tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Nhà hàng Việt Phố

 

Khách thăm: 13003843
Tiểu thuyết
16.04.2015
Thomas Mann
Gia đình Butđenbruc


Bà chưa nói hết câu đã cầm tờ báo lên, giở ra, nhìn từng cột, vẻ khinh thường. Bỗng bà dừng lại ở một mẩu tin ngắn bốn năm dòng… Tiếng bà nghẹn lại. Bà cầm kính đọc, vừa đọc, miệng bà vừa há ra. Đọc xong, bà kêu lên, đưa hai tay lên ôm má.



- Không thể thế được!… Không thể có việc ấy được! Không, chị Ghécđa…, anh Tômát, anh chị xem này!… Dễ sợ chưa! Thương cho con Amgác! Nó gặp việc này!…



Bà Ghécđa ngước đầu lên, ông Tômát ngạc nhiên quay sang phía bà em gái. Bà Tôny đọc to mẩu tin, giọng bà run run, nhấn từng chữ tưởng như chữ nào cũng liên quan đến vận mệnh mọi người. Tin từ Rốtxtốc cho biết, ông chủ trang trại Puêpenrađơ là Phôn Maibom đêm hôm qua tự tử bằng súng lục ngay trong phòng giấy. “Nguyên nhân hình như là vỡ nợ. Ông Phôn Maibom để lại một vợ, ba con”. Đọc xong, bà để tờ báo rơi xuống đầu gối, ngả người ra phía sau, im lặng, mắt buồn thảm nhìn ông anh và bà chị dâu. Khi bà đọc xong thì ông Tômát Bútđenbrúc quay người đi, nhìn phòng khách tối om sau bức màn.



Căn phòng lặng ngắt, hai phút sau ông mới hỏi:



- Bằng súng lục à? – Làm thinh một lúc, ông nói chậm rãi, giằn từng tiếng như châm biếm – Ừ lão quý tộc ấy kết liễu đời mình như thế ư?



Rồi ông lại trầm ngâm suy nghĩ. Tay ông mân mê râu mép, cử chỉ bối rối ấy không đi dôi với ánh mắt mơ màng, trì trệ, không tự chủ của ông.



Ông không hiểu nổi nỗi buồn của bà em gái và không đoán được cuộc sống sau này của người bạn gái Amgác ra sao, cũng không chú ý đến bà Ghécđa, bà ta không quay đầu lại nhưng vẫn chăm chú dò xét chồng bằng đôi mắt màu nâu rất gần nhau, có bóng tối che phủ.



 



 



Chương II



 



Ông Tômát Bútđenbrúc nhìn vào những năm cuối đời mình bằng con mắt u uất, buồn thảm, nhưng nhìn vào tiền đồ Giôhan, thì ông không thể nhìn bằng đôi mắt ấy được. Ý thức về dòng họ, lòng ngưỡng mộ đối với quá khứ, hay sự quan tâm đối với tương lai của dòng họ và những điều mà ông đã thừa hưởng của tổ tiên, nhất là sự giáo dục mà ông đã nhận được, đều không cho phép ông làm như thế. Bạn bè thân thích của ông, em gái ông (kể cả mấy cô gái già phố Brêten), nửa lo lắng, nửa tò mò chờ đợi ở Giôhan cũng ảnh hưởng đến tư tưởng của ông. Ông vui mừng tự an ủi rằng mặc dù mỗi ngày mình một suy yếu kiệt quệ, tương lai mờ mịt, nhưng về người thừa kế bé nhỏ này thì ông lại ôm ấp biết bao nhiêu hy vọng. Ông ao ước Giôhan sẽ là một người tháo vát, chăm chỉ làm ăn, Giôhan sẽ đạt và được nhiều quyền lợi, trở nên giàu có, làm rạng rỡ môn mi. Phải có như thế mới sưởi ấm được cuộc đời lạnh lẽo trống trải của ông, mới làm cho ông lo lắng, sợ hãi, buồn rầu, hy vọng thật sự.



   Có lẽ về già, ở một góc yên tĩnh nào đó, ông sẽ nhìn lại thuở xa xưa, và lúc ấy thời đại cụ tổ Hannô sẽ tái hiện chăng? Chút hy vọng ấy hoàn toàn không thực hiện được ư? Ông vốn xem âm nhạc là kẻ thù của ông, nhưng thực tế có phải nghiêm trọng đến mức ấy không? Dù có thừa nhận rằng thằng bé không nhìn bản nhạc, chỉ theo cảm hứng mà vẫn diễn tấu được, điều ấy chứng tỏ thiên bẩm của nó khác thường đi chăng nữa, nhưng khi chính thức được ông Phít dạy dỗ thì nó lại chẳng tiến bộ gì lắm. Không còn nghi ngờ gì nữa, nó thích nghe nhạc là chịu ảnh hưởng của mẹ, ảnh hưởng ấy sâu sắc từ khi nó còn nhỏ. Cái điều ấy chẳng có gì lạ. Từ nay về sau là lúc có cơ hội ảnh hưởng đến đứa con của mình thì ông là bố, ông phải kéo nó về phía mình, lấy ảnh hưởng của người đàn ông làm mờ nhạt sự giáo dục của người mẹ đi. Ông quyết không để cơ hội ấy trôi qua.



Hannô đã mười một tuổi rồi. Lễ phục sinh năm nay, chú và bá tước tí hon Cai, bạn chú, chật vật lắm mới lên được lớp ba, phải thi lại hai môn toán và địa lý. Cả nhà quyết định cho chú vào ban thực hành, sau này chú ra buôn bán, thừa kế nghề nghiệp của gia đình, cái đó rất tự nhiên. Có lúc ông nghị hỏi chú có hứng thú gì với công việc sau này của chú không, chú trả lời “có” cụt ngủn. Ông nghị hỏi dồn mấy câu nữa, bắt chú nói thêm, mong chú trả lời rõ hơn, nhưng chẳng đi đến đâu hết.



