạc). Đại nhạc trong đại lễ có trống, trống cơm, tất tiêu, tiểu quản, tiểu bạt, đại cốc (mõ) mà vị trí ưu tiên "lĩnh xướng" vẫn dành cho bộ gõ.
Vài thế kỷ gần đây, âm nhạc phương Tây tràn vào đã lấn át âm nhạc dân tộc, ảnh hưởng đến tầng lớp thị dân.
Cách ghi nhạc cũng theo 5 nốt của đàn cầm xưa: vũ, trương, giác, thương, cung, sau tăng thành 7 âm: cung, thương, giác, vũ, thủy, thiếu xung và thiếu thương tương ứng với 7 nốt: hồ, xừ, xang, xế, cống, lìu, u... Gần đây âm nhạc Việt Nam đã phổ biến 7 nốt nhạc của phương Tây: đồ, rê, mi, pha, son, la, sí.
Ở các cư dân Trường Sơn – Tây Nguyên, âm nhạc thường giữ được nét bản địa của văn hóa phương Nam. Các cư dân Việt và các tộc người thiểu số miền Bắc, có loại thực sự bản địa, có loại ảnh hưởng của văn hóa Việt, Trung Hoa.
2. Dân ca: là lời hát bình dân được truyền miệng, không rõ người hay dân gian sáng tác. Nội dung dân ca rất phong phú. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, lúc lao động hay nhàn hạ, lúc buồn rầu, khi vui vẻ, người dân mượn lời ca để biểu lộ tâm tình của mình. Họ nói lên lòng yêu quê hương đất nước, yêu người đồng loại, ca ngợi lao động sản xuất, ca ngợi tình yêu trai gái, đám cưới, đám ma hay ca ngợi những vị anh hùng dân tộc có công dựng nước và bảo vệ quê hương chống quân xâm lược, đồng thời nói lên nỗi chịu đựng cũng như sự căm hờn đối với cuộc đời bất công trong xã hội; châm biếm, mỉa mai sự thối nát của bọn quan lại, địa chủ. Người Thái tin rằng sức mạnh của lời ca tiếng hát của họ sẽ:
Hát vào núi đá, núi lửa thành vôi
Hát vào sườn núi, rồng cả hiện về
Hát xuống ruộng đồng, thóc lúa chín vàng
Hát vào tháng 9, tháng 10, trời phải quên mưa([8])
Đồng bào làm thơ để mà hát và chính vì hát nên mới làm thơ([9]). Có loại hát tại nhà, tại rừng núi, tại chợ, tại sân khấu. Có loại có thể tổ chức như hát quan họ, hát xoan, hát phường vải. Có loại vừa mang tính tổ chức, vừa mang tính chất riêng lẻ như hát cặp đôi trai gái hay hát phục vụ một đối tượng nhất định. Lấy thí dụ ở nhóm Tày Thái.
Nếu như ở người Tày có điệu lượn, người Nùng có điệu slí thì người Thái có điệu khắp. Ba điệu này có những điểm chung cơ bản, tuy có những chi tiết khác nhau, từ đó ta có thể suy ra các điệu đó cùng chung một gốc mà ra. Ta có thể coi điệu khắp của người Tày ở lưu vực sông Hồng, sông Lô là gạch nối giữa điệu khắp của người Thái Tây Bắc và điệu lượn của vùng tây Đông Bắc; điệu lượn của nhóm Nùng Giang, Cao Bằng là gạch nối của điệu lượn phổ biến của người Tày với điệu slí của người Nùng.
Điệu khắp của người Thái có nhiều thể loại. Có loại hát một mình để giãi bày tâm sự với chính mình như khắp xừ (khắp bài xừ). Có loại hát như ngâm một bài thơ hay một truyện thơ dài cho người khác nghe. Có loại hát tập thể hay hát đôi như khắp báo xao (trai gái), khắp xừ đếch nọi, tức hát đồng dao. Có loại khắp lồng tồng khi hát trong hội mở đầu mùa cấy lúa, có loại hát chèo thuyền hay đẩy thuyền ngược sông Đà, khắp nhúm hưa, có điệu hát ru em, khắp ủ lụ nòn. Có loại khắp then phục vụ các nghi lễ v.v... Đặc biệt có loại khắp chương do người già kể chuyện Chương Han, một anh hùng thần thoại chống cả trời (Then), làm loạn thiên đình, buộc Then Luông (tức trời) chia đôi giang sơn nhà trời, cho làm phó then. Khắp Chương với lời lẽ mạnh mẽ, đầy chí khí chiến đấu và nhạc điệu dồn dập là vũ khí văn học được dân Thái ưa thích và trước đây các chúa đất Thái cấm hát loại này. Lượn, slí có những loại như khắp. Đặc biệt khi tiếng sấm ra đầu xuân, đồng bào Tày, Nùng có điệu lượn cuội. Khi làm hội lồng tang (xuống đồng), có lượn Nàng Hai mời "nàng Trăng" xuống hát nhân buổi lễ Thanh minh. Có lượn slư keo tức ngâm thơ người Kinh. Có lượn phong slư là viết thơ tình. Hai loại lượn cuối cùng của người Tày là do chịu nhiều ảnh hưởng nhiều của người Việt từ khi nhà Mạc lên chiếm đóng Cao Bằng.
