tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 15977400
Tiểu thuyết
22.09.2015
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrock

PHẦN MƯỜI MỘT


Chương I


 


Có những lúc đột nhiên chúng ta sực nhớ đến người này người khác, không biết giờ này ở đâu? Đột nhiên chúng ta sực nhớ ra rằng lâu lắm rồi không thấy người ấy dạo chơi trên đường phố nữa; tiếng nói của người ấy đã biến mất trong đại hợp xướng của những âm thanh ồn ào, náo nhiệt trên thế gian này; người ấy đã vĩnh viễn rời khỏi vũ đài cuộc sống, yên giấc ngàn thu ở nơi nào đó vùng ngoại thành!


Người con gái họ Xtuyving, bà tham Bútđenbrúc, bà quả phụ bác Gốthôn chết rồi. Khi sống bà ta là mối bất hòa và là nguồn tai họa của gia đình bị Tử thần gọi đi rồi, xóa sạch mọi tội lỗi lúc bình sinh. Ba cô thiên kim tiểu thư của bà: Phơriđơríchcơ, Hensiét và Phípphi có đầy đủ lý do để đáp lại những lời an ủi của thân thích họ hàng đến viếng bằng bộ mặt đau khổ uất ức, bộ mặt ấy như muốn nói: “Các người xem, các người bức tử mẹ chúng tôi đấy!”. Mặc dù bà mẹ các cô có thể nói là đã tận hưởng tuổi trời!


Bà Kêthenden cũng đã mồ yên mả đẹp. Vài năm trước khi mất, bà bị bệnh tê thấp làm tình làm tội, nhưng cuối cùng bà ôm ấp lòng mộ đạo của con chiên mà lặng lẽ lìa trần thế một cách bĩnh tĩnh. Sự việc ấy làm cho bà em có học thức của bà vô cùng kính phục. Bởi vì ngày thường bà phải đấu tranh gay gắt với sự cám dỗ của lý trí. Với lại, lưng bà ngày một gù, thân thể bà ngày một quắt lại, nhưng, thể chất cứng cáp của bà bắt bà chịu tội ở đời này.


   Ông Pêtơ Duênman cũng đã về chầu trời! Ông ăn gần hết tài sản của ông, cuối cùng chết ở suối nước khoáng bên Hunggari, chỉ để lại cho cô con gái hai trăm mác lợi tức hàng năm. Lúc sắp chết, ông nói ông hy vọng xã hội sẽ kính trọng dòng họ Pêtơ của ông ta, cô con gái  ông được vào tu việc Thánh Giôhan.


  Ông Giúttút Cơruêgơ cũng đã từ giã cõi trần! Thật là tai hại! Bây giờ chẳng còn ai ngăn cản người đàn bà nhu nhược kia bán nốt bộ đồ ăn bằng bạc để gửi tiền coho ông con trai đã mất quyền thừa kế vẫn sống phóng đãng ở một nơi nào đó.


  Lại nói đến ông Cơrítxtian Bútđenbrúc. Không còn ai tìm thấy ông ta ở thành phố này. Ông nghị anh ông ta chết chưa đầy năm, ông ta liền dời đến Hămbuốc. Ở Hămbuốc, trước mặt của Chúa và mọi người, ông ta làm lễ thành hôn với Alina, một cô gái đã ngự trị trong tim ông ta từ lâu rồi. Không người nào có thể ngăn cản ông ta nữa. Trước đó, phần lớn số lợi tức mẹ ông ta để lại, cũng đã được chuyển về Hămbuốc. Bây giờ, theo di chúc của ông nghị Bútđenbrúc thì phần gia tài của ông ta (nghĩa là cái phần trước kia ông ta chưa xài hết), tạm thời giao cho ông bạn thân Xtêphan Kitxtenmacơ quản lý, nhưng ông Cơrítxtian vẫn được hoàn toàn tự do về mọi việc… Khi nghe ông Cơrítxtian cưới vợ, bà Tôny viết cho bà Alina Bútđenbrúc ở Hămbuốc một lá thư dài hết sức gay gắt. Lá thư ấy bắt đầu bằng câu: “Thưa bà!”. Tiếp theo là những lời lẽ chua cay, độc địa, được cân nhắc kỹ càng, nói rằng bà Tôny sẽ không bao giờ nhận bà ta và con cái bà ta làm họ hàng thân thích cả.


  Ông Kitxtenmacơ vừa là người chấp hành di chúc và là người bảo trợ của Giôhan. Ông ta chấp hành nhiệm vụ ấy thật là xuất sắc. Những chức vụ ấy làm cho hoạt động của ông ta trở nên cực kỳ trọng yếu. Bây giờ, ở Sở giao dịch, ông ta có thể tỏ ra bù đầu rối óc mà không thấy hổ thẹn với lương tâm. Ông ta có thể nói chắc chắn với mọi người rằng, ông ta đang toàn tâm toàn ý lo lắng cho người khác. Dĩ nhiên, chúng ta không nên quên rằng, vì mất nhiều công sức như thế, ông ta có thể hưởng thù lao hai phần trăm tiền thu nhập của gia đình Bútđenbrúc, không thiếu một xu. Nhưng trong công việc buôn bán, ông ta không gặp may. Chẳng bao lâu, ông ta làm cho bà Ghécđa Bútđenbrúc không được bằng lòng lắm.


  “Phải đình chỉ công việc buôn bán, phải đóng cửa công ty, và trong vòng một năm phải thanh toán cho xong xuôi”, đó là lời căn dặn của ông nghị trước khi chết. Bà Tôny nghe nói đến việc ấy mà kinh hãi.


 - Chẳng phải có Giôhan, có Hannô đấy ư?


Bà hỏi. Ông anh trai bà không xem đứa con thừa kế duy nhất của mình ra gì, nên không để lại công ty cho nó, điều ấy làm cho bà thất vọng vô cùng, đau khổ vô cùng. Tấm biển của công ty xưa nay được thiên hạ kính phục, cái gia bảo ấy được truyền qua bốn đời, cuối cùng bị vứt bỏ! Rõ ràng có người thừa kế hợp pháp hẳn hoi đó, thế mà lịch sử của công ty này cuối cùng cũng phải kết thúc. Không rõ bà đã khóc mất bao nhiêu thời gian về chuyện đó. Nhưng bà lại tự an ủi, công ty có đóng cửa tuyệt nhiên không có nghĩa dòng họ này chấm dứt. Bà hy vọng đứa cháu trai, trong tương lai, sẽ khai trương một công ty mới cho trọn thiên chức của nó, nghĩa là vẫn làm cho thanh danh tổ tiên rạng rỡ, làm cho dòng họ này trở lại thịnh vượng. Giôhan có nhiều điểm giống cụ cố chú, cho nên bà nghĩ thế cũng có lý.


  Việc thanh toán công ty cho hai ông Kitxtenmacơ và ông già Maccút phụ trách. Công việc tiến hành hết sức tồi tệ. Kỳ hạn quy định rất ngắn, cần nghiêm chỉnh giữ đúng. Thời gian thật là bức bách. Mọi việc phải giải quyết hấp tấp trong điều kiện bất lợi. Một lô hàng vội vội vàng vàng bán ra, lỗ vốn; lô sau cũng lại như thế. Kho hàng và kho lương thực đều bị hy sinh ghê gớm để lấy tiền mặt. Nếu một việc giao dịch nào đó, không bị cái tính hấp tấp quá mức của ông Kitxtenmacơ làm hỏng thì cũng bị hỏng bởi cái tính do dự chậm chạp của ông Maccút. Người trong thành phố kháo nhau rằng, về mùa đông, trước khi ông Maccút đi ra khỏi nhà, thì không những ông ta hơ áo mũ mà còn hơ cả ba toong cho nóng đã. Gặp những con người như thế thì dẫu thời cơ có lợi, nhất định cũng lỡ việc! Nói tóm lại là, thất bại dồn dập. Trong di chúc, ông Tômát Bútđenbrúc nói, tài sản của ông để lại là sáu mươi lăm vạn mác, thế mà mới một năm người ta phát hiện rằng bây giờ còn lâu mới đạt được con số ấy.


  Thiên hạ đồn đại nhiều về những chuyện thất bại trong việc thanh toán công ty; nhất là khi tin bà Ghécđa Bútđenbrúc sắp bán ngôi nhà đang ở truyền ra thì người ta càng bàn tán tợn. Người ta đưa ra nhiều tin hoang đường, nào là chuyện gì đã buộc bà ta phải làm như thế, nào là của cải nhà Bútđenbrúc mất mát một cách khả nghi như thế nào. Lâu dần, tự nhiên trong thành phố có một luồng dư luận mà bà quả phụ Bútđenbrúc ngồi ở nhà cũng biết rõ. Thoạt đầu, bà chỉ thấy dư luận ấy thật là kỳ quặc, nhưng sau rồi bà nổi cáu lên. Một hôm, bà nói với bà em chồng rằng, mấy ông thợ thủ công và mấy nhà buôn nọ giục bà thanh toán ngay cho họ. Bà Tôny ngẩn người đi một lúc lâu rồi phá lên cười sằng sặc, nghe đến dợn tóc gáy. Bà Ghécđa giận lắm, thậm chí tỏ ý – mặc dù cũng chưa dứt khoát – đem Giôhan bỏ thành phố này về với bố ở Amxtécđam, chơi nhạc song đôi với bố. Bà Tôny hết sức phản đối. Bà Ghécđa buộc phải tạm thời bỏ ý định kia đi.


    Cũng có thể đoán được là bà Tôny phản đối cả việc bán tòa nhà do ông anh bà bỏ tiền ra xây dựng. Bà thở vắn than dài, phàn nàn rằng chuyện này sẽ có một ảnh hưởng rất không hay, tổn hại đến thanh danh dòng họ. Nhưng cuối cùng, bà cũng phải thừa nhận rằng, có tiếp tục ở đây, có tiếp tục giữ tòa nhà rộng lớn tráng lệ này, - ông Tômát Bútđenbrúc vung tiền ra vì thích như thế - là không thực tế. Trái lại, nguyện vọng của bà Ghécđa được dọn đến một ngôi biệt thự ở khu rừng ngoại thành là đúng.