Nếu như ông nghị có những hai đứa con trai, nhất định ông cho thằng em học hết trung học rồi tiếp tục lên đại học. Nhưng Công ty cần người thừa kế, vả lại ông thấy miễn cho nó cái khổ học tiếng Hy Lạp vô vị kia, đối với nó, cũng là điều tốt! Ông cho rằng bài vở ở ban thực hành dễ hơn. Hannô là đứa trẻ tiếp thu chậm, không tập trung được lâu, sức khỏe lại yếu, phải nghỉ học luôn, thì vào ban thực hành đỡ vất vả, học sẽ nhanh hơn, có kết quả hơn. Nếu hy vọng Giôhan Bútđenbrúc một ngày kia có thể làm tròn sứ mệnh mà số kiếp đã định cho, không đến nỗi phụ lòng mong muốn của họ hàng thì điều mọi người phải chú ý trước hết là, một mặt bảo vệ thể chất ốm yếu của chú, mặt khác tìm cách luyện tập thích đáng để dần dần nâng sức khỏe của chú lên.



Mái tóc màu nâu của chú rẽ xiên, phía trước chải ngược lên vầng trán trắng trẻo, nhưng mấy cuộn tóc xoắn mềm cứ xõa xuống, lông mi màu nâu rất dài, ngươi mắt vàng óng ánh. Trông chú mặc quần áo lính thủy kiểu Côpenha, nhưng dù ở trong sân trường hoặc ở ngoài đường phố, giữa đám học sinh có mái tóc vàng hoe, mắt xanh biếc, trông chú khác hẳn. Mấy năm lại đây, người chú chắc chắn hơn trước, nhưng đôi chân trong bít tất màu đen và hai bắp tay trong chiếc áo sơmi rộng thùng thình, trông vẫn khẳng kheo, yếu ớt như con gái. Mắt chú thì y như mẹ chú, lúc nào cũng có quầng thâm nhất là khi nhìn nghiêng, trông nhu nhược, sợ sệt. Môi vẫn mím chặt, có vẻ u uất như hồi nhỏ, hoặc như khi chú đưa lưỡi vào chiếc răng lung lay, miệng chú méo xệch đi, sắc mặt chú giống như cảm lạnh…



Bác sĩ Lănghanxơ đã thay bác sĩ Gơrabô làm cố vấn sức khỏe cho gia đình Bútđenbrúc, bác sĩ Lănghanxơ cho biết, sở dĩ Hannô yếu ớt xanh xao như thế làvì cơ thể chú không đủ hồng huyết cầu. Bệnh ấy không phải không có thuốc chữa. Có một loại thuốc rất hiệu nghiệm, bác sĩ Lănghanxơ kê cho một cái đơn mua rất nhiều, đó là dầu cá, vàng óng, sền sệt, mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần một thìa. Theo ông nghị dặn, bà Iđa Iungman hàng ngày cứ đúng giờ cho chú uống rất đều. Mới đầu chú uống vào là nôn, dạ dày ấy hình như không dung nạp nổi thứ thuốc tốt ấy. Nhưng lâu rồi quen dần, cứ uống một hụm dầu cá lại nín thở nuốt một miếng bánh mì ngay, thì không buồn nôn lắm nữa.



    Còn những bệnh khác chẳng qua là hậu quả của bệnh hồng huyết cầu, đều là những bệnh “đi đôi” với bệnh kia, như lời bác sĩ Lănghanxơ vừa nói, vừa nhìn vào móng tay mình. Nhưng cũng phải chữa cho dứt đi. Răng thì đã có bác sĩ Bơrétsơ, ông ta ở phố Nhà Máy Xay ông ta chữa răng, biết trồng răng giả, lúc cần có thể nhổ được. Còn bệnh đường ruột thì ông đã có dầu pima, loại dầu pima hảo hạng, dinh dính, óng ánh như bạc, uống bằng thìa cà phê, nó cứ tuột vào cổ họng như con lươn, mãi ba hôm sau, đi đứng hay nằm ngủ, trong cổ họng vẫn phảng phất mùi ấy… Ôi, tại sao tất cả các loại thuốc ấy đều khó uống đến thế! Một lần – lần ấy Hannô ốm rất nặng, nằm trên giường, tim đập loạn xạ – bác sĩ Lănghanxơ lo lắng bắt mạch kê đơn. Loại thuốc này Hannô rất thích, vả lại đã có hiệu nghiệm, đó là viên ácxen. Từ đó về sau, lúc nào Hannô cũng thèm thứ thuốc viên vị ngọt dễ chịu ấy. Nhưng chẳng bao giờ được nữa!



