tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 17519863
Tiểu thuyết
06.10.2016
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrock



Phấn khởi, Tim ngồi xuống, vẻ kiêu ngạo. Ông Mantensác ghi cho nó một điểm thật vừa ý. Kỳ lạ thay, lúc ấy không chỉ thầy giáo mà ngay cả Tim và tất cả học sinh trong lớp đều cho rằng, Tim đúng là một học sinh chăm chỉ, nó được điểm cao là phải. Hannô Bútđenbrúc cũng có ấn tượng như thế, mặc dù trong lòng chú xem chuyện ấy cũng thường thôi… Chú lại hồi hộp lắng nghe tên người gọi tiếp…


- Mummơ – Ông Mantensác gọi – Anh đọc tiếp! Aurea Prima?


Thưa thầy gọi Mummơ ư? Cám ơn Chúa! Có lẽ Hannô bình yên! Ông Mantensác rất ít gọi đến người thứ ba, vả lại vần B đã qua rồi! Mummơ đứng dậy. Người nó cao lớn, trắng trẻo, hai tay run run. Nó đeo cặp kính rất to. Mắt nó cận nặng, nó đứng dậy thì đủ thứ sách giở ra để ở ngay trước bàn cũng không thể đọc nổi. Nó phải học và nói cũng đã học rồi. Nhưng, một là trí nhớ nó kém, hai là nó không nghĩ hôm nay thầ giáo lại gọi nó, cho nên nó không thuộc lắm, Mummơ đọc được mấy chữ rồi thôi, đứng im…


 Thầy giáo nhắc, rồi nhắc lần nữa, giọng gay gắt. Lần thứ ba thì ông ta nổi nóng. Nhưng Mummơ vẫn đứng ỳ ra, không đọc thêm được chữ nào nữa. Cuối cùng, ông ta cần thật sự.


- Kém qua Mummơ ạ! Ngồi xuống! Anh không học được, tôi đã nói anh biết rồi đấy, anh dốt quá! Vừa dốt, vừa ngu… Mummơ ngồi xuống. Mặt nó trông thật thảm hại. Lúc này, trong phòng không một đứa nào không nhìn nó khinh bỉ. Trong lòng Hannô Bútđenbrúc trào lên một cảm giác ghê rợn. Cảm giác ấy cứ chẹn ngang cổ họng chú, nhưng chú đã nhìn thấy sự việc vừa xảy ra kia rất rõ. Ông Mantensác giận dữ ghi điểm xấu vào sau cái tên Mummơ, rồi cau mày nhìn vào cuốn sổ. Ông ta nổi giận đùng đùng tìm xem đến lượt ai. Sự việc đã quá rõ rồi! Giữa lúc Hannô đang lo lắng thì chú nghe gọi tên mình, như nghe tiếng gọi trong cơn ác mộng.


- Bútđenbrúc! – Ông ta gọi, âm thanh vẫn còn vang vọng trong không trung. Hannô vẫn không tin. Tai chú ù lên. Chú vẫn ngồi bất động.


- Bútđenbrúc! – Ông giáo gọi lại, đôi mắt xanh mở to. Sau cặp kính loang loáng, chĩa thẳng vào chú… - Anh có thể đọc tiếp được không?


Thế là không thoát được rồi! Việc phải đến đã đến, hoàn toàn không như chú nghĩ. Thế là hết! Chú bình tĩnh trở lại, chỉ nghĩ đến ông ta có gầm lên như sấm hay không? Chú đứng dậy, ra vẻ tươi cười, nói liều một câu: “Em quên không học bài ạ!”. Lúc ấy, chú thấy đứa bạn ngồi bàn trước giở sách ra và giơ lên ngang tầm mắt chú.


   Người ngồi bàn trước là Hécman Kilian một cậu bé da nâu, tóc chải bóng, vai rộng. Nó thích làm sĩ quan nên tỏ ra rất hào hiệp. Vì thế, mặc dù không thích Giôhan Bútđenbrúc, nhưng nó không muốn để chú gặp hoạn nạn, thậm chí nó còn chỉ vào chỗ phải bắt đầu đọc. Hannô nhìn theo ngón tay nó chỉ mà đọc. Giọng run run, chú cau mày, méo miệng lại mà đọc về thời hoàng kim. Lúc bấy giờ chân lý và chính nghĩa đã được nhân dân tự giác tôn trọng, không cần xử phạt mà cũng chẳng cần đến luật pháp. “ Không còn hình phạt và sự sợ hãi”, chú đọc bằng tiếng Latinh. “Không còn những điều khoản khắc trên đồng, không còn những người cầu xin độ lượng, cũng không còn nhìn thấy những bộ mặt nghiêm khắc của các quan tòa…”. Chú đọc, mặt chú như bị ai dày vò, làm tình làm tội. Chú cố ý đọc rời rạc, bỏ những chỗ không đọc nổi đã ghạch bút chì trên sách của Kilian. Chú đọc sai cả nhịp điệu câu thơ, lắp đi lắp lại làm ra vẻ khó nhọc lắm, chuẩn bị chờ đón cơn giận dữ của thầy giáo chủ nhiệm một khi ông ta phát hiện ra là chú đang nhìn vào sách mà đọc… Hành động phạm kỷ luật, nhìn vào sách mà đọc làm chú thấy hay hay, da thịt ngứa ngáy, nhưng mắt khác lại thấy đáng ghét. Chú cố ý đọc sai sót để cho sự lừa dối của mình đỡ bỉ ổi. Cuối cùng, chú ngừng lại. Cả phòng im phăng phắc. Chú không dám ngước đầu lên. Thật dễ sợ, chú tin rằng ông Mantensác thấy hết. Môi chú trắng nhợt. Nhưng cuối cùng ông ta thở dài nói:


- Ồ, Bútđenbrúc, anh làm thinh là đúng. Anh cho phép tôi dùng chữ Si tacuisses, tên anh bằng cổ văn… “Anh” biết anh đã làm gì? Anh dẫm đạp lên tất cả những cái tốt đẹp. “Anh” làm như một người dã man. Bútđenbrúc, anh không có óc thẩm mĩ, người ta có thể nhìn thấy điều đó trên nét mặt anh! Nếu tôi tự hỏi, vừa rồi anh ho hay anh đọc thơ, thì câu trước là câu trả lời. Anh ho đấy! Mummơ đọc không có nhịp điệu nhưng so với anh, cậu ta còn là một thiên tài. Cậu ta là một nghệ sĩ ngâm thơ! Anh là một người bất hạnh! Anh ngồi xuống. Ở nhà anh có học đấy. Tôi không cho anh điểm thấp đâu. Nhất định anh đã gắng hết sức anh… Anh nghe tôi nói, có người bảo anh có khiếu âm nhạc, biết chơi pianô, sao có thể thế được nhỉ?… Thôi, anh ngồi xuống, anh rất chăm chỉ, thế là tốt!


         Ông Mantensác ghi cho điểm khá. Hannô ngồi xuống. Cũng giống như nhà nghệ sĩ ngâm thơ vừa rồi, màn kịch lại diễn lại một lần nữa. Chú phải nhận rằng, lời nhận xét của ông Mantensác vừa rồi là đúng. Mười lăm phút ấy, chú thực sự cảm thấy mình tỏ ra chẳng có năng lực gì hết, nhưng là một học sinh chăm chỉ. Chú đọc bài lần này được như thế là tương đối rồi, cả chú cũng cảm thấy rất rõ rằng, bạn học cùng lớp, ngay cả Kilian cũng thế, đều nhất trí như vậy. Trong lòng chú lại khó chịu nhưng bây giờ thì muộn quá rồi, không còn hơi sức nào nghĩ tới chuyện ấy nữa. Sắc mặt nhợt nhạt, người run rẩy, mắt nhắm lại, chú chìm đắm trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê… Nhưng buổi học của ông Mantensác vẫn tiếp tục. Ông ta chuyển sang những đoạn thơ chuẩn bị cho hôm nay. Ông ta gọi Pêtơxơn đứng dậy. Đó là một cậu bé sôi nổi, tự tin, dũng cảm. Nhưng hôm nay nhất định nó sẽ thất bại thảm hại. Đúng như thế, nếu không xảy ra chuyện rắc rối thì tiết học này không thể dễ dàng trôi qua. Nhất định còn gay go hơn cả chuyện Mummơ cận thị nữa. Pêtơxơn bắt đầu dịch chốc chốc lại liếc mắt sáng một bên và một nơi mà nó hoàn toàn không cần thiết phải nhìn. Nó làm rất khéo. Nó làm như có gì cản trở nó. Nó đưa tay sờ sờ vào sách, miệng thở phì phò như muốn thổi bay cái gì đó đang gây trở ngại cho nó. Nhưng chuyện đáng sợ kia đã xẩy ra.


  Ông Mantensác bỗng đứng dậy thật nhanh, rời bục giảng, nghiêng người đi xuống, bước những bước dài đến cạnh Pêtơxơn.


- Sách anh có bài dịch sẵn rồi! – Ông ta đứng cạnh và nói.


- Bài dịch sẵn?... Em… Không có ạ! - Pêtơxơn lúng túng. Nó rất xinh trai, mớ tóc vàng nhạt xòa trước trán, đôi mắt xanh rất đẹp, nhưng bây giờ đôi mắt ấy lộ vẻ sợ hãi.


- Sách anh không có bài dịch sẵn kẹp vào đấy ư?


- Không ạ… thưa thầy! Thưa thầy… bài dịch sẵn? Thành thực không có bài dịch sẵn nào cả… Thầy nghĩ oan em! Thầy đừng nghi em như thế! – Những câu ấy, thật ra nó không nên nói ra, nhưng vì sợ, nó cố tình nói ra để đối phó với thầy chủ nhiệm. – Em không nói dối đâu ạ! – Nó ấp úng – Xưa nay em vẫn rất thành thực, suốt đời em vẫn rất thành thực ạ!