   Đối với ông Gốtxơ chuyên nghề môi giới chào hàng, Digítman Gốtxơ, thì từ đó lại bắt đầu những ngày vẻ vang. Một việc quan trọng làm cho những năm cuối đời ông ta trở lại rạng rỡ, tay chân ông ta có đến mấy tiếng đồng hồ không run rẩy, ấy là việc ông ta xuất hiện trong phòng khách của bà Ghécđa Bútđenbrúc, ngồi trên chiếc ghế có tay vịn trước mặt bà, mặc cả về tòa nhà này. Mái tóc bạc của ông ta xõa xuống trước mặt, cằm của ông ta nhô ra phía trước, mắt ông ta nhìn chằm chằm vào mặt đối phương. Lúc này, trông ông ta giống hệt một người gù lưng. Giọng nói ông ta vẫn riết róng, lạnh lùng, khô khan, không hề tỏ ra xúc động mảy may. Ông ta bằng lòng mua lại tòa nhà ấy. Ông ta giơ tay ra, nở nụ cười xảo quyệt, trả tám vạn rưỡi mác. Với giá ấy thì có thể bán được, bán một tòa nhà như thế không thể không chịu lỗ ít nhiều. Nhưng lại không thể không nghe ý kiến của ông  Kitxtenmacơ được. Bà Ghécđa Bútđenbrúc đành để ông Gốtxơ giao thiệp với ông ấy về việc này nữa. Sau đó mới biết rằng, nguyên là ông Kitxtenmacơ đã để cho người khác nhúng tay vào quyền hạn của mình. Cái giá ông Gốtxơ trả, ông không thèm để ý đến. Ông cười nhạo báng, nói rằng, ông có thể bán cao hơn, ông không thể với người khác như thế. Nhưng cuối cùng thì để cho sự việc kết thúc đi, ông đành bán tòa nhà ấy với giá bảy vạn rưỡi mác cho một người sống độc thân đã có tuổi. Người này vừa đi du lịch nước ngoài về, chuẩn bị cư ngụ lâu dài ở thành phố này.


  Việc mua lại chỗ ở mới cũng do ông Kitxtenmacơ đứng ra giảy quyết. Đấy là một ngôi biệt thự nhỏ xinh xắn, giá cả có lẽ hơi đắt một chút, nhưng bà Ghécđa rất vừa ý. Ngôi biệt thự nằm ở ngoại ô cạnh con đường hai bên toàn cây dẻ, giữa một vườn trồng hoa và cây ăn quả… Mùa thu năm 1876, bà nghị, cậu con trai, người giúp việc dọn đến ở, đem theo một ít đồ đạc. Còn nữa thì lưu lại chuyển giao chủ mới cùng với tòa nhà trong tiếng than thở của bà Tôny.


  Nhưng không phải chỉ có chuyện thay đổi ấy mà thôi! Bà Iungman, bà Iđa Iungman giúp việc cho nhà Bútđenbrúc bốn mươi năm nay, cũng không giúp việc cho nhà này nữa. Bà về quê ở miền tây Phổ, sống cùng với thân thuộc những năm cuối đời. Nói thật thì bà bị bà nghị cho về. Khi lớp người trước đã khôn lớn, không cần bà trông nom nữa thì con người lương thiện ấy liền tìm được chú Giôhan, bà trông nom, chỉ bảo, kể chuyện cổ tích Grim, chuyện ông bác chết vì bệnh nghẹn cho chú nghe. Nhưng bây giờ chú không còn bé bỏng gì nữa, đã mười lăm tuổi rồi. Tuy người chú yếu ớt, nhưng bà chẳng còn được việc gì cho chú nữa… Đã vậy, bà Iungman và mẹ chú từ lâu không hợp ý nhau. Mẹ Giôhan vào cái nhà này sau bà nhiều, xưa nay bà Iđa vẫn xem bà ta không phải là người chính thống của gia đình Bútđenbrúc. Mặt khác, cùng với tuổi tác, bà cũng ngày càng trở nên tự phụ, kiêu ngạo. Thân phận là người giúp việc, nhưng bà thường vượt quá quyền hạn của mình. Tính tự cao tự đại và tính bao biện mọi công việc trong nhà là mối bất hòa giữa chủ và tớ. Tình trạng ấy khó mà kéo dài, thậm chí có lúc hai bên cãi nhau tay đôi, mặc dù bà Tôny trổ hết tài nói khéo của mình để hòa giải, nhưng cũng như chuyện bà ta năn nỉ đừng bán cái tòa nhà và các thứ đồ đạc đi, bà Iđa vẫn bị thải hồi.


    Đến giờ phút cuối cùng, sắp phải từ biệt chú Giôhan, bà khóc thảm thiết. Chú Giôhan ôm hôn bà rồi chắp tay sau lưng, đứng một chân, chân kia kiễng lên tiễn bà bằng mắt. Đôi con mắt có quầng đen của chú có vẻ suy tư, trầm lắng, cũng như khi chú nhìn thi thể bà nội, nhìn cái chết của bố, nhìn sự tan nát của gia đình chú và cả những chuyện khác nữa. Tất nhiên, xét bề ngoài thì những việc này không quan trọng bằng những việc vừa nói ở trên. Chú đã chứng kiến bao nhiêu cảnh ly tán, chết chóc, phá sản, sụp đổ nên trong ý nghĩ của chú, việc chia tay với bà Iđa chỉ là việc cuối cùng xảy ra sau những việc kia mà thôi. Không việc nào làm chú kinh ngạc cả. Có lúc, chú ngước đầu có mái tóc vàng nhạt, mím chặt môi, mở to cánh mũi rất thính của chú, tựa hồ chú đang hít thở không khí, bao bọc chung quanh một cách cẩn thận, nhẹ nhàng, sợ ngửi phải cái mùi lạ lùng mà quen thuộc kia, cái mùi mà hương thơm của hoa bày trên bàn thờ bà nội chú năm ấy không át nổi!...


    Mỗi lần bà Tôny đến thăm bà chị dâu, bao giờ cũng kéo cháu lại, kể lại lịch dòng họ Bútđenbrúc và tương lai sán lạn cho chú nghe. Tương lai họ này, bà Tôny nói, nhờ ơn Chúa là hoàn toàn trông mong vào một mình Giôhan. Cuộc sống trước mắt càng nhiều nỗi lo âu thì bà càng say sưa nhắc đến hào hoa thời cụ nội và cụ thân sinh bà. Cụ tổ chú Hannô đã từng ngồi xe tứ mã đi du lịch khắp nước Đức thế nào! Một hôm, dạ dày bà bỗng đau quặn lên chỉ vì Phơriđơrichcơ, Henriét và Phípphi đồng thanh nói rằng gia đình nhà Haghenxtruêm là tinh hoa của xã hội!


   Tin tức về ông Cơrítxtian thật là đau lòng. Ông lấy vợ lần này chỉ làm hại thêm cho sức khỏe ông mà thôi. Cái bệnh hoảng loạn của ông trước kia lúc nào cũng thấy một ảo ảnh rất dễ sợ, xem chừng ngày một nặng lên. Nghe lời khuyên của vợ và bác sĩ, ông vào nằm ở một viện tâm thần. Ở đây, ông rất buồn. Ông viết cho người nhà nhiều bức thư phàn nàn rằng, ông mong được ra khỏi viện, người ta chăm sóc bệnh nhân tồi tệ lắm. Nhưng bệnh viện quản lý ông nghiêm ngặt, có lẽ đó là phương pháp tốt nhất đối với ông. Dù sao đi nữa thì đó cũng là dịp để vợ ông được tự do như hồi còn một thân một mình, không bị câu thúc mà không bị trở ngại gì về mặt thực tế và mặt đạo đức do cuộc hôn nhân đem lại.


 


   CHƯƠNG II


 Chiếc đồng hồ báo thức réo lên không sai một giây, đến là vô tình! Đó là những âm thanh rạn vỡ, không lảnh lót nữa, mà rè rè, phành phạch. Chiếc đồng hồ nhiều năm rồi, máy móc mòn hết, chuông thì kêu vẫn rất lâu đến nỗi làm người ta cảm thấy tuyệt vọng. Giây cót chuông vẫn tốt.


  Hannô Bútđenbrúc bỗng giật mình đánh thót. Mỗi sáng, tiếng chuông từ trên cái bàn đặt ở đầu giường, đột ngột, ác độc nhưng rất trung thực, rót vào tai chú làm cho chú phẫn nộ, bi ai, tuyệt vọng đến nỗi lục phủ ngũ tạng cũng co rúm lại! Nhưng chú vẫn tỏ ra bình tĩnh, vẫn nằm nguyên tư thế cũ. Chú đã tỉnh giấc, vội mở choàng mắt ra.


   Trong căn phòng nhỏ lạnh lẽo chưa có lấy một chút ánh sáng, chú không nhìn rõ đồ vật và cũng không trông thấy những chiếc kim trên mặt đồng hồ. Nhưng chú biết bây giờ đã sáu giờ rồi, bởi vì tối hôm qua chú để chuông reo vào giờ ấy… Hôm qua… Khi chú nằm im, ngửa mặt lên trần nhà, thần kinh căng thẳng, đấu tranh mãnh liệt có nên dậy bật đèn hay không, thì những sự việc xảy ra hôm qua, lần lượt hiện về trong ký ức.


  Hôm qua chủ nhật, sau mấy hôm liền bị ông Phít quần cho mệt nhoài, để thưởng cho chú, mẹ chú bằng lòng đưa chú đi xem vở nhạc kịch Lôhengơrin1 ở nhà hát. Niềm vui của buổi tối hôm qua chi phối trái tim nhhỏ bé của chú suốt tuần. Đáng tiếc là, trước khi được hưởng niềm hạnh phúc ấy, lại gặp vô số chuyện phiền não, cho đến phút chót, tâm tình của người mong mỏi được nhẹ nhàng thoải mái, vẫn bị những việc kia dày vò đến tan nát. Nhưng rồi ngày thứ bảy đã đến, bài vở trong tuần đã làm xong, chiếc máy khoan răng với những âm thanh xè xè ghê rợn đã khoan được một lỗ cuối cùng trong miệng cậu… Bây giờ mọi việc đã qua rồi, những gì đã phải chịu đựng đã chịu đựng rồi. Chú quyết định gác lại mọi việc sau ngày chủ nhật. Thứ hai ư? Thứ hai nhất định sẽ tới ư? Người nào đi xem nhạc kịch Lôhengơrin vào tối chủ nhật thì sẽ không thể tin là có ngày thứ hai được. Chú quyết định, sáng sớm ngày thứ hai phải thanh toán hết những việc đáng ghét ấy đi - thế là xong! Thế là chú có thể thanh thản tận hưởng niềm vui. Chú ngồi mơ màng trước chiếc đàn pianô, quên hết những việc không vừa ý.