    Dầu cá và dầu pima đều là thuốc tốt cả, nhưng bác sĩ Lănghanxơ và ông nghị cho rằng, nếu như Giôhan không cố gắng mà chỉ dựa vào mấy loại thuốc ấy thì không thể khỏe lên được, không thể trở thành người có khả năng chịu đựng. Về điều này, ý kiến hai người là nhất trí. Ví dụ thày giáo dạy thể dục tổ chức một lớp huấn luyện ở quảng trường vào mùa hè, mỗi tuần tập một lần, cũng là một dịp bồi dưỡng lòng dũng cảm, sức khỏe, kỹ năng và ý chí cho thanh niên trong thành phố. Nhưng chú Giôhan thì rất ghét cái hoạt động thượng võ ấy, chú tỏ ra lạnh nhạt, dè dặt, ngờ vực một cách kiêu ngạo, làm ông nghị rất bực… Tư đó về sau, không hiểu sao, chú thấy không có cảm tình với lũ bạn cùng lớp, cùng tuổi? Không hiểu sao với Cai, mặt lúc nào cũng bẩn thỉu thì chú không rời ra được, như bóng với hình? Dĩ nhiên, Cai là một đứa trẻ ngoan, nhưng cậu ta kỳ quặc một chút, sau này chẳng phải là người bạn thích hợp với chú đâu! Một đứa trẻ phải được sống chung với những đứa cùng tuổi, chúng có ảnh hưởng rất lớn đến cách nhìn cuộc đời và đến cả cuộc đời nó, vì vậy ngay từ đầu, nó phải học cách làm thế nào để được bạn bè tín nhiệm và tôn trọng. Như hai cậu con của ông tham Haghenxtruêm, một cậu mười bốn, một cậu mười hai, thật là mẫu mực: béo tốt, khỏe mạnh, xốc vác. Chúng chính thức tham gia cuộc đấu quyền. Chúng là vận động viên ưu tú của nhà trường, bơi lội như báo biển, không những biết hút thuốc mà bất cứ trò gì cũng thành thạo. Chúng làm cho người ta kiêng nể và kính phục. Hai cậu anh em chú bác, con quan kiểm sát, tiếm sĩ Môrítxơ Haghenxtruêm, thì lại yếu ớt, có vẻ văn nhã, học rất giỏi. Chúng là học sinh gương mẫu của nhà trường, chăm chỉ, hòa nhã, có chí, chúng dồn tất cả tâm lực vào chuyện học hành. Cả hai đều mong trở thành học sinh ưu tú, thi cử đỗ đầu. Và quả thực chúng đã được như ý muốn. Chúng được bọn bạn cùng tuổi, chậm chạp và lười biếng, trọng vọng. Còn bạn bè Hannô – chưa nói các thầy giáo – thì đánh giá chú như thế nào? Chú chỉ là một học sinh hết sức tầm thường, một cái giá áo túi cơm trốn tránh mọi hoạt động đòi hỏi dũng cảm, sức khỏe và kỹ năng. Những khi ông nghị theo hành lang gác ba vào phòng thay áo quần, đi qua căn phòng giữa – từ khi Hannô lớn lên, chú không ngủ chung vơi bà Iđa Iungman nữa mà ở phòng này một mình – nếu không nghe thấy tiếng đàn ácmônium thì nghe tiếng Cai kể chuyện cổ tích, giọng khe khẽ bí mật.



Còn Cai cũng trốn thể dục vì cậu ta ngại chấp hanh kỷ luật giờ này. “Không, Hannô – cậu ta nói – Tớ không đi. Cậu đi không? Mẹ kiếp, trò gì thích thì chẳng chơi!”. Tiếng “mẹ kiếp” cậu ta học được của bố. Hannô trả lời: “Hôm nay thầy giáo thể dục không có mùi hôi và mùi bia nữa thì mới có thể bàn đến việc ấy được! Thôi kể tiếp đi. Chuyện cái nhẫn lấy được trong bể nước ấy mà, cậu kể chưa hết”. “Được rồi, nhưng tớ gật đầu một cái là cậu phải đánh đàn ngay nhé!”. Thế là Cai kể nốt câu chuyện.



Nếu có thể tin được lời cậu ta thì đêm kia đêm kìa trời nóng bức, ở một nơi nào đó rất xa lạ, cậu ta từ trên dốc cao, rất trơn, tuột xuống. Dưới chân dốc, lửa lân tinh chấp chới sáng lòe. Trong luồng ánh sáng ấy, cậu ta thấy một đầm nước đen ngòm. Bọt nước trắng phau theo nhau nổi lên. Một cái bọt dạt vào bờ rồi vỡ ra trông như chiếc nhẫn. Không kể nguy hiểm, cậu ta cố hết sức mới vớt được. Cầm vào tay rồi, nó biến thành chiếc nhẫn thật, không vỡ ra nữa. Cậu ta đeo vào tay. Tất nhiên, chiếc nhẫn ấy có phép thần. Có chiếc nhẫn phù hộ, cậu ta lại leo lên cái dốc kia. Cậu ta lại thấy trong đám sương màu hồng, cách cái dốc không xa lắm, có một cung điện đen ngòm rất yên lặng, đầy yêu quái. Cậu ta xông vào, nhờ phép màu của chiếc nhẫn, cậu ta trừ được yêu quái giải thoát cho bao nhiêu người!... Cai kẻ đến đoạn kỳ diệu nhất thì Hannô tấu một khúc nhạc tuyệt hay. Những lúc trên sân khấu không khắc phục được những khó khăn về bối cảnh, người ta cũng diễn những câu chuyện như thế bằng con rối, có nhạc đệm… Nhưng bao giờ ông nghị bắt buộc lắm, chú Hannô mới tham gia giờ tập thể dục, lúc ấy Cai cũng theo đi ra.