Nhưng ông giáo đã nắm chắc chuyện thảm hại này rồi.


- Anh đưa sách đây! – Ông ta lạnh lùng nói. Pêtơxơn giữ chặt cuốn sách của mình trong tay giơ lên, nói lắp bắp, lưỡi líu lại:


- Xin thầy tin ở em… Thưa thầy… trong sách chả có gì đâu ạ!... Em không… em không có bản dịch sẵn. Em không dám làm chuyện gian dối, xưa nay em vẫn là học sinh thành thật…


Thầy chủ nhiệm nhắc lại, dẫm chân:


- Cứ đưa đây cho tôi!


Pêtơxơn nhũn cả người, mặt tái nhợt.


- Vâng! – Nói xong, nó đưa sách cho thầy giáo. Ông ta cầm lấy. Đúng như thế, trong sách có bài dịch sẵn. – Thưa thầy kẹp ở đây!... Nhưng em không dùng tới! – Bỗng nó gào to lên.


        Ông Mantensác không nghe những lời dối trá của nó trong lúc tuyệt vọng. Ông ta lấy bài dịch sẵn ra, nhìn một lúc, vẻ khó chịu như đang cầm một cái gì bẩn thỉu, hôi thối ở tay rồi bỏ vào túi áo, khinh bỉ vứt quyển Oviđơ trả cho Pêtơxơn.


-          Sổ điểm đâu? – Ông ta nói giọng buồn, Ađônphơ Tốttenhốp tận tụy với chức vụ, đem sổ điểm lên. Pêtơxơn đã bị ghi là gian dối một lần rồi, lần này bị ghi nữa thì hậu quả rất tai hại đối với nó trong một thời gian dài. Đến lễ Phục sinh này, nó sẽ không có hy vọng gì lên lớp.


-          Anh là một vết nhơ của lớp! – Ông nói thêm rồi mới quay lại bục giảng, Pêtơxơn ngồi xuống, nó sẽ bị kỷ luật, rõ ràng như thế. Cậu học sinh ngồi bên cạnh lánh sang một bên. Ai cũng nhìn nó bằng con mắt vừa ghét bỏ, vừa đồng tình, vừa sợ hãi. Nó bị kỷ luật rồi bị mọi người xa lánh, trơ trọi một mình, bởi vì nó bị bắt quả tang. Bây giờ chỉ có một nhận định duy nhất về Pêtơxơn thôi. Nó đích thực là  “vết nhơ của lớp”. Mọi người công nhận lời phán xét ấy, không ai có ý kiến gì khác cũng như họ công nhận sự thành công của Tim và của Bútđenbrúc và sự bất hạnh đáng thương của Mummơ. Bản thân nó cũng nghĩ hoàn toàn giống như mọi người.


Trong hai mươi lăm con người trẻ tuổi này, những cậu thân thể khỏe mạnh, cường tráng, có năng lực, có thể đương đầu với cuộc sống thực tế, cũng đều thừa nhận những sự việc vừa rồi và không cảm thấy mình bị sỉ nhục, cũng đều cho đó là chuyện tự nhiên mà thôi. Nhưng cũng có cậu lại trầm ngâm suy nghĩ. Giôhan nhìn vào tấm lưng bè bè của Kilian, đôi mắt vàng có quầng thâm đầy vẻ căm giận, phản kháng và sợ hãi… Không vì thế mà bài giảng của ông Mantensác lại bị ngắt quãng. Ông lại gọi một cậu học sinh khác, đó là, Tốttenhốp vì hôm nay ông ta muốn kiểm tra những cậu mà ông ta cho là lười biếng kia. Sau đó, lại gọi một cậu nữa, cậu này chuẩn bị bài không kỹ lắm, thậm chí câu patula jovis arbore glandes cũng không hiểu là gì. Bútđenbrúc phải nhắc cho nó. Chú khẽ nói ý nghĩa câu ấy, không ngước đầu lên vì ông ta hỏi cậu kia. Cậu kia được ông ta gật đầu khen ngợi.


Kiểm tra xong bài thì mọi hứng thú của giờ học này cũng tiêu tan.


Thầy giáo gọi một cậu học sinh xuất sắc dịch lại, nhưng ông ta cũng như hai mươi bốn đứa trẻ kia không chú ý nghe gì cả. Lúc ấy, học sinh bắt đầu chuẩn bị bài của tiết sau. Bây giờ có làm gì cũng thế thôi. Không cho điểm thì chăm chỉ hay không cũng khó mà xét đoán. Vả lại, tiết học cũng sắp xong rồi. Chuông đáng, thế là hết. Tiết học ấy qua đi như thế Hannô cũng được thầy giáo gật đầu khen một lần.


- Thôi được – Khi hai cậu cùng đàn học sinh vào hành lang đi về phía phòng hóa. Cai nói với Bútđenbrúc. – Bây giờ mày nghĩ gì về ông ấy Hannô? Hôm nay mày số đỏ!


- Tởm lắm! Cai ạ! – Giôhan nói – Tao đâu có muốn như thế! Ông ta làm tao buồn nôn…


          Cai biết, nếu cậu ta ở vào địa vị Hannô, cậu ta cũng có cảm giác như thế.


              Phòng hóa là một căn buồng có trần cong lại có chỗ ngồi theo bậc thang như ở nhà hát, trong phòng có một cái bàn hóa nghiệm dài và hai tủ kính đựng bình cổ cong. Trước lúc hết giờ, không khí trong phòng họp bức bối, vẫn đục, còn ở đây vừa làm hóa nghiệm xong, thì nồng nặc mùi lưu huỳnh. Cai mở toang cửa sổ, rồi lấy trộm vở của Tốptenhốp vội chép bài phải nạp hôm nay. Hannô và rất nhiều học sinh khác cũng làm như thế suốt cả giờ nghỉ, cho đến lúc chuông đánh, ông Manốpki xuất hiện mới thôi.


   Đó là ông giáo mà Cai và Hannô gọi là “uyên thâm”, vóc người vừa phải, nước da vàng, trên trán có hai cục thịt thừa, bộ râu bẩn thỉu và cứng như bàn chải, tóc cũng vậy. Xem bề ngoài, người ta có cảm giác như ông vừa ngái ngủ, mặt cũng chưa sạch. Nhưng đó là bề ngoài giả tạo. Ông ta dạy khoa học tự nhiên, nhưng sở trường của ông ta là môn toán, hơn nữa, về môn ấy, ông ta được mệnh danh là nhà tư tưởng xuất sắc, tiếng tăm lẫy lừng. Khi giảng bài, ông ta thích bắt đầu bằng những câu triết lý lấy trong kinh thánh. Ông ta còn giảng những chữ khó hiểu trong kinh thánh cho học sinh năm thứ tám thứ chín, lúc đó, ông ta cao hứng lên và như đắm mình trong ảo mộng. Cách giải thích của ông ta thật là độc đáo. Ngoài ra ông ta còn la sĩ quan dự bị. Đối với chức vụ ấy, ông ta tỏ ra rất nhiệt tình. Ông ta là người văn võ kiêm toàn nên được ông hiệu trưởng nhìn bằng con mắt khác hẳn. Trong số thầy giáo cùng dạy, ông ta là người giữ kỷ luật hơn ai hết. Ông ta kiểm tra xét nét từng li từng tý khi học sinh xếp hàng. Ông ta bắt học sinh trả lời dứt khoát, mạnh mẽ. Thái độ ông ta vừa khó hiểu vừa nghiêm khắc như thế nên ông ta không được cảm tình của người khác.


 Trước hết phải đưa vở tập cho thầy giáo xem, ông ta đi một vòng trong lớp, lấy ngón tay trỏ ấn mạnh xuống mỗi cuốn vở tập. Có mấy cậu không làm bài, các cậu đặt cuốn vở khác hoặc bài làm cũ lên, nhưng cũng chẳng bị ông ta phát hiện.


 Rồi ông ta bắt đầu giảng bài. Cũng giống như giờ Latinh vừa rồi, phải tỏ ra chăm chỉ chuyên cần với Oviđơ, hai mươi lăm cậu học sinh giờ này cũng phải tỏ ra chuyên cần chăm chỉ và hứng thú với các chất cơlo, xôdium v.v… Kilian được ông ta khen bởi vì nó biết BaSO4 hoặc chất thường gọi là lưu huỳnh là một loại nguyên liệu để sản xuất thuốc nổ. Nó là học sinh giỏi môn này, vì nó muốn sau này trở thành sĩ quan. Hannô và Cai không hiểu gì hết, trong sổ của thầy giáo, điểm của các cậu thật là thảm hại.


 Kiểm tra, hỏi bài, cho điểm xong thì hứng thú của thầy giáo và học sinh đối với giờ hóa cũng tiêu tan. Sau đó, ông Marốtki làm thí nghiệm, tiếng nổ lốp bốp tạo thành những luồng khói màu, nhưng những cái đó hình như chỉ để lấp chỗ trống vì còn thừa thì giờ mà thôi. Rồi thầy ra mấy bài tập về nhà làm. Tiếng chuông hết giờ vang lên, tiết thứ ba cũng xong.


   Chỉ trừ Pêtơxơn hôm nay rủi ro, còn ai cũng rất phấn khởi, vì bây giờ là tiết học mà mọi người cho là thoải mái nhất, tha hồ mà làm ồn ào và đùa cợt, không còn sợ gì nữa cả. Đó là giờ Anh văn của ông Môđơxơn. Ông ta là một nhà ngôn ngữ học, đã dạy thử ở trường này mấy tuần lễ rồi, hay nói như cậu bá tước Cai, ông ta diễn kịch suốt mấy tuần lễ, nay mong được mời ở lại dạy. Nhưng hy vọng được mời ở lại dạy của ông ta thật mờ mịt. Lớp ông ta ồn áo quá thể.