    Rồi hạnh phúc biến thành hiện thực. Hạnh phúc thình lình đến với chú theo thần thánh và ma lực, những chấn động và những nỗi kinh hoàng thần bí, những tiếng nức nở đột ngột trong nội tâm, những niềm say mê tràn trề không biết chán. Tất nhiên khi mới dạo khúc mở đầu trong dàn nhạc đã có tiếng viôlông của người nào đó hơi kém, tưởng không theo nổi; lại có một ông nào béo tròn, râu quai nón màu vàng nhạt, vẻ tự đắc, ngồi lô đặc biệt, hoa chân múa tay không tự nhiên chút nào; ngoài ra, trong ghế bên cạnh là ông Xtêphan Kitxtenmacơ, người bảo trợ của chú, đang càu nhàu nói rằng không nên đem trẻ em vào nhà hát, làm cho nó không tập trung vào bài vở. Nhưng tất cả những cái đó chú không để ý, bởi vì tiếng nhạc ngọt ngào, trầm lắng đã rót vào tai chú, đưa chú bay cao, bay cao lên mãi…


    Vở nhạc kịch kết thúc. Niềm hạnh phúc ca hát huy hoàng im bặt, không còn màu sắc sáng tươi nữa. Chú trở về ngôi nhà nhỏ, đầu óc căng thẳng. Chú ý thức rằng, khoảng cách giữa chú và cuộc sống bình thường, xám xịt chỉ còn trong mấy tiếng đồng hồ mà thôi. Lúc này, cảm giác nặng nề quen thuộc lại quấn chặt lấy chú. Chú cảm thấy, cái đẹp có thể làm cho con người đau khổ, làm cho con người rơi vào tâm trạng vừa xấu hổ, vừa thèm muốn, vừa tuyệt vọng, có thể làm tiêu tan dũng khí và sức lực của kẻ muốn sống bình thường. Cái cảm giác tuyệt vọng dễ sợ kia như một quả núi đè nặng lên người chú. Chú không thể không nhắc lại rằng, không phải chú chỉ  gánh cái đau khổ của mình mà thôi, gánh nặng ấy đè lên tâm hồn chú từ ngày chú ra đời, và sớm muộn sẽ có ngày bóp chết linh hồn chú.


   Chú hãm chuông đồng hồ rồi ngủ tiếp. Chú ngủ như chết, như không còn trở dậy nữa. Thế nhưng, ngày thứ hai đã đến, và đã sáu giờ rồi, thế mà bài vở chú chưa làm gì cả!


 Chú ngồi dậy, thắp cây nến trên chiếc bàn con ở đầu giường. Trong căn phòng lạnh ngắt, hai tay và bả vai chú tê dại đi. Bất giác chú lại nằm xuống, trùm chăn thật kín. Kim đồng hồ chỉ sáu giờ mười phút…


  Bây giờ có dậy làm bài cũng chẳng ăn thua gì. Bài vở nhiều, hầu như tiết nào cũng có bài tập, bây giờ làm cũng không kịp. Với lại, thời gian chú dự định đã qua lâu rồi… Hôm qua chú đoán thế hôm nay thế nào cũng đến lượt chú bị gọi lên đọc bài latinh và bài hóa. Lẽ nào lại rủi ro như vậy! Tất nhiên theo dự đoán, có thể xẩy ra như thế. Gần đây, bài latinh giảng đến Ôviđơ. Tên học sinh trong lớp sắp đặt theo thứ tự a,b,c… lần trước thầy giáo gọi từ dưới lên, hôm nay có thể gọi từ trên xuống. Không chắc đã đúng như thế. Quy luật có lúc cũng sai. Lạy Chúa, làm sao cho sự việc đừng xảy ra! Trong lúc đưa ra đủ các thứ giả thuyết để lừa dối mình, thì dòng tư tưởng của chú dần dần ngưng lại một chỗ. Chú lại ngủ thiếp đi.


   Căn phòng này rất lạnh lẽo, trống trải, đầu giường treo bức tượng Đức Mẹ, giữa phòng kê một cái bàn, mặt có thể mở rộng ra được, cái tủ sách rất lộn xộn, chiếc bàn học mặt nghiêng, chiếc pianô và một cái giá để chận rửa mặt… Tất cả các đồ vật ấy đều im lìm dưới ánh sáng lay lắt của ngọn nến. Rèm cửa không buông xuống cốt là để cho ánh sáng mặt trời chiếu vào, trên cửa kính có nhiều hoa tuyết. Hannô  Bútđenbrúc đang ngủ, mặt úp vào gối. Miệng chú hé mở, hai hàng mi khép chặt, trông có vẻ ngủ say mà cũng có vẻ đau khổ. Một mớ tóc vàng mềm mại che lấp thái dương. Ngọn nến trên bàn nhạt dần, mất màu sắc nửa vàng nửa đỏ. Ánh bình minh ảm đạm thê lương chiếu qua tấm cửa kính đầy hoa tuyết vào trong phòng.


   Bảy giờ, chú lại giật mình tỉnh dậy. Thì giờ lại trôi qua. Phải dậy mà đón lấy gánh nặng của ngày hôm nay, không còn cách nào khác nữa. Chỉ còn một tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa là đến giờ lên lớp… Sắp đến giờ, bài vở chưa làm gì cả. Mặc dù như vậy, chú vẫn nằm không nhúc nhích, cứ nghĩ đến việc phải rời cái giường ấm cúng trong buổi sáng lạnh lẽo, ảm đạm này để đi vào giữa đám người vô tình, độc ác, đón nhận tai ương và hiểm nghèo, lòng chú vừa đau nhói vừa giận hờn, không chịu đựng nổi. “Ôi mình muốn nằm thêm vài phút, vài phút nữa thôi” – chú van xin với chiếc gối. Tiếp đó, để tỏ ý phản kháng, chú cho mình năm phút, chuẩn bị ngủ lại. Lúc này, thỉnh thoảng chú lại mở mắt ra, tuyệt vọng nhìn kim đồng hồ vẫn di động một cách ngu ngốc, vô tình và chính xác.


  Bảy giờ mười phút, chú đành nghiến răng trở  dậy, đi đi lại lại trong phòng dáng vội vã. Ngọn nến vẫn cháy, bởi vì ánh sáng mặt trời chưa đủ chiếu sáng căn phòng. Khi chú hà hơi cho hoa tuyết trên cửa kính tan ra, chú thấy mây mù dày đặc phía ngoài.


   Chú lạnh lắm, thỉnh thoảng lại rùng mình. Ngón tay chú buốt như lửa đốt, sưng to, không dám đụng đến cái bàn chải móng tay. Khi chú rửa được nửa người, hai tay gần như tê dại. Chú vứt miếng bọt biển xuống nền nhà, đứng thừ ra một lúc. Người chú bốc hơi như con ngựa đẫm mồ hôi.


  Cuối cùng, chú mặc quần áo, thở hổn hển, ánh mắt buồn rầu, đứng trước cái bàn xếp cầm cặp sách, đem hết sức lực còn lại chọn những cuốn sách hôm nay cần phải mang đến lớp. Chú đứng đấy, mơ màng nhìn lên không trung, sợ hãi, lẩm bẩm.


 - Thần học… Latinh… Hóa… - rồi nhặt những cuốn sách rách và dây mực để vào một chỗ.


  Ừ, chú Giôhan lúc này cũng đã cao ngồng. Chú đã hơn mười lăm tuổi, không mặc áo lính thuỷ như trước nữa. Bây giờ chú mặc chiếc áo vét màu nâu nhạt, quàng chiếc khăn cổ chấm trắng, túi áo gi lê đeo dây đồng hồ vàng dài tổ tiên để lại. Bàn tay chú to, ngón tay út bên trái đeo chiếc nhẫn ngọc xanh cũng của tổ tiên để lại. Chiếc nhẫn bây giờ thuộc quyền sỡ hữu của chú rồi. Chú khoác chiếc áo len to xù, đội mũ, cầm cặp sách, thổi tắt nến rồi vội vàng từ trên gác hai đi xuống. Chú đi qua nơi đặt con gấu nhồi, rẽ sang tay phải, vào phòng ăn.


  Người ở gái mới của mẹ chú, chị Cơlêmăngtin một cô gái gầy, mũi nhọn, mắt cận thị, có mấy sợi tóc quăn bết xuống trán, đã ở đấy rồi. Chị đang sửa soạn cái gì đó trước bàn ăn.


- Mấy giờ rồi nhỉ?


Hannô hỏi lí nhí, mặc dù chú biết rõ giờ giấc hơn ai hết.


- Tám giờ kém mười lăm! – Chị ta vừa trả lời, vừa đưa ngón tay đỏ và gầy như bị phong thấp lên chỉ chiếc đồng hồ treo trên tường – Cậu ăn nhanh lên – Nói xong, chị ta đặt xuống chỗ chú ngồi một cốc ca cao nóng hổi và đẩy dĩa bánh mì, bơ, muối và một quả trứng rán lại trước mặt chú.


 Chú im lặng, cầm chiếc bánh mì. Đầu vẫn đội mũ, nách vẫn kẹp cái cặp sách, chú bắt đầu uống ca cao. Cốc ca cao nóng làm cho cái răng đang được bác sĩ chữa, đau nhói lên. Chú chỉ uống một nửa, không ăn trứng gà. Chú khẽ nhếch miệng méo xệch chào một tiếng rồi đi ra.


Khi chú đi ra vườn hoa cách ngôi biệt thự nhỏ màu đỏ kia một quãng xa, rẽ về tay phải, đi theo con đường rợp bóng, thì đã tám giờ kém mười. Còn mười phút, chín phút, tám phút nữa… Đường xa lắm. Sương mù bao phủ khắp nơi, cũng chẳng biết mình đi được bao xa. Chú hít cả sương mù lạnh ngắt vào phổi rồi lại thở ra, lồng ngực bé nhỏ của chú phải cố sức làm việc. Lưỡi chú đưa vào cái răng bị ca cao làm đau nhức, bắp chân cử động mạnh. Người chú đẫm mồ hôi nhưng tay chân chú chẳng ấm lên được tý nào. Chú thấy nhoi nhói hai bên sườn. Buổi sáng đã phải vận động như thế làm cho thức ăn trong bụng đảo lộn lên, chú cảm thấy buồn nôn, tim đập mạnh. Chú không còn thở ra hơi nữa.