Mùa đông đi trượt băng hay mùa hè đi bơi trong bể bơi bằng gỗ ở hạ lưu sông, do thầy hướng dẫn, đều như thế cả. “Đi tắm, đi bơi! – bác sĩ Lănghanxơ nói – chú bé này phải đi bơi mới được!”. Ông nghị rất đồng ý với ông. Còn Hannô thì luôn lẩn tránh giờ tập bơi, giờ trượt băng hay giờ tập thể dục. Chú có lý do của chú. Nguyên nhân là, những môn ấy hai cậu con ông Haghenxtruêm chơi rất xuất sắc. Chúng chờ Giôhan lâu lắm rồi. Tuy hai cậu ấy ở nhà bà nội, nhưng chúng luôn luôn tìm cách trêu chọc, làm khổ Giôhan. Giờ thể dục, chúng xô Giôhan ngã trên đống tuyết bẩn ở sân băng, giờ chơi chúng gào to và té nước vào chú… Hannô không chạy, vì chạy cũng chẳng thoát. Chú đứng lỳ dưới nước, để lộ hai cánh tay con gái, vớt những ngọn cỏ lông ngỗng vật vờ trên mặt nước. Chú cau mày, nhếch miệng, mặt sa sầm, chờ cho hai cậu kia lại. Hai cậu con ông Haghenxtruêm chắc chắn thế nào cũng tóm được chú. Chúng rẽ nước ào ào xông tới. Tay chúng khỏe, bốn cánh tay ấy ôm chặt lấy chú, dìm xuống khá lâu, làm chú uống bao là nước bẩn, mãi đến khi vùng vẫy sắp tắt thở, chúng mới buông ra… Chú chỉ có trả thù được có một lần. Chiều hôm ấy, lúc hai cậu con ông Haghenxtruêm dìm chú xuống nước, bỗng một trong hai cậu thét một tiếng, rồi giơ đùi lên, máu chảy dòng dòng. Lúc bấy giờ bá tước Cai mới xuất hiện. Thì ra, không hiểu lấy đâu ra tiền mua vé vào cửa, mà Cai đã lặng lẽ bơi tới cắn cậu con ông Haghenxtruêm một miếng – cả hàm răng lún sâu vào thịt như răng chó dại! Mái tóc vàng khè của cậu ta đẫm nước rũ xuống mặt, hai can mắt xanh biếc chớp chớp giữa đám tóc che phủ… Đáng thương cho cho bá tước tý hon ấy, cậu ta khổ sở vì chuyện này! Ra khỏi bể bơi, cậu ta không còn ra hồn người nữa. Nhưng cậu con ông Haghenxtruêm cũng phải khấp khểnh mà đi về nhà!



Thuốc bổ và tập luyện – ông nghị Bútđenbrúc dùng hai thứ ấy để bồi dưỡng cho con trai. Ngoài ra, ông cũng không quên tác động tinh thần Giôhan để chú có được những ấn tượng sinh động về cái thế giới hiện thực này, thế giới mà tương lai chú sẽ tiếp xúc.



Ông dẫn chú từng bước vào cái mội trường mà sau này chú sẽ có mặt. Bất cứ hoạt động gì có liên quan đến nghề nghiệp của ông, ông đều đưa chú đi theo. Khi ông nói chuyện với công nhân ở bến tàu bằng tiếng Đan Mạch lẫn tiếng địa phương miền bắc nước Đức, khi ông bàn công việc với người làm công ngay cạnh nhà kho lương thực tối om, hoặc khi ông đứng trong sân sai bảo công nhân bốc vác đang kéo dài giọng dô hò trên đống lương thực, ông đều để Hannô ở ngay cạnh… Đối với ông Tômát Bútđenbrúc, hải cảng, tàu bè, kho hàng, kho lương thực… nơi có những tấm tôn nồng nặc mùi bơ, mùi cá, mùi nước biển, mùi dầu mỡ, là những nơi từ nhỏ ông có cảm tình nhất và ưa tới nhất. Nhưng ngày nay con ông không tỏ ra thích thú những chỗ ấy, nên ông phải tập cho nó thích thú đi thì vừa. “Những chiếc tàu chạy đường Côpenha tên là gì?” “Ít nhất con biết được như thế thì tốt lắm rồi, con ạ! Còn nữa thì con phải tìm mà biết dần… Trong những người khuân vác những bao ngũ cốc kia, có nhiều người trùng tên với con đấy, bởi vì chính ông con đặt tên cho họ. Con cái họ có nhiều đứa trùng tên với ba, trùng tên với mẹ con. Hàng năm chúng ta thường tặng họ một thứ gì đó làm quà. Còn những người ở kho hàng đằng kia chúng ta vừa chúng ta vừa đi qua, thì con đừng tiếp xúc. Chúng ta chẳng có gì để nói với họ cả. Đó là một hãng buôn đang cạnh tranh với chúng ta đấy…”.



Có lần ông hỏi:



- Con có muốn đi với ba không, Hannô? Chiều nay công ty chúng ta cho hạ thủy một chiếc tàu. Ba đến dự lễ đặt tên cho nó đấy, con đi theo ba không?



Hannô trả lời là chú muốn đi theo. Thế là chú được đi theo, được nghe bố nói chuyện trong buổi lễ, xem bố đập một chai sâmbanh vào mũi tàu, xem chiếc tàu từ trên cái bệ bôi đầy xà phòng xanh trượt dần xuống nước, tung bọt trắng xóa. Nhưng lòng chú vẫn thờ ơ lạnh nhạt.



Hàng năm vào những ngày như ngày lễ Kiên tín trước lễ Phục sinh một tuần, hoặc giả vào tết nguyên đán, ông nghị thường ngồi xe ngựa đi vòng quanh thành phố, thăm những nhà cần phải thăm theo phép xã giao. Những dịp ấy, bà nghị thường lấy cớ đau đầu hoặc trong người không được khỏe, mà ở nhà, thế là ông nghị bảo Hannô đi theo mình. Chuyện đó thì Hannô rất thích. Chú ngồi xe ngựa với bố, vào phòng khách ngồi cạnh bố, lặng lẽ quan sát cử chỉ và lời nói của bố ung dung, chu đáo nhưng thay đổi tùy từng người. Chú để ý thấy khi bố cáo từ ra về, ông trung tá tư lệnh nói quá đáng rằng ông ta rất làm vinh hạnh được ông nghị “quan tâm” đến nhà, thì chú nhớ mãi cảnh ông nghị khoác tay lên vai ông trung tá tỏ vẻ biết ơn. Ở một nơi khác, ông trầm ngâm nghiêm nghị lắng nghe những câu nói khách sáo, ở một nơi khác nữa thì ông trả lời lại bằng những câu nói khách sáo không kém, đầy ý nghĩa hài hước… Bất cứ trường hợp nào, lời nói, cử chỉ của ông cũng lão luyện, đúng phép tắc và rõ ràng. Ông mong con thấy những điều ấy và mình có thể làm gương cho con.