Có người vẫn ở trong phòng hóa, có người trở về lớp học ở trên gác hai, chẳng ai muốn ra sân để chết rét. Giờ nghỉ này, ông Môdơxơn làm trực ban, ông ta vẫn ở trong hành lang nên không đuổi ai ra sân cả. Với lại, học sinh cũng phải sửa soạn tý chút để đón chào ông ta lên lớp.


   Khi chuông của tiết học thứ tư vừa vang lên, lớp không còn yên tĩnh nữa. Ai cũng nói nói, cười cười, ai cũng phấn khởi đón giờ học ồn ào này. Cậu bá tước Cai chống hai tay lên đầu tiếp tục đọc. Hannô ngồi lặng lẽ nhìn màn kịch sắp diễn. Một số khác nhại tiếng kêu của động vật. Một tiếng gà gáy vang lên. Vaxơvôghen ngồi ở phía sau, bắt chước tiếng lợn kêu, tiếng kêu dứt, nhưng nó làm cho mọi người không biết là tiếng kêu ấy ở miệng nó phát ra. Trên bảng là bức biếm họa vẽ cái đầu người với đôi mắt lác, vẽ bằng phấn, kiệt tác của Tim, nghệ sĩ ngâm thơ. Khi ông Môdơxơn vừa vào, ông ta cố hết sức đóng cửa lại mà đóng không được. Thì ra trong khe cửa có một miếng gì chặn lại. Sau đó rồi Tốptenhốp lấy ra.


   Ông giáo dự bị này người bé nhỏ, không làm ai sợ hãi. Mặt buồn rười rượi, lúc đi một vai nhô ra phía trước, bộ râu thưa thớt, tướng người khổ não, đôi mắt sáng cứ chớp chớp, miệng há ra thở hít không khí như đang nói điều gì nhưng tìm không ra lời. Ông ta vừa bước vào ba bước thì dẫm vào quả pháo xét ở cửa, một quả pháo đặc biệt, tiếng nổ không thua tiếng súng. Ông ta giật mình nhẩy lùi ra rồi cười, hoảng hốt, làm vẻ như không có chuyện gì xẩy ra cả và đứng ngay giữa lớp. Theo thói quen, ông ta chồm người ra phía trước tìm kiếm, một tay chống vào mặt bàn ở dãy trên cùng. Các cậu học sinh biết ông ta hay đứng chỗ này, đã bôi đầy mực vào cạnh bàn, nên tay ông ta bẩn hết. Nhưng ông ta vẫn làm ra vẻ không biết, cứ chắp hai tay đầy mực ra sau lưng, chớp chớp mắt, nói nhỏ nhẹ:


- Trật tự trong lớp ta kém lắm!


Hannô Bútđenbrúc rất thích ông ta lúc ấy. Chú nhìn đăm đăm vào vẻ mặt buồn thiu, đáng thương hại của ông ta. Nhưng tiếng lợn kêu của Vaxơvôghen mỗi lúc một to, mỗi lúc một như thật. Rồi một nắm đậu ném vào cửa kính, rơi xuống rào rào.


- Mưa đá! – Không biết cậu nào nói to làm cho ông Môdơxơn tưởng thật. Ông ta không xem thực hư thế nào, cứ trở về bục giảng, cầm cuốn nhật ký lớp. Ông ta không định ghi gì vào đấy cả và chỉ căn cứ vào đó gọi tên mấy cậu học sinh. Mặc dù đã dạy lớp này năm sáu tuần rồi, nhưng ông ta không nhận ra ai với ai, trừ một vài cậu.


- Phétđơman – Ông gọi – Anh đọc bài thơ.


- Vắng mặt! – Bảy tám cậu cùng trả lời. Nhưng Phétđơman vẫn ngồi ngay ngắn, ném những hạt đậu khắp nơi một cách lão luyện đến kinh người.


Ông ta chớp chớp mắt, lại gọi một cậu học sinh khác.


- Vaxơvôghen!


- Chết rồi! – Pêtơxơn quên nỗi bất hạnh của mình nói đùa. Trong tiếng cười, tiếng nói, tiếng dẫm chân ồn ào, cả lớp đồng thanh nhắc lại: chết thật rồi!


          Ông Môdơxơn lại chớp mắt một lúc, nhìn bốn chung quanh, miệng méo xệch, đau khổ, rồi nhìn vào cuốn nhật ký. Ông ta lấy ngón tay thô kệch chỉ vào cái tên ông ta sắp gọi.


  Pớclơman – Ông ta gọi, nhưng không tin là có mặt.


- Anh ta không may phát điên rồi! – Cậu bá tước Cai nói một cách khẳng định. Câu trả lời ấy được chứng nhận bằng tiếng ồn ào của cả lớp.


Lúc ấy, ông Môdơxơn đứng dậy, nói to:


- Bútđenbrúc, tôi phạt anh làm thêm một bài tập. Anh còn cười nữa, tôi sẽ ghi tên!


  Rồi ông ta lại ngồi xuống. Quả thực, Bútđenbrúc có cười. Nghe Cai nói đùa, chú cười rất khẽ, nhưng đã cười thì không dừng lại được nữa. Chú thấy câu nói của Cai thật khôi hài, nhất là hai tiếng “không may”. Nhưng bị quở thì chú im ngay, lấm lét nhìn thầy giáo. Chú nhìn thật kỹ, nhìn từng sợi râu thưa thớt của ông ta không che kín da, nhìn đôi mắt màu nâu sáng và tuyệt vọng của ông ta, nhìn hai cánh tay thô kệch, hình như hai ống tay áo, vì ống tay áo sơ mi cũng to như ống tay áo ngoài, nhìn dáng điệu tuyệt vọng đáng thương của ông ta. Chú cũng nhìn thấu cõi lòng của ông ta. Hannô Bútđenbrúc là người duy nhất mà ông ta biết tên và ông ta lợi dụng điều ấy gọi chú để ra oai với chú. Sở dĩ ông ta nhận ra Bútđenbrúc là vì chú thường ngồi im lặng, không nghịch ngợm, khác những đứa kia. Ông ta nhờ vào cái thật thà của chú để tỏ sự uy nghiêm của ông ta khi những cậu học sinh khác làm ồn ào. “Do con người bỉ ổi mà ở đời không ai dám đồng tình với ai nữa”. Hannô suy nghĩ. – “Người ta đùa cợt ông, dày vò ông, tôi không tham gia, ông ơi! Bởi vì tôi thấy như thế dã man, bỉ ổi, tầm thường! Vậy mà đối với tôi, ông cư xử như thế nào? Nhưng mà đời là thế, là thế, đâu cũng như thế, vĩnh viễn như thế!”. – Chú nghĩ, vừa giận, vừa sợ hãi, - “Thật không may là, tôi đã nhìn rõ cõi lòng ông lắm rồi!”.


 Cuối cùng, ông cũng tìm ra một người không điên, không chết, mà lại tình nguyện đọc bài thơ. Bài thơ dành cho những chàng trai mong lập chí trên biển cả, trong thương giới, trong những việc ngiêm túc của cuộc đời, đầu đề là Con khỉ1, một bài thơ trẻ con hát hết sức ngây thơ, hồn nhiên:


                        Con khỉ là con khỉ kia,


                    Mày sinh ra để làm hề góp vui2


 Bài hát gồm nhiều đoạn, Caxbom không giấu giếm, cứ nhìn thẳng vào sách mà đọc từng đoạn một. Trước mặt ông Môdơxơn nó không cần giữ gìn. Tiếng ồn ào trong lớp mỗi lúc một tăng. Chân cậu nào cũng đang cử động, chà xát trên nền nhà đầy bụi. Tiếng gà cục cục, tiếng lợn eng éc, hạt đậu bay tung tóe… Cả hai mươi lăm cậu học sinh đều ồn ào không biết kiêng nể ai. Tính nghịch ngợm của tuổi trẻ được thức dậy. Những bức vẽ quái gỡ bằng bút chì được giương cao, chuyền tay nhau, gây những trận cười không dứt.


Bỗng im bặt. Cậu đang đọc nửa chừng dừng lại, làm cho thầy giáo phải nghiêng tai lắng nghe. Một việc kỳ diệu xảy ra. Từ phía cuối lớp, tiếng chuông dòn giã, ngọt ngào, ấm áp, quyến luyến vang lên giữa sự yên tĩnh đột ngột kia. Đồ chơi ấy không biết cậu nào mang tới, đang giữa giờ Anh văn thì đánh bài nhạc Người ở trong trái tim tôi. Tiếng nhạc vừa dứt lại xảy ra một việc dễ sợ… như tiếng sét giữa trời quang, ai cũng lặng đi, ai cũng giật mình, mắt tròn xoe, miệng há hốc.


  Cửa không ai gõ, cứ thế mở tung, một bóng người cao to, dữ tợn đâm sầm vào, miệng càu nhàu, bước tới đứng ngay trước bàn học sinh. Không ai khác, chính là “Thượng đế thân mến” – Ông hiệu trưởng Uliccơ.


Ông giáo Môdơxơn mặt tái nhợt, vội vã lôi cái ghế tựa từ trên bục xuống, rút khăn ra phủi bụi. Tất cả học sinh đứng dậy răm rắp, hai cánh tay bõ thõng, người ngay đơ, đầu cuối xuống kính cẩn, không dám thở mạnh. Lớp học yên ắng. Có người rên rỉ vì căng thẳng quá, nhưng chỉ giây lát lại yên ắng.