 Cửa thành, bây giờ mới qua cửa thành! Chỉ còn bốn phút nữa là đúng tám giờ. Trong khi chú phải vật lộn với mồ hôi lạnh, với cảm giác nôn nao, với cái răng đau, chú phải nhìn quanh xem còn gặp bạn nào không. Không còn, chú không thấy ai nữa! Mọi người đã tới trường cả rồi. Đồng hồ đã đánh tám giờ. Tiếng chuông từ các gác chuông xuyên qua lớp sương mù vọng lại. Tiếng chuông nhà thờ Xanh Mari ngân ngay bài “Chúng con cám ơn Chúa!”, để chào mừng giờ ấy. Chuông đánh sai nhịp. Chú Hannô vừa chạy, vừa quả quyết như thế - chuông có biết nhịp điệu gì đâu! Với lại âm điệu cũng không chính xác. Nhưng bây giờ tất cả những cái đó đều vô ích, chú không còn hơi sức nào để tâm đến nữa. Điều quan trọng là, chú đến muộn, cái ấy là rõ ràng thôi! Chuông nhà thờ chậm hơn một chút, quả thật chú đã đến muộn. Chú chú ý nhìn vào mặt những người đi qua. Họ hoặc đến xưởng, hoặc đến phòng giấy, nhưng chẳng ai vội vã. Không một cái gì bức bách họ cả. Có người gặp cặp mắt thèm muốn, khổ não của chú cũng phải nhìn, đoán xem vì sao chú hấp tấp, tiều tụy như vậy, rồi phá lên cười, làm chú tức điên lên được. Họ nghĩ gì? Những người bề ngoài ung dung tự đại ấy đang phỏng đoán gì về chú? Chú muốn hét lên! “Các ông cười như thế là các ông thô lỗ quá lắm! Sao các ông không hiểu rằng tôi dù mệt mà có ngã gục xuống trước cổng trường đã đóng chặt, thì tôi cũng cam tâm cơ mà!”.


  Một bức tường sơn đỏ, giữa là hai cánh cửa sắt, ngăn khoảng vườn trước mặt trường với đường phố. Khi chú còn cách bức tường ấy vài chục bước, tiếng chuông cầu nguyện buổi sáng từng hồi lảnh lót đập vào tai chú. Lúc này chú không còn sức bước nữa, đừng nói là chạy. Chú cứ bổ nhào về phía trước, hai chân lảo đảo, run rẩy di chuyển, cố giữ cho người khỏi dụi xuống. Cho đến lúc chú tới cổng trường thì tiếng chuông đã dứt rồi.


Người gác cổng, to béo, râu xồm xoàm, trông biết ngay là công nhân, đang đóng cổng.


- Ê… – Chú gọi to. Để cho chú Bútđenbrúc vào biết đâu, biết đâu chú ta chẳng thoát! Chỉ cần len lén đi vào, chờ xong giờ cầu nguyện buổi sáng ở Cung thể thao, vờ vĩnh như không có gì xảy ra, thế là thoát! Chú thở hổn hển, mệt mỏi, rã rời, người đẫm mồ hôi lạnh. Chú lặng lẽ đi qua sân lát gạch, qua cái cửa lắp kính màu, vào phòng…


Trong trường cái gì cũng mới tất, cái gì cũng sạch sẽ, đẹp mắt cả, đúng với tinh thần của thời đại. Ngôi trường cũ bẩn thỉu, xám xịt, nơi ông cha lớp trẻ này ngồi học đã phá đi rồi, thay vào đó là một tòa nhà mới tráng lệ, khang trang. Mặc dù cả khối thì vẫn giữ nguyên hình dáng cũ, hành lang và các vòm trần nhọn kiểu gô tích hùng vĩ, nhưng thiết bị ánh sáng và lò sưởi phòng học, phòng nghỉ của thầy giáo, thiết bị thí nghiệm ở phòng hóa, phòng vật lý, phòng họa, tất cả đều theo nguyên tắc thuận lợi, thoải mái của thời đại mới…


Hannô Bútđenbrúc mệt rã rời, ngồi tựa vào tường nhìn bốn chung quanh… Không có ai cả, cảm ơn Chúa! Không ai trông thấy chú. Tiếng cười ồn ào từ xa vọng lại. Học sinh và thầy giáo ùa về phía Cung thể thao, sửa soạn cầu nguyện được Chúa cổ vũ ứng phó với mọi công việc nặng nề trong tuần. Nhưng ở đây thì vắng lặng như nhà mồ. Trên cầu thang trải thảm cũng không có ai lên xuống. Hannô nhón chân, nín thở, hồi hộp lắng nghe động tĩnh, vừa rón rén bước lên. Phòng học của chú và phòng học của học sinh thực hành năm thứ sáu, thứ bảy ở gác hai, đầu cầu thang. Lúc đến bậc cuối cùng, chú dướn người nhìn hành lang. Hai bên hành lang là phòng học có treo bảng sứ ở ngoài. Chú dấn bước, nhanh nhẹn đi vào phòng mình.


     Phòng học trống trải. Ba cửa sổ lớn vẫn chưa kéo màn che. Ngọn đèn măngsông từ trên trần nhà vẫn sáng, kêu xè xè trong bầu không khí yên tĩnh. Ánh sáng xuyên qua chao đèn màu xanh, chiếu vào ba dãy bàn đôi màu nâu nhạt. Đối diện với những dãy bàn học là bục giống màu nâu đậm, trông thật trang nghiêm. Trên tường, phía sau bục giảng là bảng đen. Nửa dưới bốn bức tường đều ghép gỗ, nửa trên xây đá, treo mấy tấm bản đồ. Bên bục giảng lại có một chiếc bảng đen nữa đặt trên giá gỗ.


Chỗ của Hannô gần chính giữa. Chú đi tới bỏ cặp sách vào ngăn, ngồi phịch xuống ghế, hai tay để lên mặt bàn, gục đầu vào vòng tay. Chú cảm thấy thanh thản, yên tĩnh. Gian phòng trống trải, lạnh lẽo này vốn đáng ghét, chẳng có gì hấp dẫn đối với chú, hơn nữa bao nhiêu mối đe dọa đang đè nặng lên chú, buổi sáng nay. Nhưng trước mắt thì chú rất yên tĩnh, thể xác không còn căng thẳng nữa, chú có thể yên tâm chờ đợi những việc sẽ phải xẩy đến. Cứ nói ngay tiết đầu bài thần học của thầy Balêytét thì yên trí lắm rồi! Nhìn những tờ giấy ở những lỗ thông hơi trên tường bay phấp phới có thể thấy không khí ấm áp đang tràn vào, ngọn đèn cũng làm cho căn phòng bớt lạnh. Ôi, giá ở đây có thể ngồi thẳng người để cho tay chân tê cóng được dần dần, ấm trở lại! Một luồng khí âm ấm rất dễ chịu mà cũng rất không lành mạnh bốc lên đầu, hai tai chú ù ù, mắt hoa lên.


Bỗng nghe tiếng lao xao ở phía sau, bất giác chú giật mình quay lại… Kìa, cậu bá tước Cai ló nửa người trên chiếc bàn dài phía sau. Cậu bé con nhà quý tộc này lổm ngổm đứng dậy, phủi bụi ở tay, hớn hở đi về phía Hannô Bútđenbrúc.


- Ôi, mày đấy à, Hannô! Tớ nấp ở đằng sau, lúc mày đi vào, cứ ngỡ là thầy giáo nào!


Tiếng cậu ta khàn khàn, cậu ta đang vỡ giọng. Điều ấy xảy đến với cậu ta sớm hơn Hannô. Thân hình của cậu ta cũng cao bằng Hannô, ngoài ra cậu ta chẳng có gì khác trước. Quần áo cậu ta mặc không ra màu gì, khuy đứt hết, đít quần vá một miếng to tướng. Tay cậu ta bẩn thỉu nhưng mặt mũi thì khôi ngô. Dáng điệu cao quý, ngón tay nhỏ và dài, móng tay nhọn. Mái tóc vàng thẩm, rẽ giữa, xõa xuống vầng trán trắng mịn như thạch cao, đôi mắt màu xanh nhạt, vừa thông minh, vừa sắc sảo. Sống mũi hơi gãy, môi trên cong lên một chút. Cốt cách cao quý và vẻ ngoài lùi xùi của cậu ta càng thấy tương phản hơn lúc nào hết.


- Ồ, Cai! – Hannô xệch miệng, đưa một tay lên áp vào tim – Mày làm tao hết hồn! Mày làm gì ở đây thế? Sao lại nấp? Mày cũng đến muộn đấy à?


- Đâu có! – Cai trả lời – Tao đến sớm lắm chứ! Sáng thứ hai ai cũng muốn đến trường sớm, mày còn lạ gì! Tao có đến muộn đâu, nấp để đùa thôi! Hôm nay đến phiên cái ông giáo “uyên thâm” trực nhật, ông ta lùa mọi người đi cầu nguyện, cho làm như thế chẳng có gì ngang ngược cả. Vậy là tao trốn sau lưng ông ta, mặc cho nhà thần bí ấy quay đi quay lại, dòm ngược dòm xuôi, tao cứ bám chặt ông ta cho đến lúc ông ta ra thì tao ở lại… Còn mày? – Cậu ta nói, tỏ vẻ thương hại rồi ngồi xuống cạnh Hannô – Mày chạy phải không? Tội nghiệp chưa! Mày chạy thở không ra hơi, tóc tai bết cả vào thái dương!... – Cậu ta cầm cái thước trên mặt bàn, gạt những sợi tóc ở trước trán Hannô – Mày ngủ quên à? Tao ngồi ở chỗ thằng – cậu ta ngừng lại, đưa mắt nhìn quanh – chỗ của trưởng lớp đấy! Không sao, có gì mà sợ? Mày ngủ quên phải không?


Hannô gục mặt vào cánh tay, thở dài, nói:


- Hôm qua tao đi xem hát!


- Ừ nhỉ, tao quên mất? Có hay không?


          Cai không được bạn trả lời.


- Thật là tuyệt! – Cậu ta khuyên Hannô – Mày nên nhớ điều này, Hannô. Tao chưa hề được bước chân tới cửa rạp hát đâu nhé! Bao nhiêu năm sau nữa, tao cũng chẳng có hy vọng…


- Đi xem về mà không có điều gì làm cho phải buồn thì hay biết bao nhiêu!


- Đúng như thế. Cái ấy tớ hiểu – Cai nhặt mũ và áo khoác của bạn vứt dưới đất, ở cạnh ghế lên, nhẹ nhàng đem ra hành lang.


- Thế là mày chưa thuộc bài thơ Biến dạng ư? – Cậu ta đi vào hỏi bạn.


- Chưa! Hannô trả lời.


- Mày làm xong bài kiểm tra địa lý rồi chứ?


- Tao chưa làm được tý gì cả!