     Thực ra, Giôhan nhìn thấy được nhiều hơn thế, đôi mắt màu nâu bẽn lẽn có quầng thâm của chú rất tinh. Không những chú nhìn thấy cử chỉ đĩnh đạc thân mật của bố khi xã giao, chú cũng nhìn thấy một cách sắc sảo kỳ lạ, thậm chí làm chú đau khổ - rằng bố kiểu cách như thế, bố cũng đau khổ lắm. Sau khi ở một nhà nào đó ra về, ông nghị mặt tái mét, không nói một lời, đôi mắt mọng đỏ lim dim, ngồi tựa vào thành xe ngựa! Rồi chú lại hết sức kinh ngạc nhìn thấy khi ông vào nhà khác, vẻ mặt ấy của ông không còn nữa, thân hình mệt mỏi của ông bỗng trở nên hoạt bát lanh lợi. Theo Giôhan xét thì cử chỉ và lời nói của ông nghị với những người chung quanh không phải tự nhiên, chân thực, có phần tự giác và để bảo vệ một lợi ích thực tế nào cả - lợi ích thực tế ấy là cùng với người ta, để phòng những kẻ cạnh tranh ông; trái lại, là những lời nói những cử chỉ mà bản thân nó là mục đích; đó là những kiểu cách rất có ý thức, rất có dụng tâm, cho nên người ta không thấy tự nhiên, ung dung, chân thực, mà là giả tạo, cố ý, lúng túng, rất vất vả. Có lúc, Hannô nghĩ rằng, sẽ có ngày người ta mong chú khi ở chỗ công chúng hội họp, trước con mắt mọi người, chú cũng có những cử chỉ như thế. Chú cảm thấy vừa chán ngán, vừa sợ hãi. Bất giác chú rùng mình nhắm mắt lại.



Chao ôi! Ông Tômát Bútđenbrúc đưa mình ra làm gương, đâu phải ông hy vọng cảm hóa Giôhan! Điều ngày đêm ông suy nghĩ là làm thế nào rèn luyện cho chú trở nên lịch sự, kiên nhẫn và nhận thức được cuộc sống.



Có lúc sau bữa ăn. Hannô muốn có thêm một ít bánh tráng miệng hoặc nửa cốc càphê, thì ông nghị thường nói:



- Hình như con muốn sống đàng hoàng thoải mái phải không? Nếu thế thì con phải biết buôn bán cho giỏi, kiếm được nhiều tiền. Con muốn thế không nào?



Lúc ấy Giôhan chỉ trả lời: “Có ạ!”.



Nhiều hôm, cả gia đình đến ăn ở nhà ông nghị, bà Tôny và ông Cơrítxtian thường đưa cô Cơlốthinđơ tội nghiệp ra, nhại giọng nói khuất phục chịu đựng và kéo dài của cô ta. Hannô bị rượu vang làm cho ngây ngất, cũng bắt chước nhại theo, cũng tìm cách trên chọc cô Cơlốthinđơ. Lúc đó, ông nghị Tômát Bútđenbrúc phá lên cười – có thể nói đó là cái cười vui sướng xuất phát tự đáy lòng, giống như người ta gặp điều gì mừng rỡ lắm. Đúng như thế, thậm chí ông còn phụ họa với con, cùng tham gia với con chơi cái trò chơi ấy, mặc dù lâu lắm rồi, ông không đùa cô ta như thế nữa. Tỏ uy quyền với cô Cơlốthinđơ gầy gò, chậm chạp, khiêm nhường, hòa nhã, lúc nào bụng cũng đói này, quả không khó và chẳng nguy hiểm gì, nhưng ông cứ làm. Cũng như nhiều chuyện trái với bản tính của ông là hay đắn đo tính toán, ông hết sức ghét thì chuyện này ông cũng không ưa. Ông không hiểu và nghĩ mãi không ra, tại sao có những tình thế người ta biết rõ rồi, chắc chắn sẽ không khác được, mà người ta vẫn cứ lợi dụng không biết xấu hổ? Nhưng ông lại tự nhủ, lợi dụng tình thế mà không xấu hổ, đó chính là năng lực thích ứng với cuộc sống!



Những lúc ấy Giôhan tỏ cái năng lực thích ứng với cuộc sống ấy, dù chỉ về một việc hết sức nhỏ nhặt thôi, ông cũng vui mừng sung sướng, hởi lòng hởi dạ biết bao nhiêu!



 



Chương III



 



Mấy năm gần đây, gia đình Bútđenbrúc không tổ chức những chuyến đi chơi xa trong mùa hè như trước kia nữa. Thậm chí, mùa xuân năm ngoái, bà nghị nêu lên việc về Amxtécđam thăm cụ thân sinh, muốn cùng cụ hòa tấu nhạc sau nhiều năm xa cách, ông nghị cũng đồng ý một cách hết sức miễn cưỡng. Nhưng mùa hè năm nào bà Ghécđa cùng bà Iungman cũng đem Giôhan về Travơmuyndơ an dưỡng, chủ yếu vì ở suốt mùa hè thì Giôhan có thể khỏe ra, nên đã trở thành lệ thường.



Đi nghỉ hè ở biển! Có người nào – dù đó là ai – hiểu được hạnh phúc ấy như thế nào không nhỉ? Sau những giờ học buồn chán, đơn điệu vô cùng tận, là bốn tuần lễ sống yên tĩnh, vô tư lự, hoàn toàn cách biệt với thế giới, chỉ ngửi mùi rong biển và nghe sóng vỗ rì rào… Bốn tuần lễ, một quãng thời gian dài như thế ban đầu tưởng như không bao giờ hết, nếu ai bảo là nó sẽ hết thì người đó quả là thô bạo, ác độc! Giôhan không hiểu được làm sao lại có những thầy giáo khi kết thúc một bài học lại nói như thế này: “Nghỉ hè xong, chúng ta giảng tiếp…”. Nghỉ hè xong, hình như điều ấy đem lại cho các thầy giáo kỳ quặc, mặc áo kaki bóng lỳ, những niềm vui mừng to lớn lắm! Nghỉ hè xong! Ý nghĩ kỳ quặc làm sao! Sau bốn tuần lễ, tất cả mọi việc đều thuộc về tương lai xa vời vợi!