Ông hiệu trưởng Uliccơ đưa mắt nhìn những cậu học sinh đứng dậy chào ông, ông giơ cánh tay bẩn thỉu trong ống tay áo hình phễu lên, rồi bỏ xuống như ấn nút.


- Ngồi xuống!


  Ông nói, giọng trầm trầm như tiếng viôlôngxen. Ông hiệu trưởng Uliccơ chưa gọi ai bằng “anh” cả.


 Học sinh ngồi cả xuống. Ông Môdơxơn tay run run, kéo ghế tới mời ông hiệu trưởng ngồi.


- Thầy cứ tiếp tục dạy đi! – Ông nói, câu nói ấy nghe đến dễ sợ, ý nghĩa như là “Rồi chúng ta xem, có người nào đó không may…”.


 Rõ quá, tại sao ông ta lại xuất hiện ở đây? Ông ta kiểm tra ông Môdơxơn để xem trong sáu bảy tiếng đồng hồ, học sinh năm thứ sáu, thứ bảy học được những gì ở thầy cô giáo. Với ông Môdơxơn đó là tất cả tiền đồ, đó là chuyện quan hệ đến sự sống còn của ông ta. Khi ông giáo dự bị này trở lại bục giảng, gọi một cậu học sinh đọc tiếp bài thơ Con khỉ, thì điệu bộ ông ta nom thảm hại quá, khó tả nên lời. Nếu lúc nãy chỉ có học sinh bị kiểm tra, thì bây giờ thầy giáo cũng bị kiểm tra. Ôi, tiếc thay, hai việc ấy đều tồi tệ cả hai! Sự xuất hiện của ông hiệu trưởng thật là đột ngột. Chỉ trừ vài ba người, còn thì cả lớp không ai chuẩn bị. Dĩ nhiên, ông Môdơxơn không thể cả tiết hỏi mãi Tốttenhốp là người không cái gì không biết. Vì có ông hiệu trưởng  nên khi đọc bài thơ Con khỉ không thể nhìn vào sách, do đó, tiết học này thật không ra gì. Đến khi giảng bài Kiếp sau của anh hùng Ivanhô, chỉ có cậu bá tước Cai dịch được vài câu. Cũng may, đó là do cậu thích cuốn tiểu thuyết ấy, còn những người khác thì cứ lúng ta lúng túng, nói lắp bắp, đằng hắng một lúc rồi đứng ngây ra. Hannô Bútđenbrúc cũng bị gọi, kết quả là chú không dịch nổi một dòng. Trong cổ họng ông hiệu trưởng phát ra một tiếng gì đó, thoạt nghe như ai vừa đụng đến giây đàn chùng nhất trên chiếc viôlôngxen. Ông Môdơxơn vừa khoanh cánh tay thô kệch đầy mực lại, vừa than thở:


- Mọi việc đều đang diễn ra rất tốt đẹp! Mọi việc đều đang diễn ra rất tốt đẹp!


         Cho đến lúc chuông đánh, ông ta còn lẩm bẩm câu ấy nửa như nói với học sinh, nửa như nói với ông hiệu trưởng… Nhưng “thượng đế thân yêu” hầm hầm đứng dậy, hai tay vòng lại, người thẳng dừ trước cái ghế nhìn mơ màng phía trước, lắc đầu giận dữ. Một lát sau, ông ta bảo đưa sổ nhật ký lớp cho ông ta, ông ta chậm rãi ghi tên những cậu học sinh trả lời ấp úng hoặc không trả lời được. Ông ta ghi tên sáu bảy cậu và nhận xét cả lớp uể oải, chán ngắt. Tất nhiên không thể ghi tên ông Môdơxơn vào nhưng ông ta đau hơn ai hết. Ông ta đứng đó, mặt tái nhợt, không còn sức nữa, hoàn toàn như người bỏ đi. Hannô Bútđenbrúc là một trong số người bị ghi tên.


- Tôi không để cho các anh con đường tiến nữa! – Ông hiệu trưởng còn nói thêm câu nói gì đó rồi mới ra đi ra.


Chuông đánh, giờ học ấy kết thúc. Sự thể đã xảy ra như thế, phải rồi, sự thể là như thế! Việc mà anh sợ nhất đã qua đi một cách dễ dàng, hình như nó chế giễu anh. Còn khi anh tưởng bình yên vô sự thì không ngờ tai họa ập xuống đầu anh. Hy vọng của Hannô được lên lớp trước ngày lễ Phục sinh bây giờ đã tiêu tan. Chú đứng dậy, mắt đờ đẫn, bước ra ngoài, đưa lưỡi vào cái răng hỏng.


 Cai đi tới, đưa một tay quàng vào người chú. Hai cậu đi ra sân giữa đám học sinh bàn tán xôn xao về việc không bình thường vừa xảy ra. Cai buồn rầu, nhìn vào mặt Hannô, vẻ thông cảm.


- Hannô, mày tha thứ cho tao! Vừa rồi, tao đứng dậy dịch, đúng ra tao phải  làm thinh để ông ấy ghi cả tên tao nữa. Tao thấy tao đáng khinh lắm!


- Chẳng phải tao cũng đã giải thích “patula jovis arbore glandes” là gì rồi đó sao? – Hannô trả lời – Cai, việc đã như thế thì mặc nó vậy! Đừng nghĩ đến nữa!


- Ừ, tất nhiên phải thế! “Thượng đế thân yêu” nói sẽ làm cho cậu không còn con đường tiến nữa cơ mà! Ông ta quyết định như thế kia thì tao thấy mày chỉ còn cách phục tùng vô điều kiện nữa thôi! Hannô! “Con đường tiến” nghe hay làm sao! “Con đường tiến” của ông Môdơxơn thế là đi đời! Không bao giờ ông ấy được công nhận là giáo viên chính thức nữa. Con người bất hạnh! Đúng thế, trong trường chỉ có giáo viên trợ lý và giáo viên chính thức, không có giáo viên trống trơn. Đó là điều không hiểu nổi. Việc ấy chỉ có người lớn và người tứng trải mới hiểu được. Tao nghĩ, cứ gọi người này là giáo viên người kia không phải là giáo viên chính thức chưa đủ hay sao? Sao lại phải gọi là giáo viên chính thức? Tao thật không hiểu. Tất nhiên, ta có thể tìm “thượng đế thân yêu” hoặc ông Marốtki đề nghị các vị giải thích giúp. Nhưng việc gì sẽ xảy ra? Các vị sẽ cho rằng các anh cố tình làm nhục hiệu trưởng, rồi bảo anh là phản nghịch, trị cho anh một mẻ nát thịt tan xương, mặc dù anh rất tôn trọng các vị đó, thậm chí còn hơn họ tôn trọng họ… Thôi, mặc kệ họ! Bọn họ toàn là đồ tồi!


         Hai cậu đi dạo trong sân, Cai nói chuyện linh tinh để cho Hannô quên những việc vừa rồi đi, nhưng Hannô rất lấy làm thú vị.


- Mày xem, đây là cổng trường. Cổng để ngỏ, ngoài kia là phố xa. Chúng ta lẻn ra kia dạo một vòng có thú hơn không? Bây giờ là giờ nghỉ, còn sáu phút nữa mới vào học. Chúng ta có thể về đúng giờ. Nhưng vấn đề ở chỗ, không được làm như thế! Mày hiểu ý tao chứ? Đấy là cổng, cổng để ngỏ, không có chắn ngang, không có vật chướng ngại, không có gì hết. Đây là bậc cổng. Vậy mà chúng ta không được đi ra khỏi một giây nào, thậm chí không được nghỉ tới nữa. Thôi, chúng ta không được có ý nghĩ quái gỡ ấy. Tao lấy ví dụ khác, nếu bây giờ chúng ta nói khoảng mười một giờ rưỡi thì nghe thật lạ tai. Nhưng nếu nói bây giờ là giờ địa lý thì rất hợp tình, hợp ý.  Nhưng người ta không thể hỏi, lẽ nào như thế là cuộc sống ư? Mọi cái đều đảo ngược! Ôi, trời ơi! Nơi này có chịu buông tha tôi ra khỏi vòng tay của nó không?


- Hừ, buông ra rồi sao nữa? Hừ, rồi cứ như thế này mà thôi! Cai buông ra cũng thế thôi! Buông ra rồi sẽ làm gì? Ở đây, ít ra chúng ta không phải lo lắng cho bản thân mình. Từ ngày bố tao chết, ông Kíttenmacơ và ông Prinhem có nhiệm vụ thay bố tao, ngày nào cũng truy hỏi lớn lên tao sẽ làm gì? Làm gì tao cũng chẳng biết nữa! Tao không trả lời được. Cái gì tao cũng sợ hết…


- Sao mày bi quan thế? Mày còn có âm nhạc nữa kia mà?