- Bài hóa và bài anh văn cũng chưa ư? Tuyệt! Chúng ta giống nhau quá! – Cai tỏ vẻ thanh thản – Tao giống mày – Cậu ta phấn chấn tuyên bố - Thứ bảy tao không học, bởi vì hôm sau là chủ nhật. Chủ nhật cũng không học, bởi vì là ngày của Chúa! Không… Đùa đấy thôi! Chính là vì muốn làm một vài việc có ý nghĩa hơn – cậu ta nói, giọng nghiêm nghị, mặt hơi đỏ - Đúng như thế, hôm nay mệt quá, Hannô ạ!


- Nếu bị điểm xấu – Giôhan nói – thì tao sẽ phải lưu ban. Ông giáo dạy Latinh mà gọi thì nhất định bị điểm xấu thôi. Hôm nay bắt đầu từ vần B, chẳng còn cách nào khác!


- Cứ để xem! Nói dối thế nào? “Điều ta sợ còn nấp sau lưng ta, giấu mặt…” – Cai không đọc hết câu, cậu ta hơi lúng túng. Cậu ta đi lên bục giảng, ngồi lên tay vịn ghế của ông giáo, mặt nghiêm nghị, lắc lắc cái ghế. Hannô Bútđenbrúc vẫn gục đầu vào hai tay bắt chéo. Cứ như thế cả hai đều ngồi im lặng.


          Bỗng có tiếng rầm rập từ xa, một chốc trở nên ồn ào, chỉ nửa phút sau là ùa vào phòng.


- Chúng nó về rồi đây kia – Cai giận dữ nói – lạy Chúa, chúng nó làm nhanh quá, không đầy mười phút!


Cậu ta từ trên bục giảng đi ra cửa, trà trộn vào đám đông, còn Hannô thì ngồi yên, chỉ ngửng đầu lên, môi run run.


Đám đông mỗi lúc một đế gần, tiếng chân rào rào, giọng ồ ồ của người lớn, giọng the thé của trẻ con và cả giọng rè rè của những cậu đã đến tuổi dậy thì hòa vào nhau. Họ ùa lên cầu thang rồi chen nhau ở hành lang, tràn vào. Phòng bỗng sôi nổi hẳn. Bọn họ là bạn học của Hannô và Cai, học sinh năm thứ sáu, thứ bảy. Cả thảy hai mươi lăm, hai mươi sáu người, có anh cho tay vào túi quần, có anh lắc la lắc lư đi đến chỗ ngồi, giở quyển “Kinh thánh” ra. Bọn họ có anh mạnh khỏe, ai cũng thích, có anh lù đù, nhìn đã thấy ghét. Có anh cao to lực lưỡng, chỉ ít nữa sẽ bắt đầu đi buôn hoặc đi biển, bọn họ không thiết gì học hành nữa. Lại có những cậu tuổi tuy còn nhỏ, nhưng có chí, không rời quyển sách, rất tài học thuộc lòng. Lớp trưởng Ađônphơ Tốttenhốp thì cái gì cũng biết, không có câu hỏi nào mà không trả lời được. Cố nhiên, vì cậu ta chăm học nhưng cũng vì thầy giáo tránh hỏi cậu ta những câu mà cậu ta bí. Giả dụ các vị thấy không trả lời được thì các vị xấu hổ, lòng tin của các vị đối với con người bị lung lay! Đầu của Ađônphơ rất to, mái tóc vàng nhạt chải mượt, bóng như gương. Đôi mắt xám, quầng thâm, chiếc áo ngắn khoác ngoài sạch sẽ, cánh tay đen sì thò ra ngoài ống tay áo ấy. Cậu ta ngồi xuống cạnh Hannô Bútđenbrúc, cười cười có vẻ ranh mãnh, chào người bạn cùng bàn bằng một tiếng lóng lưu hành trong học sinh, người ngoài nghe không hiểu được. Khi những bạn chung quanh thì thầm nói chuyện, chẩun bị bài vở, ngáp vặt hoặc cười ha hả, thì cậu ta đã bắt đầu giở vở tập ra viết, ngón tay gầy guộc đưa cán bút duỗi thẳng, đúng kiểu cách, không che vào đâu được.


  Độ hai phút sau có tiếng chân từ ngoài bước vào. Mấy cậu ngồi bàn trước từ từ đứng dậy,lác đác cũng có những cậu ngồi ở bàn sau đứng dậy theo, nhưng phần lớn vẫn tiếp tục làm bài, không hề để ý đến người vừa vào. Người vừa vào là ông Balêytéc, ông ta treo mũ sau cánh cửa rồi bước lên bục.


Ông giáo Balêytéc trạc ngoài bốn mươi, người béo đậm, đầu hói một mảng, bộ râu đỏ hoe cắt rất ngắn. Ông cầm sổ tay, lặng lẽ lật từng trang. Lớp học vẫn chưa yên lặng, ông ngước đầu lên, giơ tay trắng trẻo, mềm nhũn ra vẫy vẫy. Mặt ông đỏ lên, bộ râu ở cằm hầu như biến thành màu vàng nhạt, ông lắp bắp dễ đến nửa phút, cuối cùng mới bật ra được một tiếng “thôi” nghe như rên rỉ, như bị nén lại. Ông định quở trách một câu gì đó nhưng lại không nói. Sau đó, ông trở về với cuốn sổ ghi điểm, thở dài, lúc ấy mới bình tĩnh trở lại được. Ông giáo Balêytéc là người như thế đó!


Trước kia, ông định làm một nhà truyền giáo, nhưng ông có tật nói lắp, hơn nữa, ông không thể quên được cuộc sống thoải mái, trần tục, nên đành làm nghề dạy học vậy. Ông chưa lấy vợ, có chút ít của, tay đeo chiếc nhẫn kim cương không lớn lắm. Ông thích nhất là đánh chén. Ông quan hệ với các ông giáo khác chỉ về phương diện chức vụ, nghề nghiệp. Ông thường giao du với các vị sống độc thân trong thành phố và các vị sĩ quan bảo vệ. Ngày hai bữa, ông đến ăn ở hiệu ăn ngon nhất. Ông còn là hội viên của câu lạc bộ. Có khi, vào khoảng hai ba giờ đêm, ông gặp những cậu học sinh lớn tuổi ở một chỗ nào đó trong thành phố, mặt ông đỏ nhừ, chào qua một tiếng. Cả hai bên không bên nào nói ra, nhưng đều muốn làm lơ cho qua đi. Hannô Bútđenbrúc không sợ ông chút nào, mà từ trước tới nay, ông ta cũng không hỏi han gì Hannô cả. Ông giáo này đã nhiều lần đụng đầu với ông Cơrítxtian, chú của Hannô, trong những cuộc ăn chơi dễ bộc lộ khuyết điểm nào đó của con người, nên không muốn đụng chạm tới cháu của ông Cơrítxtian…


- Thôi! – Ông nhắc lại, nhìn khắp phòng một lượt, vẫy vẫy bàn tay mềm nhũn theo nhẫn kim cương, rồi nhìn vào cuốn sổ ghi điểm – Pớclơman tóm lược!


Từ một chỗ trong lớp, Pớclơman đứng dậy. Hầu như không ai biết cậu đứng dậy, bởi vì cậu lùn tịt, nhưng học khá.


- Tóm lược – cậu ta nói khe khẽ,lễ phép, vươn dài cổ, cười bẽn lẽn, Uybơ có ba tập, tập đầu viết về Uybơ trước khi bị trừng phạt. Chương một, phần thứ nhất đến phần thứ sáu. Tập hai: khi chịu trừng phạt và sau khi chịu trừng phạt; tập ba…


- Tốt lắm, - Ông giáo cắt ngang câu trả lời của cậu. Thái độ phục tùng dễ bảo của cậu học sinh này làm cho ông cảm kích. Ông ghi điểm tốt vào sổ -, Henrici đọc tiếp, là một trong những học sinh vóc người cao lớn, bọn này không bao giờ để ý đến học hành. Cậu ta đút vội con dao gấp đang cầm nghịch ở tay vào túi quần, đứng dậy xô bàn ghế lỉnh kỉnh. Môi dưới cậu ta trễ xuống, cậu ta đọc bài giọng ồm ồm như người lớn. Học sinh rất không bằng lòng thấy ông giáo không để cho Pớclơman đọc tiếp mà gọi người khác. Trong căn phòng ấm áp này, dưới ngọn đèn măngsông kêu xè xè, học sinh ngồi mơ màng, nửa thức nửa ngủ. Cậu nào cũng còn mệt mỏi vì ngày chủ nhật. Lúc sáng sớm, giá lạnh, mây mù dày đặc, cậu nào cũng tở dài chui trong chăn ấm ra, hai hàm răng đánh lập cập. Ai cũng mong cho Pớclơman đọc nốt, suôn sẻ cho hết tiết học này uể oải qua đi. Thế mà ông giáo lại gọi Henrici, nhất định sẽ lôi thôi mất! Henrici nói cộc lốc:


- Hôm giảng bài này, con nghỉ!


Ông Balêytéc đỏ mặt, giơ nắm đấm mềm nhũn ra, môi mấp máy, trợn mắt nhìn. Đầu ông ta run run vì ông ta cố sức nói. Cuối cùng ông ta bật ra được hai tiếng: “Được rồi!”, bấy giờ thì hình như mới bớt căng thẳng.


- Xưa nay anh ta chưa trả lời được câu hỏi nào cả! – Lúc này ông ta nói, ung dung trôi chảy – Bao giờ anh cũng tìm được cớ này cớ nọ! Nếu lần trước anh ốm , thì mấy hôm sau anh phải học bù chứ! Với lại, phần thứ nhất nói về tình hình trước khi chịu nạn, phần thứ hai nói về khi chịu nạn, thì nhắm mắt lại anh cũng có thể biết phần thứ ba nói về sau lúc chịu nạn chứ! Chẳng chịu để tâm đến bài vở gì cả. Chẳng những anh không thuộc bài mà anh còn dung thứ cho cái sai của mình, biện hộ cho mình nữa. Anh nên nhớ rằng, như thế này thì anh hông thể theo kịp người khác được đâu! Ngồi xuống! Vaxécvôghen đọc tiếp… Henrici ngồi xuống, thái độ kiêu ngạo, bất cần, xô bàn ghế lỉnh kỉnh. Cậu ta nói thầm với thằng bạn ngồi cạnh một câu vô lễ gì đó rồi lại rút con dao ra, Vaxécvôghen đứng dậy. Đó là một cậu bé  mắt xanh, mũi hếch, tai vểnh, móng tay bị cắt cụt lủn. Cậu lắp ba lắp bắp nói cho hết phần tóm lược, rồi bắt đầu đọc đoạn Uybơ tới, đọc đến đoạn Uybơ chịu nạn. Cậu giở cuốn “Cựu ước” để ngay sau lưng một cậu học sinh khác ngồi trước mà đọc một cách ngây thơ, chăm chú, sau đó ấp úng đọc đến đoạn dịch tiếng Đức hiện đại viết chưa thông, chốc chốc lại ho một tiếng. Trông thằng bé thật đáng ghét, nhưng ông giáo lại hết sức khen ngợi sự cố gắng của nó. Nó vốn được ông Balêytéc yêu nhất, bởi vì hầu hết các ông giáo đều khen nó, các ông đều muốn tỏ cho nó biết là các ông không vì một em nào đó mặt mũi xấu xí mà không bằng lòng!