   Họ ở trong một căn nhà nhỏ kiểu Thụy Sĩ, giữa là hành lang hẹp, song song với quán cà phê và nhà ăn chính. Cảm giác của buổi sáng đầu tiên khi tỉnh dậy trong ngôi nhà ấy như thế nào? Đã đưa cho bố mẹ xem bảng ghi điểm rồi – điểm cao hay thấp cũng thế thôi - cũng đã ngồi chán trên cái xe ngựa chất đầy hòm xiểng và hành lý rồi! Chú cảm thấy toàn thân đắm chìm trong một thứ hạnh phúc mông lung. Tim chú vì thế thắt lại, bất giác chú thức giấc. Chú mở to mắt nhìn kỹ những đồ đạc trong căn nhà sạch sẽ này… Giây phút đầu tiên là vẫn ở trong trạng thái mơ màng, vừa vui sướng, vừa mê mẩn – Nhưng chú hiểu ngay rằng, chú đang ở Travơmuyndơ, chú sẽ ở đây bốn tuần lễ dài dằng dặc. Chú nằm ngửa im lặng, không động đậy, trên cái giường nhỏ gỗ vàng, chiếc “ra” trải giường dùng lâu ngày đã mềm nhũn và mỏng lắm rồi. Chốc chốc chú nhắm mắt lại, nghe tim đập thình thịch vì hạnh phúc, theo hơi thở chậm rãi của mình.



  Cả căn nhà ngập trong ánh nắng vàng nhạt lọc qua tấm màn cửa sổ kẻ sọc. Chung quanh yên tĩnh quá. Bà Iđa Iungman và mẹ vẫn còn ngủ. Chỉ có tiếng người làm vườn bước khe khẽ, đều đều trên con đường rải sỏi trong vườn hoa, và tiếng một con ruồi đang bay đâm nhào vào cửa kính sau bức màn che; qua tấm màn kẻ sọc có thể nhìn thấy nó vẽ thành những đường dài ngoằn nghèo… Tất cả đều yên lặng! Chỉ có tiếng cuốc xới đất cô đơn, và tiếng ruồi bay ấy đưa lại cho Giôhan một cảm giác lạ lùng. Cảm giác bình yên trầm lắng của biển, không gì xáo động nổi. Chú thích nghỉ ở biển hơn bất cứ ở đâu. Ôi, cám ơn Thượng đế! Những người mặc áo kaki bóng lì, đại diện cho luật tỉ lệ và ngữ pháp không đến đây, vì phải mất nhiều tiền mới đến đây được!



Niềm vui sướng làm chú bật dậy khỏi giường, chân trần chạy ngay đến cửa sổ. Chú kéo màn che, kéo cái then cài sơn trắng, mở toang hai cánh cửa ra. Chú nhìn những con ruồi bay trên con đường rải sỏi và trên các luống hoa tường vi. Phòng hòa nhạc của khách sạn ở ngay trước mặt, sau hàng cây hoàng dương trồng theo hình bán nguyệt, vẫn còn vắng tanh. Bãi Lơsiten nhờ có ngọn hải đăng mà nổi tiếng – ngọn hải đăng ở bên góc phải – vươn dài dưới trời đầy mây trắng. Trên bãi cỏ mọc lưa thưa, thỉnh thoảng có vài chỗ trơ đất. Xa tít đằng kia là những cây cao to, thô tháp thay cho cỏ. Xa nữa là bãi cát, ở đó lác đác những căn lều gỗ của tư nhân và những chiếc ghế mây uốn vòng. Biển ở phía ấy, một dải hẹp nằm trong ánh bình minh yên tĩnh, chỗ xanh lam, chỗ xanh lục, lúc sáng như gương, lúc lăn tăn gợn sóng. Một chiếc tàu thủy từ Côpenha chạy tới theo dãy phao chỉ đường sơn đỏ… Có lẽ là chiếc Naiđin cũng có thể là chiếc Phờrêđêrie, không cần biết làm gì. Hannô Bútđenbrúc hít làn không khí mặn nồng của biển, thấy hạnh phúc bình yên. Chú cảm động, lặng lẽ đưa mắt nhìn biển như gửi một lời chào đầy tình ý.



Ngày bắt đầu như thế, ngày thứ nhất trong hai mươi tám ngày hiếm hoi. Thoạt đầu, tưởng như đây là một niềm hạnh phúc vĩnh viễn, nhưng ngày thứ nhất qua rồi, những ngày sau đó cũng qua đi vùn vụt, nhanh không thể nào tin nổi… Bữa sáng thường ăn trên ban công hoặc dưới gốc dẻ lớn trước cây đu vườn trẻ. Bất cứ tấm khăn còn nguyên mùi hồ mà các anh bồi trải lên bàn trên ban công, hay là tờ giấy nhàu nát làm khăn bàn hay là chiếc bánh mì hình thù kỳ dị, quả trứng gà, không phải dùng thìa xương như ở nhà mà là dùng thìa uống trà để lấy trong cái bát sắt tráng men, bất cứ cái gì cũng làm cho Giôhan thích thú cả.