- Âm nhạc của tao có ra gì. Cai! Âm nhạc chẳng dùng làm gì được. Lẽ nào tao có thể đi biểu diễn rong hay sao? Trước hết, họ cũng không cho tao làm như thế, kỳ thực tao cũng không có được trình độ ấy. Tao chẳng làm gì được hết, chỉ có thể chơi đàn lúc một mình thôi. Hơn nữa, cứ nghĩ rằng phải lang thang khắp nơi thì chết khiếp đi rồi. Mày thì khác. Mày còn có dũng khí hơn tao. Ở đây, việc gì mày cũng có thể giễu cợt được, mày có khả năng chống lại họ. Mày hy vọng viết được cái gì đó, kể những câu chuyện kỳ diệu cho người khác nghe, hay lắm, có ý nghĩa lắm. Sau này mày nhất định nổi tiếng, mày có tài. Vấn đề ở đâu? Vấn đề ở chỗ mày vui vẻ, cởi mở hơn tao. Ở lớp, hai đứa chúng mình thường trao đổi bằng ánh mắt. Như vừa rồi giờ của thầy Mantensác rất nhiều đứa làm bậy nhưng chỉ có Pêtơxơn bị ghi tên, lúc ấy chúng mình cũng đưa mắt nhìn nhau. Chúng mình nghĩ cùng một điều, nhưng mày thì nhăn mặt cho qua đi, còn tao thì không thể làm thế được. Tao chán ghét, chỉ buồn ngủ, muốn không biết gì hết. Tao muốn chết lắm, Cai ạ! Ôi, tiền đồ của tao tối tăm lắm! Tao không còn hứng thú điều gì hết, ngay cả việc nổi danh. Tao rất sợ nổi danh, cảm thấy trong đó có cái gì không công bằng lắm. Mày nhớ lời tao nhé, tao chẳng làm được việc gì lớn đâu. Gần đây, mục sư Prinhem làm lễ kiên tín xong, ông ta nói với mọi người rằng, đừng ai hy vọng gì ở tao cả. Tao xuất thân trong một gia đình suy tàn!


- Ông ta nói thế thật ư? – Cai thích thú hỏi.


- Đúng như thế. Ông ta nói là nói chú Cơrítxtian của tao, chú Cơrítxtian bây giờ bị nhốt trong bệnh viện tâm thần ở Hămbuốc. Ông ta nói đúng. Đừng ai hy vọng gì ở tao nữa cả, được như thế thì tao cảm ơn lắm. Ví như, tao đứt tay, xước da… người khác thì vết thương ấy một tuần lễ là khỏi, nhưng tao thì phải hàng tháng, nó mưng mủ, ngày càng loét to, làm tao đau đớn vô cùng. Gần đây, ông Bơrétsơ nói với tao, hàm răng của tao hỏng hết rồi, cái thì hỏng chân, cái thì sâu, ấy là chưa kể những cái nhổ đi! Bây giờ đã như thế, mày nghĩ xem đến năm tao ba, bốn mươi tuổi, tao sẽ lấy gì nhai? Hết cả hy vọng!


- Đúng thế! – Cai nói, chân bước nhanh – Bây giờ mày nói chuyện đánh pianô của mày xem nào! Tao định viết một câu chuyện tuyệt vời, một câu chuyện tuyệt vời!... Có lẽ, lát nữa, đến giờ tập vẽ, tao sẽ bắt đầu. Chiều nay mày chơi đàn không?


Hannô im lặng một lúc. Ánh mắt của chú có vẻ buồn rầu, mơ màng.


- Có, có chứ. Mặc dù tao không chơi bài ấy mới phải, mà nên chơi những bài tập và những bản hòa tấu thôi. Nhưng tao thích bài ấy, không tự kiềm chế được nữa, mặc dù bài ấy có thể làm hỏng cả!


- Hỏng à?


     Hannô không trả lời.


- Tao biết mày thích chơi bản gì rồi. – Cai nói, sau đó cả hai cùng im lặng.


Cả hai cậu đang ở vào thời kỳ thanh xuân. Khuôn mặt Cai đỏ gay, mắt nhìn vào Hannô, đầu không cúi xuống. Mặt Hannô trắng bệch. Trông chú rất nghiêm nghị, đôi mắt mơ màng nhìn sang một bên.


Ông Sơlêmien rung chuông, hai cậu lại lên gác.


Đến giờ địa lý. Giờ địa lý, phải kiểm tra bài, kiểm tra khu vực quan trọng. Một ông giáo để bộ râu đỏ, mặc áo đuôi tôm màu nâu, bước vào lớp. Ông ta da mặt trắng trẻo, cổ tay đầy lỗ chân lông, to tướng, nhưng không có một sợi lông nào. Đó là ông Musam một ông giáo già vui tính. Ông ta mắc bệnh khái huyết, lúc nói thường pha giọng hài hước, vì ông ta cho rằng ông ta rất biết nói đùa, vả lại ông ta bị con bệnh dày vò. Nhà ông ta có một tủ sách nho nhỏ, thu thập được khá nhiều bản thảo và di vật của Hainơ, nhà thơ dũng cảm bệnh tật đầy người. Vào lớp, ông ta treo ngay tấm bản đồ khu vực Xắcxơ lên bảng, rồi cười châm biếm, bảo mọi người vẽ lại những đặc điểm nổi bật của khu vực này. Ông ta hình như cười cợt học sinh mà hình như cười cợt khu vực Xắcxơ mặc dù bài kiểm tra ấy rất quan trọng, ai cũng sợ.


Hannô Bútđenbrúc chẳng biết gì về Xắcxơ, hay nói đúng hơn, điều ít ỏi chú biết gần như là không biết. Chú định nhìn bài của Tốttenhốp. Nhưng “Henrích Hainơ” tuy bề ngoài có nụ cười châm biếm, kiêu ngạo rất khó chịu, nhưng chú ý từng cử chỉ nhỏ của học sinh. Ông ta nhìn thấy Hannô, nói:


- “Ông” Bútđenbrúc, tôi rất muốn “ông” gấp vở lại, nhưng lại sợ đối với “ông” làm như thế không lịch sự. Xin “ông” cứ tiếp tục!


Câu ông ta nói bao hàm hai ý châm biếm. Thứ nhất là ông ta gọi Hannô bằng “ông”; thứ hai là, ông ta dùng chữ “lịch sự”. Bútđenbrúc không thể không cuối xuống vở của mình mà vắt óc suy nghĩ, cuối cùng chú phải nạp giấy trắng. Sau đó, chú cùng Cai đi ra.


 Mọi cửa ải hôm nay đã qua rồi… Những người vượt được một cách bình yên, lương tâm không bị cắn rứt và bị ghi tên thì sung sướng. Vào giờ của thầy Đơragơmulơ có thể thanh thản vẽ ngay trong phòng đầy ánh sáng.


  Phòng họa vừa rộng, vừa sáng sủa. Những chiếc bàn quanh tường bày rất nhiều tượng thạch cao phỏng theo tượng cổ. Trong một cái tủ khác có rất nhiều mảnh gỗ và bàn ghế ngồi chơi, tất cả những thứ ấy đều là hình mẫu. Ông Đơragơmulơ béo lùn, râu quai nón xén tròn, đội bộ tóc giả màu nâu rẻ tiền, trơn bóng, tóc thật hở dưới gáy. Ông ta có hai bộ tóc giả, một bộ dài, một bộ ngắn… Ông ta rất thích nói khôi hài. Ví dụ bút chì ông ta gọi là “chì”. Ngoài ra, đi đâu, đứng đâu, người ông ta cũng tỏa ra mùi mỡ và mùi rượu. Có người bảo ông ta uống ét xăng. Điều hạnh phúc nhất của ông ta là lên lớp thay người khác. Lúc ấy, ông ta tha hồ nói về chính sách Bítmắc, vừa dằn giọng, vừa đưa tay xoáy thành từng vòng hình trôn ốc từ mũi đến bả vai, rất kỳ quặc. Cứ nói đến đảng Xã hội dân chủ là ông ta tỏ ra vừa căn giận, vừa sợ hãi… “Chúng ta phải đoàn kết lại – ông ta vừa túm lấyvai một cậu học sinh hư, vừa nói – Đảng Xã hội dân chủ đứng ở ngoài cửa!”. Có lúc, cử chỉ của ông ta như người mắc bệnh thần kinh. Ông ta xuống đứng cạnh một học sinh, nồng nặc mùi rượu, lấy ngón tay đeo nhẫn vừa gõ gõ vào trán cậu, miệng tuôn ra một tràng những từ không liên quan gì đến nhau” “Nhìn thấu”, “hình ảnh ghi sâu”, “chì”, “Đảng Xã hội dân chủ”, “Đoàn kết!”… rồi đột ngột đứng dậy bỏ đi.


 Trong tiết học ấy, Cai viết một tác phẩm văn học mới, còn Hannô tưởng tượng mình đang chỉ huy một dàn nhạc. Hết giờ, mọi người mang đồ đạc của mình về. Lúc này có thể tự do đi qua cổng trường, ai về nhà nấy.


Hannô và Cai đi  về cùng đường, cho tới ngôi biệt thự màu đỏ ở ngoài cổng thành cổ. Hai cậu vẫn cắp cặp. Qua chỗ ấy, Cậu bá tước Cai phải đi một quãng xa nữa mới về đến nhà bố. Cậu không mặc áo choàng.


Lúc này, sương buổi sáng đã trở thành tuyết, từng cánh hoa tuyết mềm mại bay trong không trung, nhưng vừa rơi xuống đất là tan ngay. Mặt đất đầy bùn. Hai cậu chia tay nhau ở cửa vườn hoa nhà Bútđenbrúc. Hannô đã vào đến giữa vườn hoa rồi, Cai còn chạy theo ôm lấy cổ chú.


- Đừng buồn! Tốt nhất đừng chơi bản nhạc ấy! – Cậu nói khe khẽ, và sau đó cái bóng dáng mảnh mai của cậu biến trong gió tuyết.


Hannô vứt cặp sách cạnh con gấu nâu giả nâng đĩa to đặt ở hành lang, rồi chạy vào buồng trong chào mẹ. Lúc này, bà Ghécda đang ngồi trên ghế xích đu xem một cuốn sách bìa vàng. Khi Hannô bước trên thảm, bà mới ngước đôi mắt nâu hơi gần nhau lên nhìn con. Mắt bà vẫn có quầng xanh, Hannô đứng trước mặt mẹ, bà đưa tay lên ôm đầu con và hôn lên trán.