Bài thần học qua đi như thế. Sau đấy, còn một vài cậu học sinh bị gọi cũng đều đẻ kiểm tra sự hiểu biết về Uylơ. Gốtliép Cabom, con trai một nhà buôn lớn, bị phá sản, mặc dù cảnh nhà khốn đốn, nhưng vẫn được điểm cao vì cậu trả lời rất đúng. Uylơ có bảy ngàn con cừu, ba ngàn con lạc đà, năm trăm con bò, năm trăm con lừa và vô số nô lệ.


Sau đó, học sinh được phép giở những cuốn sách đã giở sẵn, bắt đầu học bài mới. Mỗi lần gặp một chỗ cần giải thích, ông giáo lại đỏ mặt, nói “thôi” và sau sự chuẩn bị ấy, ông bắt đầu giảng đoạn đó kèm theo những lời thuyết lý về đạo đức mà những người lớn tuổi hay nói. Không ai nghe ông giảng cả. Trong phòng, bao trùm một bầu không khí yên tĩnh và mệt mỏi. Hơi nóng tăng dần, ngọn đèn vẫn cháy, nhiệt độ trong phòng mỗi lúc một cao, không khí lại bị hai mươi lăm con người hít thở và tỏa nhiệt làm cho vẩn đục. Hơi nóng, tiếng ngọn đèn kêu xè xè và tiếng giảng bài trầm trầm, đơn điệu làm cho đầu óc các cậu học sinh mệt mỏi. Ai nấy đều ở trong tình trạng nửa thức nửa ngủ. Trước mặt cậu bá tước Cai, ngoài cuốn kinh thánh ra, còn có cả quyển Những truyện thần bí hãi hùng của Etga Pô 1 cậu ta đang xem rất chăm chú, bàn tay nhỏ nhắn nhưng bẩn thỉu chống đầu. Hannô Bútđenbrúc ngả người, tựa ra phía sau, miệng há hốc, đôi mắt mơ màng buồn ngủ nhìn cuốn Uybơ, chữ trên trang sách đã biến thành những vết đen kịt từ bao giờ rồi. Có khi chú nghĩ đến bản Gờran hành khúc hoặc bản Hôn lễ tiến hành khúc. Hai mí mắt chú từ từ khép lại, chú cảm thấy chua xót trong lòng. Chú thầm mong cho buổi sáng nay cứ tiếp tục bình yên vô sự như thế mãi.


  Mọi cái đều xảy ra như thường lệ, không có chuyện gì. Cuối cùng, tiếng chuông đinh tai nhức óc của người coi trường vang lên. Tiếng chuông xuyên qua hành lang, thức tỉnh hai mươi lăm bộ óc đang chìm trong giấc ngủ thoải mái.


- Giảng đến đây đã! – Ông giáo Balêytéc bảo mang cuốn sổ nhật ký của nhà trường lên, ông ký vào để chứng tỏ rằng ông đã làm tròn trách nhiệm trong tiết học đó.


Hannô Bútđenbrúc gấp quyển Kinh thánh lại, ngáp dài, vươn vai. Khi chú duỗi thẳng chân tay ra, chú không thể không hít thở một hơi thật sâu để cho quả tim trì trệ, không còn ứng phó nổi với công việc, đập mạnh một chút. Bây giờ đã bắt đầu sang bài Latinh… Chú đưa mắt cầu cứu Cai, nhưng dường như Cai không để ý là đã hết giờ, vẫn chăm chú vào cuốn sách kia. Hannô lấy ở cặp tập thơ Ôvitdơ bìa giấy hoa cẩm thạch, giở đoạn hôm nay phải học thuộc lòng. Những dòng chữ đen có chú thích bằng bút chì, cứ năm dòng một đoạn, đang nhìn chú một cách xa lạ, khó hiểu. Bây giờ muốn học thuộc lấy vài dòng cũng khó. Ý nghĩa cũng không nắm được nữa là học thuộc lòng. Còn đoạn dưới hôm nay phải chuẩn bị, chú cũng không hiểu câu nào.


- Deciderant, patula jovis arbore glandes1 là gì nhỉ? – Chú tuyệt vọng hỏi Tốttenhốp đang ghi vào sổ của lớp – Khó hiểu quá! Chỉ làm khổ người ta!


- Cái gì? – Tốttenhốp nói, rồi viết tiếp – jovis là cây gì… Chà, mình chẳng hiểu gì cả?


- Tớ bị gọi, nhớ nhắc tớ với nhé! Hannô cầu khẩn, đẩy cuốn sách sang một bên. Cậu học sinh học giỏi nhất lớp ấy đang lơ đãng gật đầu, đẩy cuốn sách sang một bên. Hannô buồn rầu nhìn cậu ta, dịch ghế, đứng dậy.


Tình hình lớp học thay đổi hoàn toàn. Ông giáo Balêytét rời căn phòng. Bây giờ trên bục giảng là một người khô đét, yếu ớt như sắp bị gió xô ngã, người thẳng đuồn đuột. Ông ta để bộ râu lơ thơ, cổ đỏ gay, khẳng khiu vươn khỏi cổ áo, bàn tay nhỏ nhắn đầy lông, cầm cái mũ để ngửa. Các cậu học sinh đặt cho ông ta cái bí danh “con nhện”, tên thật ông ta là Húccốp. Vì ông ta làm nhiệm vụ giữ trật tự ở hành lang trong giờ nghỉ, nên ông ta vào lớp kiểm tra.


- Tắt đèn đi! Kéo màn cửa lên! Mở cửa sổ ra! – Ông ta cố làm giọng nói yếu ớt của mình thành mệnh lệnh, cánh tay nặng nề cứng nhắc khuơ trên không, trông như cái tay cầm cong cong của bộ phận mở cửa!...


 Đèn tắt, màn cửa kéo lên, ánh sáng nhạt nhẽo chiếu vào phòng, lớp sương mù ẩm ướt cũng ùa vào qua cửa sổ mở rộng. Các cậu học sinh chen chúc nhau đi cạnh ông Húccốp ra ngoài. Chỉ một mình trưởng lớp được ở lại mà thôi.


Hannô gặp Cai ở cửa phòng, hai cậu đi cạnh nhau, xuống cầu thang rộng. Cả hai cùng trầm lặng. Hannô trông bộ thê thảm, còn Cai thì đang suy nghĩ điều gì. Trong sân, học sinh lớn bé đang chạy nhảy trên nền lát ghạch đỏ, ướt át. Hai cậu lẫn vào đám đông đi đi lại lại.


     Trực ban trong sân là một ông giáo còn trẻ, bộ râu vàng khè nhọn hoắt. Ông ta ăn mặc chải chuốt, tên là bác sĩ Gônđơnơ. Ông ta lập một ký túc xá chỉ cho học sinh con nhà quý tộc và các điền chủ giàu có ở hai nơi ở mà thôi. Ông ta bị ảnh hưởng của các ông lớn gửi con cho ông ta trông coi, nên ông ta hết sức trau chuốt bề ngoài, khác hẳn bạn đồng nghiệp. Ông Giônđơnơ thắt cà vạt lụa hoa, áo ngoài rất đúng mốt, quần màu nhạt, phía dưới ống có dải buộc vào gót dày, khăn mùi soa thêu bốn chung quanh, nước hoa thơm nức. Vốn xuất thân trong một gia đình hèn kém, nên cách ăn mặc sang trọng ấy chẳng hợp với ông ta chút nào. Ví dụ, bàn chân to bè của ông ta lại đi một đôi giày mõm nhái thì buồn cười chết đi được! Không hiểu vì lẽ gì ông ta lại tỏ ra kiêu hãnh vì đôi bàn tay beo béo, đỏ gay của ông ta. Ông ta cứ xoa xoa tay rồi vòng lại, hoặc giơ ra ngắm nghía. Ông ta thích ngả đầu ra phía sau chớp mắt, nhăn mũi, há miệng làm trò như muốn nói: “Lại xảy ra chuyện gì rồi?”. Nhưng ông ta vẫn xem mình như một người cao thượng, trang nhã, nên ông ta làm ngơ trước những việc vi phạm kỷ luật trong sân. Ông ta không trông thấy bọn học sinh đem cả sách xuống tranh thủ chuẩn bị bài. Ông ta không trông thấy những cậu học sinh trong ký túc của ông ta đưa tiền cho người gác cổng mua quà. Ông ta không trông thấy hai cậu năm thứ tư, thứ năm đang đánh nhau, người ta đang túm lại xem, cũng không trông thấy có cậu làm chuyện gì đó tồi tệ, bị chúng bạn dồn đến vòi nước, té nước trừng phạt!


     Cai và Hannô đi đi lại lại giữa đám học sinh nghịch ngợm và dồi dào sức lực ấy. Các cậu lớn lên trong bầu không khí dũng mãnh và vô địch của tổ quốc đang phục hồi. Các cậu hâm mộ khí phách của kẻ trượng phu không gì gò bó. Các cậu nói chuyện với nhau bằng tiếng lóng rất độc đáo. Các cậu hâm mộ những võ sĩ hút thuốc lá, uống rượu, cường tráng, và xem khinh những chàng công tử yếu đuối, khiếp nhược. Anh nào đó để lật cổ áo lên sẽ bị các cậu dội nước lạnh cho; anh nào cầm batoong ra đường sẽ bị các cậu trừng trị nên thân trước mọi người ở Cung thể thao!