Với các tộc người thiểu số miền Bắc khác, cũng có các loại ca hát như khắp, lượn, slí. Tuỳ theo các hoàn cảnh khác nhau mà có những từ ngữ khác nhau để gọi, như người Mường gọi là thường rang (đang), lẹo mẹng. Người Sán Dìu, Sán Chay gọi là soỏng cô, người Hán phương Nam gọi là sình ca. Người Giáy gọi là vươn, có khi còn gọi là lượn do ảnh hưởng của người Tày.
Ở Trường Sơn – Tây Nguyên, phổ biến các tên gọi dành cho hát đối đáp như người Ê Đê gọi là m’uynh, người Ba Na gọi là hri và avơng (a nhỏng) hoặc hvơng (avơl), người Xơ Đăng gọi là ting tinh, ting le; người Mạ gọi là tăm pớt; người M’nông hay Cơ Ho gọi là lơ pơng, đôih, palwar; người Tà Ôi hay Cơ Tu gọi là cha chấp, người Vân Kiều gọi là oát, người Chứt gọi là cà tơm, cà lênh v.v... Một số tộc người còn có các điệu hát đối đáp trong đám cưới như hát quan lạng ô của người Tày, Nùng. Một số tộc người còn có riêng điệu hát than vãn dùng trong đám ma, như người Ê Đê có điệu chok, người Ba Na có điệu hmoi, người Gia Rai có điệu ađoh, ahih...
Không nên nhầm việc chuyện kể anh hùng ca ở Tây Nguyên hay ở một số tộc người khác như Mường, Thái, H’mông với các loại hát kể trên. Người già khi rỗi rãi hay kể cho con cháu nghe, đôi lúc có nhạc kèm theo. Đó là hình thức khan (Ê Đê) hay hơ mon (Ba Na, Xơ Đăng).
Ở người Việt, có nhiều loại ca hát như hát đối đáp, hát cửa đình, hát đồng dao, hát ru em, hát cò lả...
3. Hò: hò xuất hiện trong lao động nhằm làm cho công việc đỡ vất vả mệt nhọc. Có loại hò trên cạn như hò kéo gỗ, hò dệt vải, hò lao động sản xuất nông nghiệp. Có hò chèo thuyền qua các thác ghềnh hay khi kéo thuyền đi ngược dòng. Ngoài các loại hát ca mang tính phổ thông còn có các làn điệu dân ca có tính tổ chức như ở người Việt có hát quan họ Bắc Ninh, có hò Huế, có hát ví, hát dặm Nghệ - Tĩnh, có hát đúm Hưng Yên, có hát các điệu lý ở miền Nam.
Ngoài ra, còn các điệu chèo mang tính sân khấu. Hát xẩm là điệu hát rong của người mù, hát ca trù mang tính thính phòng, hát chầu văn mang tính tôn giáo (lên đồng).
Hát quan họ: là dân ca đặc sắc của tỉnh Bắc Ninh, gắn liền với hội Lim (thường được tổ chức vào ngày 13 tháng giêng âm lịch). Đây là loại hát có tổ chức, thường gọi là họ gồm từ 5 đến 6 người, không kết họ với người cùng làng mà lại kết nghĩa liền anh, liền chị với người khác thôn. Hai họ trao đổi qua lại thấy hợp nhau thì kết chạ. Khi đã kết chạ, theo lệ quan họ quy định, các cặp liền anh, liền chị không bao giờ được lấy nhau([10]), chỉ coi là bạn thân tình đối xử với nhau như người ruột thịt.
Hát xoan: tức là hát xuân, thường tổ chức vào mùa xuân, nổi tiếng ở Phú Thọ. Một phường hát xoan thường có từ 16 đến 18 người ở độ tuổi mười tám, đôi mươi, trai gọi là kép, gái gọi là đào, có một ông trùm lo việc luyện tập và tổ chức buổi hát. Đó là một loại dân ca có tính nghi lễ, nội dung bài hát đề cao các vị thần phù hộ cho mùa màng, cho đời sống con người. Trong quá trình phát triển, hát xoan chịu ảnh hưởng của Nho giáo, ca ngợi những tấm gương trung hiếu, tiết nghĩa. Sau hát xoan nghiêng về những điệu hát giao duyên và tình cảm yêu thương, giận hờn đôi lứa hoặc tình yêu đối với quê hương.
Hát ví Nghệ - Tĩnh: là loại dân ca lao động phản ánh sự phong phú của đời sống nhân dân. Hát ví được tổ chức thường xuyên không tính ngày tháng. Có nhiều loại hát ví tuỳ theo nghệ thuật như hát phường vải, hát cày cấy... và có cả những người có học tham gia. Hát ví thường tập hợp nhiều người, có trai có gái thách đố nhau hát, đôi khi mang tính trêu ghẹo. Có người cầm trịch thường là người có học hay có tuổi.
Đàn ca tài tử Nam Bộ, xuất phát từ ca nhạc cung đình quyện với dân ca Huế, khi vào Nam lại tiếp thu những đặc tính của dân ca Chăm. Đàn ca tài tử Nam Bộ phản ánh tính Bắc khoẻ khoắn vui tươi với nhạc Nam da diết ai oán. Đàn ca tài tử Nam Bộ mang tính ngẫu hứng tự phát, khi có nhu cầu thưởng thức của quần chúng ở bất cứ đâu, vào thời gian nào. Đàn ca tài tử Nam Bộ được chuyển thành sân khấu cải lương, tuy vậy vẫn có sức sống của nó và đáp ứng dược nhu cầu của người dân Nam Bộ.
(còn tiếp)
Nguồn: Văn hóa Việt Nam đa tộc người. Khảo cứu của Đặng Nghiêm Vạn. NXB Văn học sắp xuất bản.
|