Những hoạt động sau bữa ăn cũng nhẹ nhàng vui vẻ, thật là một cuộc sống nhàn nhã, thoải mái, sắp đặt thỏa đáng. Suốt ngày không có gì gò bó hết, buổi sáng ở ngoài bãi biển, nghe dàn nhạc khách sạn hòa tấu, nằm yên tĩnh trên ghế mây, như trong cảnh mộng, lười biếng đùa nghịch với những hạt cát sạch như chùi, nhàn nhã đưa mắt nhìn trời xanh thẳm, rộng mênh mông, trong đó mỗi làn không khí thơm tho, trong lành tinh khiết, đầy nhựa sống, không gì cản trở, cứ tự do bay tới, đem theo âm hưởng rì rào êm dịu của sóng biển, luôn luôn vang vọng bên tai làm cho người ta chìm đắm trong cõi mơ màng, thanh thản, say sưa, tưởng chừng như đã được đi vào cõi hạnh phúc, mất hết mọi tri giác trói buộc, như thời gian, không gian!... Sau đó là bơi… So với bơi trong bể bơi Acximulin thì đây quả sướng thật. Không có cỏ lông ngỗng. Nước trong xanh, quẫy lên là nổi bọt trắng, dưới chân không phải là những tấm gỗ nhơn nhớt, mà là một lớp cát mịn màng, dễ chịu. Ngoài ra, không có hai cậu con ông Haghenxtruêm, bọn chúng ở xa lắm, Nauy hay Tilo gì đó. Bố chúng thích đi xa mà nghỉ hè – ông ta thích như thế và cũng có thể làm được như thế, phải không?



Tiếp đấy là dạo chơi trên bãi biển, phơi nắng, đi đến mỏm đá “Hải âu” hoặc đến “Vọng hải lâu”, ăn điểm tâm trên ghế mây – thế là đến giờ về được rồi, còn phải nghỉ ngơi một tiếng, thay áo quần, chuẩn bị đến ăn cùng với những người khác! Giờ ăn thật là ồn ào, bởi vì đang là mùa tắm biển, trong phòng lớn khách sạn toàn là người quen của gia đình Bútđenbrúc, có người từ Hămbuốc tới, có người Anh, người Nga nữa. Một anh bồi, mặc quần áo đen, đứng cạnh cái bàn con rất đẹp, múc xúp đựng trong cái liễn bạc sáng loáng cho mọi người. Có bốn món ăn tất cả, những món ăn này ngon hơn ở nhà. Trên dãy bàn, có nhiều người uống sâmbanh. Có những vị ở thành phố, tính phóng khoáng, không muốn để công việc gò bó cả tuần lễ, cũng tới đây tiêu khiển chốc lát. Ăn xong, họ chơi bài một lúc. Như ông nghị Pêtơ Duênman, ông ta để vợ con ở nhà, đến đây một mình. Giọng oang oang như kèn đồng, ông ta kể những chuyện tiếu lâm rất thô tục bằng tiếng địa phương miền bắc nước Đức, làm cho các bà ở Hămbuốc tới, cười bò ra, xin ông ta thôi đi cho. Lại còn có ông nghị tiến sĩ Cơrêmơ, ông già cục trưởng cảnh sát, chú Cơrítxtian và ông nghị Ghidếchcơ; ông nghị Ghidếchcơ cũng đến một mình. Ông ta không đem gia đình theo bao giờ, mọi chi phí của chú Cơrítxtian ông ta bao hết. Khi những người lớn tuổi nghe nhạc, uống cà phê thì Hannô cũng ngồi ở một bàn trước quán nghe nhạc, không biết mệt mỏi là gì… Mọi trò tiêu khiển buổi chiều cũng đã sắp xếp cả rồi. Trong vườn hoa khách sạn có dựng cái lán bắn súng. Phía bên phải nhà Thụy Sĩ có cái lán nuôi ngựa, lừa, bò sữa. Giờ uống trà buổi tối, mọi người có thể uống sữa tươi mới vắt, thơm nức, đang sủi bọt. Người ta cũng có thể vào phố dạo chơi hoặc đi một vòng dọc theo “phố bờ biển”; từ đây có thể bơi thuyền con sang bãi Pơrivan, ở bãi Pơrivan có thể nhặt được san hô. Nếu không, có thể đánh bóng ở sân vườn trẻ, hoặc ngồi chơi trên ghế dài ở sườn khu rừng phía sau khách sạn (kẻng báo giờ ăn của khách sạn treo ở đây), nghe bà Iđa Iungman đọc chuyện. Nhưng hay nhất vẫn là trở về bãi biển trong cảnh chiều tà bàng bạc, ngồi trên con đê chắn sóng, nhìn chân trời khoáng đãng, khi có những chiếc tàu lớn chạy qua thì vẫy vẫy khăn tay, còn không thì nghe sóng vỗ rì rào vào bờ đá. Cả không gian rộng bao la, bốn bề ngập chìm trong trong những âm thanh êm ái mà vĩ đại kia! Tiếng sóng tưởng như đang thì thầm chuyện trò với Giôhan, chú lim dim mắt thoải mái, yên tĩnh lạ thường. Nhưng giữa lúc ấy, bà Iđa Iungman nói:



- Về thôi, Hannô! Về thôi, đến giờ ăn rồi đấy! Cháu mà ngủ ở đây thì cảm chết!



Mỗi lần ở biển về, chú thấy lòng mình yên tĩnh làm sao! Tim đập đều đặn, thư thả. Ăn bữa tối xong, chú vào buồng ngủ uống sữa hoặc bia ngọt. Mẹ chú ăn muộn hơn ở hành lang có cửa kính với những người khác. Vừa nằm xuống giường, phủ lên người tấm chăn mỏng mềm mại, chú thiu thiu ngủ trong nhịp đập đều đặn của tim mình và trong tiết tấu nhẹ nhàng của tiếng nhạc dạ hội. Giấc mơ của chú không hãi hùng, chú cũng không nói mê nữa…



Ngoài ra, còn một số người vì ngày thường bận công việc, không rời thành phố được, chỉ ngày chủ nhật mới có thì giờ rảnh rỗi mà ra biển. Ông nghị cũng như những người ấy, ngày chủ nhật mới ra đây với vợ con, sáng thứ hai lại về sớm. Mặc dù ngày đó được ăn kem, uống sâm banh trong bữa ăn, được cưỡi lừa, cũng có thể cùng bạn bè ngồi thuyền buồm ra chơi biển, Giôhan vẫn không thích những ngày chủ nhật ấy tí nào. Bãi tắm không còn yên tĩnh nữa.