   Trong bầu không khí ẩm ướt, lạnh lẽo giữa đám đông ồn ào ấy, Hannô và Cai tỏ ra rất đặc biệt, nói năng khác hẳn mọi người. Tình bạn giữa hai cậu, từ lâu cả trường đều biết. Các thầy giáo không nói gì, nhưng trong bụng không bằng lòng, bởi vì các vị nghi ngờ đằng sau tình bạn ấy có ẩn dấu điều gì đó không bình thường, không đứng đắn. Những học sinh không hiểu, thường nhìn hai cậu bằng con mắt ngờ vực, độc ác, xem hai cậu như “kẻ ở ngoài vòng pháp luật”1, những kẻ kỳ quái, mặc hai cậu muốn làm gì thì làm. Cậu bá tước Cai còn được người ta kính nể, vì cậu ta hung hãn, còn như Hannô Bútđenbrúc thì ngay cả Henrici kia là kẻ gặp ai cũng đánh mà cũng không gây gổ với chú vốn nhút nhát. Mái tóc mềm mại, tay chân yếu ớt, ánh mắt lạnh lẽo, xấu hổ, u uất của Hannô làm cho Hannô làm cho Henrici sợ hãi một cách vô cớ.


- Mình sợ - Hannô dừng lại, dựa lưng vào tường ở sân nói với Cai, cậu ngáp dài, run lẩy bẩy, keo chặt cổ áo ngoài – không hiểu sao mình lại sợ, sợ đến rụng rời chân tay. Chả nhẽ ông giáo Mantensác lại dễ sợ đến như thế kia ư? Hãy nói xem! Giá cái giờ Ôvítdơ đáng ghét kia qua đi có hay không! Bị điểm kém sẽ phải lưu ban, mình không sợ cái đó, nếu lọt qua được thì hay hơn! Mình sợ là sợ những cái ấy cùng một lúc làm cho loạn xạ cả lên…


Cai im lặng suy nghĩ. Bỗng cậu ta nói:


- Dưới ngòi bút của nhà văn, cái anh chàng Rôđơric Usơ thật là một nhân vật kỳ diệu. Vừa rồi, tao ngồi xem hết cả một tiết… Lúc nào tao viết được những chuyện hay như thế thì tuyệt quá!


     Mấy lâu nay, Cai đang tập viết văn. Sáng nay cậu ta nói cậu ta có việc cấp thiết hơn cả học hành, chính là chuyện ấy. Hannô hiểu ý cậu ta. Từ bé, Cai rất thích kể chuyện, bây giờ thì thích viết văn. Trước đây ít lâu, cậu ta viết một chuyện trẻ con, một câu chuyện tưởng tượng có tính chất ly kỳ trong đó tất cả đều hư ảo, câu chuyện xảy ra cùng một lúc trong lòng đất sâu thẳm, rực lửa thần bí, kim loại bị nung chảy, và trong linh hồn bí hiểm của con người! Sức mạnh nguyên thủy của giới tự nhiên và của linh hồn hòa hợp với nhau rất phức tạp, cùng biến hóa và cùng tôi luyện một cách hết sức kỳ lạ. Chuyện viết bằng một lời văn thiết tha hấp dẫn, nhưng mềm yếu lãng mạn, và có vẻ sắp đặt giả tạo.


Tác phẩm ấy, Hannô biết rõ lắm và rất thích. Nhưng bây giờ chú còn tâm trí nào để nói chuyện viết văn hoặc chuyện của Etga Pô với Cai nữa! Ngáp xong, chú lại thở dài, cuối cùng chú nhẩm một điệu nhạc mà chú vừa sáng tác khi chơi dương cầm. Cái đó với chú đã thành thói quen. Chú thích thở dài và hít thật sâu một hơi cho trái tim mệt mỏi kiệt sức của chú hoạt động trở lại. Rồi sau khi hít thở, chú quen hát một đoạn nhạc của người khác hay của chú sáng tác.


- Xem kìa, “Thượng đế thân mến” đã đến kia kìa, - Cai nói – Ông ta vào vườn hoa hóng mát đấy!


- Một vườn hoa tuyệt đẹp – Hannô nói rồi không nhịn được cười. Chú cười nắc nẻ không thể nào dừng lại được. Chú vừa đưa tay lên bưng miệng vừa nhìn người mà Cai gọi là “Thượng đế thân mến”.


 Người xuất hiện trong sân là bác sĩ Uliccơ hiệu trưởng trường này. Ông cao một cách kì dị, mũ len rộng vành, râu quai nón cắt ngắn, bụng phình ra nhọn hoắt, quần ngắn cũn cỡn, ống tay áo hình phễu lúc nào cũng bẩn. Ông ta vội vã đi qua con đường lát đá, mặt hầm hầm, trông như người chịu tội. Ông ta giơ tay chỉ vòi nước… Nước đang chảy kia kìa! Mấy cậu học sinh chạy tới, tranh nhau khóa lại. Các cậu đứng lại nhìn vòi nước, lại nhìn ông hiệu trưởng, vẻ sợ sệt. Lúc này ông hiệu trưởng đã quay đi. Bằng giọng trầm trầm, ông ta nói chuyện với bác sĩ, Gônđơnơ mặt đỏ gay đỏ gắt, vừa chạy tới. Giọng nói của ông ta lẫn những âm thanh môi, nghe không rõ.


 Ông hiệu trưởng Uliccơ là người nghiêm khắc, dữ tướng. Ngày xưa, khi bố và chú của Hannô đi học, ông hiệu trưởng là một ông giáo già hiền lành, ông ta mất năm 1871. Bác sĩ Uliccơ đến thay. Ông vốn là một giáo viên trung học, từ ngày được bổ về đây thì cái trường cổ lỗ này bỗng có một tinh thần mới. Nền giáo dục trước kia nhằm đem lại cho người ta niềm vui, những người được hưởng nền giáo dục ấy đều rất hòa nhã, ung dung, theo chủ nghĩa khoái lạc. Còn ngày nay thì những quan niệm như uy tín, trách nhiệm, quyền lực, chức vụ, sự nghiệp, lại trở thành những cái tối cao. “Mệnh lệnh tuyệt đối của Căng, nhà triết học của chúng ta” là ngọn cờ mà ông hiệu trưởng Uliccơ phất lên mỗi khi ông đăng đàn diễn thuyết trong các buổi lễ. Trường học này trở thành  một quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn. Kỷ luật nghiêm minh kiểu Phổ của ông chiếm địa vị thông trị tuyệt đối ở đây. Ở đây không những thầy giáo mà cả học sinh đều coi mình là những viên chức của nhà nước. Điều họ quan tâm duy nhất là lên chức, vì vậy họ mong được lòng kẻ có quyền hành. Ông hiệu trưởng này đến nhận chức ít lâu thì nhà trường được sửa chữa và mở rộng theo quan niệm vệ sinh và thẩm mỹ tối tân. Cuối cùng, công tình được hoàn tất một cách thuận lợi. Chỉ có điều là trước kia, ở đây tuy có thiếu thiết bị hiện đại nhưng lại tràn đầy tình hữu ái và lòng từ thiện. Ai nấy đều vui vẻ, thoải mái và có thiện ý. Phải chăng lúc bấy giờ trường học là nơi người ta cảm thấy thích thú, hạnh phúc hơn bất cứ ở đâu?


 Nói đến bản thân ông hiệu trưởng Ulicơ thì đó là một nhân vật bí hiểm, ám muội, hay ghen ghét và đáng sợ như Thượng đế trong “Cựu ước”. Ông ta cười cũng làm cho người ta sợ như khi ông ta nổi cơn thịnh nộ. Ông ta lợi dụng quyền bính vô hạn độ của ông ta để tác oai tác quái. Ông ta có thể nói đùa để làm vui nhưng người bị ông ta đùa thì nổi giận, toàn thân run lên mà không biết làm thế nào. Chỉ có một cách là đề phòng đừng để mình thành vật hy sinh cho cơn thịnh nộ của ông ta, đừng để cái chính nghĩa vô tư của ông ta nghiền nát, tức là trước mặt ông ta thì tỏ ra nhún nhường hết mức và nâng ông ta lên tận mây xanh!


  Cái biệt hiệu kia Cai đặt cho ông ta chỉ có cậu và Hannô Bútđenbrúc dùng với nhau mà thôi. Hai cậu không để cho bọn học sinh biết, sợ chúng nó không hiểu rồi nhìn các cậu bằng con mắt lãnh đạm, thờ ơ… Cái đó, các cậu biết rồi. Không, không có việc nào các cậu đồng tình với bọn họ được. Thậm chí bọn họ lấy việc chống đối và bảo thủ làm vui, thì hai cậu lại không lấy làm điều. Bọn họ thích gọi người khác bằng biệt hiệu, hai cậu lại không thú, bởi vì hai cậu thấy cái biệt hiệu họ đặt cũng chẳng có gì buồn cười cả. Gọi ông Húccốp là “con nhện”, gọi ông Balêytét là “con vẹt trắng” thì tầm thường, vô vị, chẳng hay ho chút nào. Ông Balêytét chẳng qua chỉ là cái bung xung chịu đựng những lời chỉ trích của chế độ giáo dục nghiệt ngã mà thôi. Không, cậu bá tước Cai châm biếm hơn bọn họ nhiều. Cậu ta gọi tên thật các ông giáo, có điều trước cái tên đó, cậu ta thêm chữ “herr”1 vào. Gọi như thế nghe có ý vị trào phúng, lạnh nhạt, “kính nhi viễn chi”. Các cậu mệnh danh bọn họ là “nhân viên giáo dục”. Trong giờ nghỉ, các cậu thích hình dung một người nào đó thành một con quái vật rất dễ sợ để làm trò cười. Các cậu nói đến trường học như nói đến “bệnh viện tâm thần”, nơi mà chú Hannô đang nằm.


“Thượng đế thân mến” đứng ngây ra giữa sàn, chỉ vào tờ giấy gói bánh bao vứt bừa trên con đường lát đá, la hét om sòm, làm cho mọi người tái mặt. Cai thấy cảnh ấy càng thích thú. Cậu ta kéo Hannô đi ra cửa. Ông giáo dạy tiết thứ hai đang từ cửa này đi ra vườn. Cai cúi chào. Ông ta mắt đỏ, da tái nhợt, áo quần rách rưới, vừa tốt nghiệp trường sư phạm, từ dãy lớp năm thứ nhất, năm thứ hai ở vườn sau đi ra. Cậu ta cúi sát đất, tay buông thõng, cung kính ngước nhìn ông giáo đáng thương ấy. Một ông giáo khác dạy toán, Thicơ co ro, mặt vàng, mắt lác đến kỳ lạ, khạc nhổ luôn miệng, tay run lẩy bẩy, ôm chồng sách sau lưng, đi qua. Cai chào thật to:


-          Chào ông già sắp chết! – Đôi mắt sáng sắc sảo của cậu nhìn vào một nơi nào đấy trong không trung.