Hannô đi lên phòng riêng, chị hầu gái đang dọn bữa ăn trưa cho chủ. Rửa mặt xong, chú mới ngồi vào bàn. Ăn xong, chú lấy một hộp thuốc lá Nga rất nặng ở ngăn kéo bàn học ra, ngồi hút. Thứ thuốc lá này đối với chú không phải xa lạ. Chú ngồi trước đàn pianô chơi một bản nhạc rất buồn, rất nghiêm trang của Bách. Rồi chú đưa tay ra sau gáy, nhìn tuyết lặng lẽ rơi ngoài cửa sổ. Ngoài ấy chỉ có tuyết mênh mang không còn gì khác nữa. Vườn hoa nhỏ xinh xắn có dòng suối chảy róc rách cũng không còn. Bức tường xám ngoài biệt thự che tầm mắt.


Bốn giờ, bữa ăn chiều. Bữa ăn chỉ có ba người, bà Ghécda Bútđenbrúc, Giôhan và chị Cờlêmăngtin. Sau đó, Hannô chuẩn bị chơi đàn ở phòng khách. Chú ngồi trước chiếc đàn pianô chờ mẹ. Hôm nay chú chơi khúc nhạc số 21 của Bêtôven. Tiếng viôlông mềm mại du dương như lời ca của một thiên thần. Nhưng bà Ghécda không vừa ý, bà đưa đàn ra khỏi vai tỳ, nhìn chiếc đàn vẻ bực bội nói: “âm thanh rời rạc quá!”. Bà không kéo đàn nữa ra khỏi phòng.


Chỉ còn một mình Hannô ngồi ở phòng khách. Chú đến bên cửa kính thông qua ban công nhỏ hẹp, đứng nhìn vườn hoa có tuyết đang tan. Bỗng chú lùi lại một bước, kéo vội cái màn cửa có màu sữa lại. Căn phòng trở nên mông lung, mờ ảo. Rồi chú trở về bên pianô, đứng một lúc, mắt nhìn vào một nơi nhưng không thấy gì hết, dần dần trở nên mơ màng. Chú ngồi xuống chơi đàn theo cảm hứng.


 Chủ đề bản nhạc chú đang chơi thật đơn giản, thậm chí không thể gọi là chú đề nữa, chỉ là một đoạn mêlôđi ngắn tổng cộng khoảng nửa giờ. Lúc đầu, chú đánh từng tiếng trầm trầm rất nhẹ, nghe như một tiếng thở dài bị đè nén dưới một uy lực, như một dòng suối nhỏ sắp trào ra, không ai biết ý nghĩa ở chỗ nào. Nhưng khi chú sử dụng những âm cao, đánh đi đánh lại nhiều lần rất hài hòa với những âm sắc trong trẻo thì người ta dần dần mới hiểu ra. Chủ đề ấy chỉ là một giải pháp, sự đổi thay giữa những nổi niềm quyến luyến và đau khổ không đồng điệu. Khúc nhạc vốn là một sáng tác đơn giản, mộc mạc, nhưng chú chơi rất trang nghiêm, không chút cẩu thả nên có một sức mạnh  kỳ diệu vừa thần bí, vừa sâu sắc. Sau đó, chú lại chơi một đoạn khác thật vui, thật sinh động, âm thanh vang lên rồi chìm xuống như bồi hồi, lại như tìm kiếm gì đó, chốc chốc xen vào một tiếng rên khủng khiếp, phá vỡ đi, nghe có cảm giác như một linh hồn bị những âm thanh với những hòa âm không chịu lắng chìm; cứ trăn trở, bi ai, biến mất nhưng vẫn ôm lấy hy vọng làm cho kinh hãi. Các âm thanh mỗi lúc một mạnh rồi dồn dập, thôi thúc, đồng thời những tiếng kêu khủng khiếp cũng dồn lại, rõ dần và biến thành một điệu kèn nhiệt thành, cầu khẩn vang lên vừa mạnh, vừa cung kính, chiếm địa vị chủ đạo. Những âm hưởng xoáy trôn, cuộn sóng, bàng hoàng, trôi nổi láy đi láy lại ấy đều bị át đi, trầm lắng, chỉ còn những hợp âm thấp như trẻ con van xin và những tiết tấu giản đơn nhưng rất tinh tế. Cuối cùng, những âm thanh ấy kết thúc trong tiếng nhạc nhà thờ. Tiếp theo là một phút im lặng. Đột nhiên, hãy nghe, chủ đề thứ nhất với những âm sắc lảnh lót lại nhẹ nhàng vút lên. Những đoạn nhạc ngắn, khàn khàn, thần bí chuyển từ giai điệu này sang giai điệu khác một cách ngọt ngào mà đau khổ. Bỗng trào lên những âm thanh hỗn loạn, điên cuồng như trong khoảnh khắc bị một tiếng kèn hiệu khắc nghiệt và thô bạo khống chế tất cả. Chuyện gì đã xảy ra? Những gì đang được ấp ủ thai nghén? Tiếng kèn thôi thúc lên dường vang lên, tiếp theo hình như là sự tập hợp và chỉnh đốn lại lực lượng với những tiết tấu chắc nịch. Lại một bè khác vang lên, diễn tấu theo cảm hứng, một khúc nhạc săn bắn, nhanh và nhiệt tình nhưng không vui, ẩn náu trong đó là nỗi tuyệt vọng ngạo mạn. Không chỉ là tiếng kêu sợ hãi mà trong mọi âm thanh, chủ đề, thần bí ban đầu, với những hòa âm kỳ dị, ấm ức, được láy đi láy lại nghe rất đau đớn, say đắm, nhưng ngọt ngào. Sau đó là những âm thanh liên tiếp không còn nhận rõ ý nghĩa và tính chất, một loại âm giai, tiết tấu và hòa thanh gắn bó khéo léo với nhau. Hannô không còn làm chủ được bản thân nữa, những âm hưởng cứ trào ra dưới ngón tay chú. Ở phút trước chú chư biết phút sau sẽ là những gì… Chú ngồi hơi cuối xuống trên những phím đàn, miệng hé mở, ánh mắt mơ màng, sâu lắng, mái tóc màu nâu mềm mại phủ xuống thái dương. Chuyện gì đã xảy ra? Chú gặp phải điều gì? Phải chăng những khó khăn ghê gớm đã vượt qua? Con rắn độc ác đã bị giết chết rồi ư? Hay là chú đang leo lên vách núi c ao dựng đứng? Bởi qua dòng nước xiết? Vượt qua đám lửa? Chủ đề đơn giản ấy chuyển từ giai điệu này sang giai điệu khác, những tiếng cười sang sảng, những hạnh phúc không nắm bắt được cứ nổi lên trong khúc nhạc… Phải rồi, hầu như nó kêu gọi một sức mạnh mới, to lớn. Theo đó là những âm thanh ở cung độ thứ tám cuồng nhiệt như tiếng thét, lúc chậm rãi, rồi phình to ra không thể kìm giữ được với những âm thanh sôi sục của tình yêu  nồng cháy không sao chống lại nổi. Bỗng một âm thanh nhẹ nhàng mà kinh hãi, khiêu khích cắt ngang tất cả. Hình như mặt đất sụt xuống, con người rơi vào hố sâu dục vọng… Có lúc, những hòa âm đầu như cầu xin, như xám hối, nhẹ nhàng hiện lên ở một nơi xa xôi, nhưng rồi trong giây lát lại bị một âm thanh khàn khàn che lấp đi, âm thanh khàn khàn ấy lúc vang lên, lúc chìm xuống, giây lát lại giẫy dụa ồ ạt xông tới mục tiêu thần bí nào. Mục tiêu ấy nhất định sẽ xuất hiện, nó xuất hiện tong khoảnh khắc, vào lúc âm nhạc đạt đến cao trào, bởi vì lúc ấy khát vọng yêu đương không còn che đậy được nữa… Và nó đến thật rồi! Nó không còn kìm giữ nổi mình nữa, cơn khát vọng không còn kéo dài thêm nữa. Nó đến, rồi như một tám màn bị xé toang, như cửa ngõ bị phá tung ra, như hàng rào gai góc bị xô đổ, như bức tường lửa ập xuống… Giải pháp cuối cùng đã tới. Tất cả đều tan rã. Hy vọng được thỏa mãn. Mọi âm thanh đều hòa hợp trong một giai điệu reo vui. Tiếng nhạc trở nên ngọt ngào, trữ tình rồi chậm rãi và yếu dần. Nhưng lúc đó lại chuyển sang một giai điệu khác… trở về với chủ đề ban đầu. Bây giờ, không khí ngày hội được diễn tả bằng chủ đề đó, một cơn lốc, một trận vui phóng đãng… Giai điệu với những âm sắc khác nhau xuất hiện thông qua những âm độ khác nhau. Nó kêu gọi, nó run rẩy, nó ca hát, nó hoan hô, nó nức nở, nó che đậy bằng những âm thanh thắng lợi của đội kèn đồng, có lúc như bão tố gào thét, có lúc gióng giả như tiếng chuông, có lúc cuồn cuộn, có lúc như bong bóng bay cao vút lên. Người biểu diễn tỏ ra sùng bái một cách điên cuồng cái giai điệu tan nát, cái sáng tác hài hòa, ấu trĩ, ngắn ngủi không đầy nửa tiếng đồng hồ. Sự sùng bái ấy có cái thô thiển, ngu ngốc, khổ hạnh của kẻ sùng đạo, một thứ giống như tín ngưỡng và sự hy sinh bản thân mình. Ngoài ra, người biểu diễn không còn chủ động nữa, cứ muốn phát huy chủ đề, gây nên một cảm giác tội lỗi. Anh ta tham lam hút đến giọt mật cuối cùng, cho tới khi cảm thấy chán ngán, ghét bỏ, thể lực khô kiệt. Đó cũng là cảm giác tuyệt vọng làm cho người ta thấy anh ta tham lam hạnh phúc và diệt vong đến mức nào. Cuối cùng, sau sự mệt mỏi phóng đãng xuất hiện những âm thanh nhỏ nhẹ, chậm chạp nâng lên một cung độ, chuyển thành một giai điệu lớn, và mất dần trong âm thanh bi thảm bất tuyệt.