 Giữa lúc ấy, tiếng chuông vang lên chọc thẳng vào tai. Học sinh từ bốn phía ùa vào lớp. Nhưng Hannô vẫn cười ngặt ngẹo, đi đến cầu thang rồi vẫn còn cười, để những người đi chung quanh phải nhìn chú một cách lạnh nhạt, kỳ lạ. Thái độ kỳ quặc ấy của chú khiến mọi người phát ghét.


Khi ông giáo Mantensác đi vào, cả lớp im phăng phắc. Học sinh đứng cả dậy. Ông là giáo viên chủ nhiệm thì phải được mọi người kính nể. Ông tiện tay đóng cửa lại, cúi lom khom nhìn xem có phải mọi người đều đứng cả lên hay không. Rồi ông treo mũ len mắc áo, ngước đầu bước nhanh lên bục giảng. Ông đứng một lúc trên bục, nhìn ra ngoài cửa sổ, giơ ngón tay có đeo cái nhẫn to tướng ra, đưa đi đưa lại ở khoảng giữa cổ và cổ áo. Người ông cũng vừa phải, tóc màu tro, lơ thơ, râu uốn cong mắt xanh màu ngọc, mắt cận thị lồi hẳn ra, lấp lánh sau cặp kính. Ông mặc áo vét tông len loại mềm, màu xám. Cái tay, ngón ngắn ngủi, cứ thích xoa xoa cạnh sườn. Như tất cả các ông giáo khác (ngay cả ông giáo Gôadơnơ thích làm đỏm cũng vậy), quần ông mặc rất ngắn để lòi đôi dày to tướng bóng lộn.


Bỗng ông quay đầu lại, nhẹ nhàng thở dài, nhìn khắp lượt những cậu học sinh như những con chim non đang ngồi trong lớp, rồi ông “ồ” một tiếng và cười với mấy cậu. Rõ ràng hôm nay ông rất vui. Cả lớp thở phào như trút được ghánh nặng.


Tâm tình ông vui hay buồn là một việc quan trọng, quyết định tất cả. Ai cũng biết ông cứ để tình cảm chi phối, mà ông cũng chẳng muốn khống chế mình nữa. Ông thường thiên vị một cách kỳ quặc, ngây thơ, mà sự thiên vị ấy lại thay đổi luôn như là may rủi. Có vài ba cậu học sinh ông rất yêu, với mấy cậu này, ông gọi bằng “em” hoặc gọi tên. Chúng nó vào lớp như vào thiên đường, chúng nó mở miệng nói thì lúc nào ông cũng cho là nó nói đúng. Hết giờ học, ông thân mật nói chuyện với chúng nó. Bỗng một hôm, có lẽ sau nghỉ hè, chỉ có Chúa trời mới biết là tại sao,mấy cậu học sinh kia không được quý ông quý mến nữa, từ trên bảo tòa rơi xuống, rất đáng thương! Một số khác lại được ông gọi tên như được lên thiên đường vậy. Ông đánh dấu những chỗ sai trên bài của chúng nó, ngay ngắn, cẩn thận, nên dù bài của chúng nó có sai đến hàng trăm chỗ, lúc xem, cũng thấy rất sạch sẽ. Còn bài của các cậu khác thì ông gạch xóa đỏ choét như muốn trút tất cả sự giận dữ vào đấy, gây một ấn tượng rất dễ sợ, tưởng như không có cách nào cứu chữa được. Ông cho điểm không căn cứ vào bài sai nhiều hay sai ít, mà căn cứ vào số lượng mực đỏ ông hao phí, cho nên những cậu học sinh được ông quý chiều thường được lợi. Không bao giờ ông nghĩ cách ấy có thích hợp hay không. Ông cho rằng làm như thế là tuyệt đối đúng, cho nên ông không thấy ông bất công. Nếu ai mạnh dạn phản đối thì ngườ ấy khôngbao giờ có hy vọng được ông gọi bằng “em” hoặc gọi tên. Với lại, có ai tự nguyện bỏ cơ hội tốt đẹp ấy bao giờ!


Ông Mantensác đứng chéo chân, bắt đầu giở sổ điểm. Hannô Bútđenbrúc ngồi vươn lên phía trước, hai tay khoanh lại dưới ngăn bàn. Bây giờ đến lượt những tên bắt đầu từ vần “B”. Chú sắp bị gọi đứng dậy, mắt không biết nhìn vào đâu do đó sẽ loạn cả lên, một tai họa ghê gớm, có tiếng gào la sẽ xảy ra. Mặc dù hôm nay giờ ông giáo chủ nhiệm rất vui… mấy phút này kéo dài tưởng như không chịu đựng nổi. “Bútđenbrúc”, ông ta sắp gọi đến Bútđenbrúc rồi!


- Étga! Ông Mantensác gọi rồi gấp sổ điểm lại, ngón tay trỏ vẫn kẹp ở giữa, quay người trên bục như không còn để ý đến vấn đề gì nữa. Thế nào? Thế là thế nào?... Đấy là Linđơ béo, ngồi cạnh cửa sổ. Vần “L”, không thể nào vần “L” được! Không, không thể như thế! Ông Mantensác vui thật! Ông tùy tiện gọi những cậu học sinh cưng của ông, không chịu chú ý xem theo thứ tự thì đến lượt người nào? Étga Liuđơ béo đứng dậy. Nó có bộ mặt sư tử, hai con mắt lờ đờ. Dù nó chọn được chỗ ngồi hết sức thuận lợi, có thể dễ dàng mở sách ra xem trộm, nhưng nó cũng không làm, nó cảm thấy chỗ của nó ở thiên đường an toàn vô cùng. Nó trả lời dứt khoát:


- Thưa thầy, hôm qua em nhức đầu, nên em không học ạ!


- Ôi, em lại làm tôi khó xử rồi đấy, - Ông Mantensác buồn rầu nói – Em không đọc được cho tôi mấy câu thơ miêu tả thời đại hoàng kim ấy hay sao? Thật đáng tiếc! Hôm qua em nhức đầu à? Tôi nghĩ rằng khi em vào lớp là em phải báo cáo với tôi ngay, đừng để tôi gọi đến tên mới nói… Gần đây em cũng đã có một lần đau đầu đúng không? Em phải làm cách nào chứ, nếu không sẽ thụt lùi đấy. Tim, anh có thể trả lời cho cậu ấy được không? Étga ngồi xuống. Lúc ấy ai cũng giận nó đến xương tủy. Mọi người thấy rõ thầy chủ nhiệm không vui nữa, có thể đến tiết sau thầy mới gọi lại bằng tên. Tim đứng dậy, nó ngồi ở hàng ghế cuối cùng. Nó là một đứa trẻ tóc vàng khè, trông nhà quê, mặc cái áo ngoài màu nâu nhạt, ngón tay vừa ngắn vừa thô, miệng há hốc như cái phễu, nét mặt vừa ngây ngô, vừa nghiêm nghị. Nó vội đẩy cuốn sách đang mở để ở một vị trí vừa tầm mắt, đăm đăm nhìn về phía trước. Một lát sau, nó cuối đầu xuống, đọc lắp bắp, giọng đều đều kéo dài giông như trẻ con đánh vần.


- Aurea pima sata est actas…1 – Rõ ràng hôm nay ông Mantensác không hề chú ý học sinh nào đã lâu không bị hỏi bài. Hannô không còn nguy cơ bị gọi nữa, nếu bị gọi chẳng qua là ngẫu nhiên. Chú nhìn Cai bằng con mắt vui mừng, bắt đầu duỗi tay duỗi chân nghỉ một lát.


Bỗng Tim đang đọc thì bị ngắt lại, có lẽ ông Mantensác không nghe rõ Tim đọc, có lẽ ông ta không muốn ngồi im. Dù sao, ông ta cũng đã rời bục giảng, đi đi lại lại thảnh thơi trong lớp, cuối cùng, tay cầm quyển Ovidơ, đứng cạnh Tim. Tim. Tim hốt hoảng đẩy cuốn sách sang một bên, ngây người ra. Nó há miệng phễu mà thở, đôi mắt xanh thật thà, sợ hãi nhìn đăm đăm thầy giáo chủ nhiệm, không nói lấy được một tiếng.


- Thế nào? – Ông Mantensác nói – Sao ngừng lại?


  Ông ta gãi đầu, mắt nhìn quanh, thở hổn hển, cuối cùng nét mặt tươi cười, nói:


- Thầy đứng cạnh, em sợ ạ!


       Ông ta cũng cười. Câu nói hình như làm ông ta vui. Ông ta cười, nói:


- Thôi được, em cứ bình tĩnh đọc tiếp đi… - Nói xong, ông ta đi về phía bục giảng. Tim lấy lại tinh thần, kéo quyển sách lại trước mặt, giở ra, làm ra vẻ bình tĩnh nhìn bốn phía, rồi cúi đầu xuống, đọc tiếp.


- Tôi rất bằng lòng – Tim đọc xong, thầy chủ nhiệm nói – Em học thuộc lắm, điều ấy không còn nghi ngờ gì nữa. Có điều, em đọc không đúng nhịp điệu! Em biết cách đọc nối, nhưng em không đọc đúng nhịp điệu. Tôi có cảm tưởng như em đọc một bài văn xuôi. Mặc dù vậy, như tôi vừa nói, em chăm chỉ, cố gắng… Em ngồi xuống!


(còn tiếp)


Nguồn: Gia đình Buddenbrock. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.


www.trieuxuan.info


 








1 Tên vở nhạc kịch của nhà soạn nhạc Đức Richard Wagner (1813-1883).




1 Edgar allan Poe (1809 – 1849), nhà văn Mỹ.




1 Tiếng Latinh, Quả lật trên cây jovis rơi xuống đất. Thơ của Ovide.




1 Tiếng Anh, Outlaws.




1 Herr, tiếng Đức, có nghĩa như ngài.




1 Chữ Latinh: Thời hoàng kim sáng lập trước tiên. (Xem Biến hình ký).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 29.04.2016
Đất tiền đất bạc - Mario Gianluigi Puzo 24.04.2016
Zorba tay chơi Hy Lạp - Nikos Kazantzakis 20.04.2016
Hai mươi năm sau - A. Dumas 14.04.2016
Quo Vadis - Henryk Sienkiewicz 31.03.2016
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 17.03.2016
Dòng đời - Nguyễn Trung 02.03.2016
Trung Việt Việt Trung (trích) - Đỗ Quyên 20.02.2016
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 12.02.2016
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 06.02.2016
xem thêm »