Hannô ngồi lặng đi một lúc lâu, cằm ép sát ngực, hai tay để trên đầu gối, rồi chú đứng dậy, đậy nắp đàn lại. Mặt chú tái nhợt, hai đầu gối mềm nhũn, mắt như bốc lửa. Chú sang phòng bên cạnh, nằm dài trên ghế xích đu rất lâu, không động đậy.


Đến giờ ăn tối. Ăn xong, mẹ chú và chú đánh một ván cờ không phân thắng bại. Nhưng hôm ấy cho tới nửa đêm, chú thắp một ngọn nến ngồi trước đàn ácmônium ở trong phòng mình. Vì giờ ấy phải giữ yên tĩnh nên chú chỉ có thể chơi đàn trong tưởng tượng, mặc dù chú định năm giờ rưỡi sáng hôm sau sẽ dậy chuẩn bị bài vở.


Một ngày của Giôhan trôi qua như thế đấy.


 


CHƯƠNG III


Bệnh thương hàn xảy ra như thế này.


Người bị bệnh lúc đầu cảm thấy khó chịu, rồi ngày một tăng, cuối cùng thì yếu dần, đồng thời người mỏi nhừ, không những các cơ bắp mỏi mà lục phủ ngũ tạng cũng thế, nhất là dạ dày, không muốn ăn uống gì hết, chỉ buồn ngủ, nhưng ngủ không được, cứ chập chờn, không thể nào làm cho hết mệt mỏi được. Đầu thì căng buốt, căng ra như có lớp sương mù trong đó, thấy trời đất quay cuồng, chân tay buồn rã. Tự dưng mũi chảy máu. Đó là tình trạng lúc mới bị.


Sau thì cảm thấy rét, toàn thân run lên, hai hàm răng đánh vào nhau cầm cập. Đó là triệu chứng cơn sốt sắp kéo tới. Thế rồi, nhiệt độ lên cao. Ngực và bụng có những chấm đỏ to bằng hạt đậu, lấy ngón tay ấn thì mất đi, nhưng nhắc tay lên lại xuất hiện. Mạch đập nhanh, mỗi phút có thể lên tới một trăm. Nhiệt độ có thể lên tới bốn mươi. Tình trạng ấy kéo dài suốt tuần lễ đầu.


Sang tuần thứ hai, đầu và tay chân không đau nữa, nhưng số lần hôn mê tăng lên, tai ù đến mức không nghe thấy gì nữa. Vẻ mặt trở nên ngớ ngẩn. Miệng há hốc, mắt lờ đờ, mất hẳn sinh khí. Tri giác trở nên kém minh mẫn, suốt ngày buồn ngủ, có lúc không phải là ngủ mà là mê đi, có lúc nói lảm nhảm và la hét. Người trông bẩn thỉu. Lợi, răng và lưỡi có nhiều vết đen, hơi thở cũng hôi hám. Người bệnh nằm ngửa bất động, nửa người dưới sưng phù. Cơ thể dán vào giường, đầu gối chống lên. Mạch lên tới một trăm hai mươi lần một phút. Mi mắt nửa khép, nửa hở, hai má không đỏ như lúc đầu mà trở nên tái nhợt. Những nốt đỏ ở ngực và ở bụng càng nhiều hơn. Nhiệt độ cơ thể lên tới bốn mươi mốt…


Tuần thứ ba, suy nhược hẳn, không còn nói lảm nhảm nữa. Không ai biết chắc linh hồn người bệnh chìm trong đêm tối miên man hay rời thể xác mà lang thang trong mộng cảnh xa xôi sâu thẳm nào! Người bệnh không nói mà cũng không dùng tay làm hiệu tiết lộ bí mật ấy, cứ nằm im, mất hết cảm giác – lúc này là lúc thập tử nhất sinh.


Có những người bệnh mắc bệnh do những tình huống đặc biệt mà chuẩn đoán trở nên khó khăn. Ví dụ những triệu chứng ban đầu như tinh thần không sảng khoái, mệt mỏi rã rời, chán ăn, ngủ chập chờn, đau đầu… phần lớn đã xuất hiện, nhưng người bệnh – người ấy là hy vọng của cả gia đình – lại vẫn đi lại, khỏe mạnh như thường, khi bệnh tăng lên cũng không làm cho người ta thấy khác. Thầy thuốc giỏi, xin cử một ví dụ, bác sĩ Lănghanxơ chẳng hạn, bác sĩ Lănghanxơ có đôi bàn tay đẹp với những chân lông mềm mại – thì chuẩn đoán là biết ngay bệnh gì rồi. Đến lúc những nốt đỏ nổi lên ở ngực và bụng thì ông có thể nói một cách chính xác. Ông sẽ không còn do dự gì nữa mà không dùng những biện pháp cần thiết, yêu cầu để người bệnh nằm ở một căn phòng thoáng đãng, rộng rãi, không quá mười bảy độ. Ông lại yêu cầu giữ gìn sạch sẽ, nếu như tình hình bệnh nhân cho phép -  cũng có lúc không thể làm được như thế - chăn đệm phải thay luôn, đề phòng chí rận. Ông sẽ bảo người nhà dùng khăn ướt thường xuyên lau miệng cho người bệnh. Còn thuốc men, ông có thể cho uống antipirin, hơn nữa, nếu người bệnh đau dạ dày, ông sẽ cho ăn nhiều thức ăn nhẹ, nhiều chất bổ. Ông dùng biện pháp tắm để hạ nhiệt độ người bệnh, cứ ba tiếng đồng hồ một lần cho ngâm trong bồn tắm. Ông cho uống những thứ kích thích mạnh như rượu brandi hoặc sâm banh.


 Những biện pháp ông sử dụng không theo một quy trình nào, chỉ mong có tác dụng ít nhiều, bởi vì chính ông cũng không biết những biện pháp ấy có giá trị gì, có ý nghĩa gì, có mục đích gì? Có một vấn đề rất quan trọng mà ông không biết, cho đến tuần lễ thứ ba, cho đến lúc bệnh nhân thập tử nhất sinh, ông vẫn như người mò mẫm trong đêm, đó là người bệnh có sống nổi hay không? Ông không  biết người mà ông cho là bị bệnh thương hàn kia chỉ mắc một cơn sốt không lấy gì làm nặng, hậu quả không vui vẻ sau khi bị cảm, hay đó là một hình thức làm cho bệnh nhân giải thoát, đó là vỏ ngoài của cái chết? Trường hợp thứ nhất thì bản thân của việc cảm  mạo là có thể tránh được, hoặc dù có bị cảm mạo thì có thể dựa vào khoa học mà chữa; con trường hợp thứ hai, cái chết dù xuất hiện với bộ mặt nào đi nữa, thuốc thang nào cũng vô hiệu!


Tâm thần người mắc bệnh thương hàn thường diễn ra như sau: trong cơn nửa tỉnh nửa mê, người bệnh như nghe tiếng gọi phấn chấn của cuộc sống. Đến khi đi dạo trên con đường có bóng râm, có gió mát và yên tĩnh nhưng nóng bức, thì tiếng gọi ấy trở nên rõ ràng, tha thiết. Anh ta dừng lại, nghe tiếng gọi vang vọng, phấn chấn, có chút trào lộng, tiếng gọi ấy gọi anh ta trở về nơi mà anh ta rời xa, đã quên đi hoàn toàn. Nếu lúc ấy, anh ta còn giữ được cảm giác xấu hổ vì thấy mình chưa làm tròn được nhiệm vụ đối với chuyện đời trào lộng, phiền phức, dã man bị vứt lại phía sau, anh ta thấy còn có chút sức mạnh, còn có chút dũng khí và còn có chút hứng thú, nếu anh ta còn thấy yêu đời, chưa muốn quay lưng lại với đời, thì dù có lạc xa trên con đường lạ, nóng bức kia, anh ta vẫn còn có thể quay lại với cuộc sống được. Nhưng nếu nghe tiếng gọi ấy mà anh ta sợ hãi, căm ghét run lên, thế thì tiếng gọi như khoái chí, như khiêu khích ấy chỉ có thể làm cho anh ta lắc đầu, giơ hai cánh tay ra chống đỡ, rồi đi tiếp con đường lẩn trốn… Thật rõ ràng, lúc ấy anh ta sẽ chết.


CHƯƠNG IV


- Như thế không đúng đâu, chị Ghécda ạ! Như thế không đúng đâu! – Dễ thường bà Vaisơbơrốt nói hàng trăm lần câu ấy trong giọng nói có hàm ý thương xót, trách móc. Tối hôm ấy, trong căn phòng cũ người học trò của bà, rất nhiều người ngồi xung quanh cái bàn tròn, có bà Ghécda Bútđenbrúc, có bà Tôny, con gái của bà là Êrica, có cô Cơlốthindơ đáng thương và ba tiểu thư Bútđenbrúc ở phố Manh. Bà Vaisơbơrốt ngồi trên chiếc ghế xô pha giữa đám người kia. Giải xanh trên chiếc mũ vải của bà bỏ thõng xuống đôi vai gầy. Một bên vai bà nhô cao lên để cánh tay bà có thể hoạt động thoải mái trên mặt bàn – cơ thể người đàn bà bảy mươi lăm tuổi này đã co rúm lại quá thể!


- Như thế là không đúng đâu, chị nghe tôi bảo! Chị đừng làm thế, chị Ghécda ạ! – Bà nhắc đi nhắc lại câu ấy, giọng kích động run run – Một chân tôi đã vùi trong đất, tôi chẳng sống bao lâu nữa mà chị lại muốn xa chúng tôi, chị lại muốn vĩnh biệt chúng tôi! Nếu như chỉ là đi chơi, chỉ đến Amxtécđam chơi vài hôm thì chẳng nói làm gì, nhưng chị lại vĩnh viễn không trở lại – Cái đầu như đầu chim của bà đã bạc trắng, cứ lắc la lắc lư, đôi mắt màu nâu chứa chan trí tuệ trở nên buồn bã – Tất nhiên chị mất mát nhiều lắm!


- Há phải mất nhiều thôi ư? Chị ấy mất hết! – Bà Tôny nói – Chúng ta không nên ích kỷ quá, bà Thêredơ ạ! Chị Ghécda muốn đi thì cứ để chị ấy đi, chẳng có cách nào cả! Hai mươi mốt năm trước, anh Tômát đưa chị ấy về đây, ai cũng mến chị ấy, tuy chị ấy lúc nào cũng ghét chúng ta… Đúng như thế! Lúc nào chị cũng ghét chúng tôi, không nên phủ nhận điều đó, chị Ghécda ạ! Bây giờ anh Tômát không còn nữa, mà cũng chẳng còn ai nữa. Chúng tôi đối với chị có ý nghĩa gì đâu! Mặc dù điều đó làm chúng tôi đau khổ, nhưng chị cứ đi đi, chị Ghécda ạ! Cầu Chúa phù hộ cho chị! Năm anh Tômát mất, chị chưa đi ngay, chúng tôi cảm ơn chị lắm rồi…


   Đó là vào một buổi hoàng hôn mùa thu, ăn chiều xong, khoảng sáu tháng sau khi Giôhan nhận lễ cầu nguyện của mục sư Prinhem, chôn ở rừng cây con dưới giá thập tự xây xi măng và tấm gia huy ở ngoại thành. Trước nhà, nước mưa nhỏ tí tách, hai bên đường cây đã rụng hết lá. Chốc chốc một cơn gió chướng thổi tới, hắt nước mưa vào kính. Tám người đàn bà ấy đều mặc áo quần màu đen.


Đấy là cuộc hội họp nho nhỏ của gia đình, một cuộc giã từ, giã từ bà Ghécda Bútđenbrúc. Bà Ghécda sắp rời khỏi nơi này về Amxtécđam cùng với cụ thân sinh chơi đàn trước kia. Bà không còn nghĩa vụ gì ở đây nữa. Bà Tôny không phản đối quyết định của bà chị dâu, bà chịu nhượng bộ, mặc dù trong lòng bà cảm thấy đau đớn vô cùng. Nếu như bà phu nhân của ông nghị đã quá cố vẫn ở lại thành phố này, nếu như bà ta vẫn giữ được địa vị danh dự trong giới xã giao và không di chuyển tài sản đi nơi khác, thì dòng họ này vẫn giữ được chút thanh danh. Dù sao đi nữa thì bà Antôni đã quyết, nếu bà còn sống ngày nào, nếu người ta vẫn còn trông thấy mặt bà, thì bà vẫn còn ngước cao đầu lên. Cụ tổ nhà bà từng ngồi xe tứ mã đi ngao du khắp nước cơ mà!


 Qua quá nửa đời người đầy trắc trở, dù bệnh dạ dày hành hạ liên tiếp, trông bà vẫn như người mới năm mươi. Màu da bà có nhợt nhạt đi, môi trên – vành môi đẹp làm rung động lòng người của bà – có chút lông tơ, nhưng cái đầu hói trong vành mũ tang của bà vẫn chưa có lấy một sợi tóc bạc.


 Người em họ của bà, cô Cơlốthindơ đáng thương đối với cuộc ra đi của bà Ghécda thì điềm nhiên lãnh đạm như đối với mọi sự ở đời này. Trong bữa ăn chiều vừa rồi, cô chẳng nói gì. Bây giờ, cô ngồi kia, thỉnh thoảng mới kéo dài giọng nói vài câu giữ hòa khí. Người vẫn gày gò xanh xao như trước kia.


Êrica đã ba mươi mốt tuổi, cô không xúc động chút nào trước sự chia ly của bác gái. Cô trải qua nhiều nỗi đau đớn hơn thế nên từ lâu cô đã biết chịu đựng những nghịch cảnh của cuộc đời. Đôi mắt xanh, mọng nước của cô – đôi mắt giống mắt ông Gơruynlích như đúc – lộ vẻ đau buồn, khuất phục. Trong giọng nói bình tĩnh, ai oán của cô, cũng thấy được tâm tình ấy.


Ba cô thiên kim tiểu thư của ông bác Gốthôn vẫn có vẻ khiêu khích, châm chọc như trước kia. Hai cô chị Phơriđơrichcơ và Henriét, trở nên khô đét với thời gian; còn cô em út Phípphi, năm mươi ba tuổi, thì lại vừa béo vừa lùn.


Bà Giúttút, vợ ông tham Cơruêgơ cũng được mời nhưng không tới, chẳng hiểu vì sao. Có lẽ bà hơi mệt, cũng có lẽ vì bà không có áo quần ra hồn.


 Mọi người bàn bạc về chuyện bà Ghécda nên đi tàu hay đi xe và việc giao thông cho ông Gốtxơ đứng bán ngôi biệt thự và cả căn nhà đó, vì bà Ghécda không đemtheo một thứ gì, cũng như lúc bà đến đây vậy.


Rồi bà Tôny nói về cuộc đời, về những chuyện nghiêm túc tong cuộc sống, về những suy nghĩ của bà đối với quá khứ, đối với tương lai, mặc dù tương lai chẳng có gì đáng nói cả.


- Ừ, sau khi tôi chết, nếu con Êrica muốn thì nó có thể dọn đi nơi khác – bà nói – tôi thì tôi chẳng đi đâu cả. Còn sống được ngày nào thì tôi vẫn sống ở đây. Mấy người còn lại chúng ta, mỗi tuần các bà, các chị đến đây ăn với tôi một bữa… rồi chúng ta đọc lại gia phả - Bà vỗ vào cái cặp da để ở trước mặt – chị Ghécda cứ đưa cái này cho tôi giữ, tôi cảm ơn chị. Cứ quyết định như thế nhé! Nghe chưa, cô Cơlốthindơ?... Cô mời chúng tôi tới cũng được, vì cô còn khá hơn chúng tôi. Thôi, thế thôi nhé! Ai cũng bận giành giật với cuộc sống… Còn cô lại ngồi nhẫn nại chờ đợi mọi việc sẵn sàng. Cô giống như con lạc đà, cô Cơlốthindơ ạ! Tôi nói thế cô đừng giận nhé!


- Bà cứ nói thế, bà Tôny! - Cô Cơlốthindơ nói.


- Thật đáng tiếc, em không đến từ biệt chú Cơrítxtian được – bà Ghécda nói.


   Thế là câu chuyện chuyển sang ông Cơrítxtian. Ông ít có hy vọng ra khỏi cái bệnh viện ấy mặc dù bệnh tình chưa đến mức không được hoạt động tự do. Nhưng như thế càng tốt đối với bà vợ ông, như bà Tôny nói.


Bà vợ ông thông đồng với bác sĩ, xem chừng ông Cơrítxtian còn phải ở bệnh viện tâm thần vài năm nữa!


 Câu chuyện đến đây thì mọi người im lặng một lúc. Sau đó, họ khe khẽ nói đến chuyện mới xảy ra gần đây, cái tên Giôhan được một người nào đó nhắc tới, căn phòng lại im lặng, chỉ còn nghe tiếng mưa rơi ngoài cửa mỗi lúc một to.


 Bệnh của Hannô hết sức dễ sợ, người ta sợ nhắc đến như sợ một bí mật gì ghê ghớm lắm. Nếu ai đó chỉ thấp giọng, ngập ngừng nhắc đến, thì không ai dám nhìn ai nữa. Cuối cùng, mọi người nhớ đến một chuyện nhỏ đã xảy ra. Cậu bá tước, quần áo lôi thôi lếch thếch ấy đến thăm, khăng khăng đòi vào phòng người bệnh. Hannô lúc đó không nhận ra ai nữa, nhưng nghe tiếng Cai thì nét mặt bỗng tươi hẳn lên. Cai cầm tay Hannô hôn lấy hôn để.


- Cậu ta hôn tay ư? – Ba cô tiểu thư nhà Bútđenbrúc cùng hỏi.


- Hôn mấy lần cơ!


 Chuyện ấy làm mọi người lặng đi một lúc.


(còn tiếp)


Nguồn: Gia đình Buddenbrock. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.


www.trieuxuan.info







1 Nguyên bản tiếng Anh: The Monkey.




2 Nguyên văn tiếng Anh:


                       Monkey, little, merry fellow


                     Thou art nature’s punchinello


                    




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Quo Vadis - Henryk Sienkiewicz 02.12.2016
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 20.11.2016
Zorba tay chơi Hy Lạp - Nikos Kazantzakis 17.11.2016
Tình yêu và lý tưởng - Thomas Mann 08.11.2016
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 08.11.2016
Tôtem Sói (The Wolf Totem) - Khương Nhung 04.11.2016
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 12.10.2016
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 12.10.2016
Ly thân - Trần Mạnh Hảo 09.10.2016
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 06.10.2016
xem thêm »