Buổi chiều, từ thành phố tới, còn có những người hoàn toàn không phải ở địa phương này – bà Iđa Iungman, không khinh bạc chút nào, gọi là những “nhà tư sản một ngày” – Họ chiếm lấy vườn hoa khách sạn, bãi biển. Ho uống cà phê, nghe nhạc, tắm biển. Hannô ở miết trong phòng, chờ cho bọn người ăn mặc quần áo ngày lễ đến phá hoại sự yên tĩnh ấy rút lui về… Đến thứ hai, đâu lại vào đấy nguyên như cũ, cho đến lúc đôi mắt của ông nghị - tròn sáu ngày chú không nhìn thấy đôi mắt ấy, nhưng suốt ngày chủ nhật, chú thấy đôi mắt ấy đang nhìn chú xoi mói – xa khỏi nơi này, chú mới vui trở lại được… Mười bốn ngày trôi qua. Hannô tự nói với mình, và nếu có ai muốn nghe, chú sẽ nói cho mà nghe rằng, những ngày còn lại có lễ Misa lâu mới hết. Tiếc thay, đó chỉ là nói dối mình và dối người cho yên tâm, đỉnh cao của những ngày nghỉ đã qua rồi và bắt đầu xuống dốc, càng về cuối càng nhanh, nhanh phát sợ lên được! Chú muốn níu lấy từng giờ từng phút. Đứng trên bãi biển, chú hít thở hết sức chậm rãi, không muốn để hạnh phúc trôi qua một cách vô ích.



    Nhưng thời gian vẫn vô tình, lúc mưa rào, lúc nắng chói; có lúc gió từ mặt biển thổi vào, có lúc từ trong đất liền thổi ra, có lúc khí hậu bức bối, có lúc mưa gió dầm dề tưởng như không bao giờ rời khỏi nơi này nữa! Có mấy hôm, gió mùa đông bắc đến, mặt biển nổi sóng cồn, xanh đen, bãi biển đầy rong rêu, vỏ sò, vỏ hến, sứa. Màn cửa lúc nào cũng bay tung lên. Những lúc ấy, nước biển đục ngầu và sôi động, phủ một lớp bọt trắng xóa đến tận tít đằng xa. Những ngọn sóng lớn buốt lạnh xô vào bờ, dựng ngược lên thành những bức tường xanh thẫm, lấp lánh như đúc bằng thép, rồi ầm ào đổ xuống như sấm ra chớp giật. Những hôm khác thì gió tây đẩy nước biển lùi ra, để lòi bãi cát hình sóng lượn. Những hôm ấy thường mưa như trút nước, trời, đất, biển như hòa làm một. Gió thổi tạt nước mưa đập vào cửa kính. Nước trên cửa kính chảy dòng dòng như những con suối nhỏ, không nhìn thấy gì bên ngoài nữa. Gặp những hôm như thế, Hannô cứ ngồi chơi pianô trong phòng lớn khách sạn. Chiếc đàn dương cầm nhỏ này, mặc dù người ta thường dùng để đánh những bài vanxơ và bài nhảy Xcốtlen trong vũ hội của khách sạn, đến nỗi lạc cả âm điệu, nghe không hay bằng cái pianô ở nhà, nhưng những âm thanh rè rè, lạch cà lạch cạch của nó lại làm cho chú thích thú vô hạn. Lại có những hôm không có lấy một ngọn gió, trời trong vắt, không khí nóng bức bao trùm khắp nơi, đến nỗi người ta chỉ cảm thấy buồn ngủ. Ruồi xanh bay vù vù trên bãi Lơsiten nắng chang chang. Biển cũng im lìm, phẳng lặng, y như một tấm gương. Thời gian nghỉ chỉ còn ba ngày nữa. Hannô tự an ủi và nói với mọi người rằng, thời gian còn dài chán, dài như lễ Chúa giáng sinh. Sự tính toán của chú mặc dù không ai bác được, nhưng chú cũng không dám tin. Trong thâm tâm, chú đã thừa nhận rằng, mấy ông mặc áo kaki bóng lì kia nói thế mà đúng. Bốn tuần lễ cuối cùng rồi cũng hết, họ còn phải bắt đầu từ chỗ đứng lại, giảng tiếp điều này điều kia!



    Đã tới ngày lên đường, cỗ xe ngựa chất đầy hành lý dừng lại trước cửa khách sạn. Từ sáng sớm, Hannô đã gửi lời chào tạm biệt biển cả, bãi cát rồi, bây giờ chú từ biệt những người làm công đang nhận tiền thưởng, từ biệt phòng hòa nhạc, luống hoa tường vi, từ biệt tất cả mùa hè! Sau đó, nhân viên khách sạn cúi mình tiễn đưa, cỗ xe ngựa từ từ chuyển bánh…



Cỗ xe ngựa đi qua con đường râm mát của thị trấn, dọc theo “phố Bờ Biển”… Hannô ngả đầu vào một góc xe, nhìn ra ngoài. Bà Iđa Iungman gầy gò, tóc lốm đốm bạc, ngồi đối diện chú, mắt long lanh. Mây trắng phủ kín bầu trời ban mai, gió thổi làm cho sông Travơ gợn sóng. Thỉnh thoảng thả mấy giọt mưa nhỏ xuống cửa xe. Cuối “phố Bờ Biển”, người ta đang ngồi vá lưới, trẻ con đi chân đất chạy tới xem cỗ xe ngựa, tò mò. Chúng không bao giờ được rời khỏi nơi này!



Khi xe ngựa đi qua mấy căn nhà cuối cùng, Hannô khom người nhô ra, nhìn ngọn hải đăng một lần nữa, rồi tựa người ra phía sau, nhắm mắt lại.



- Sang năm chúng ta lại ra đây nghỉ nữa, cháu ạ! – Bà Iđa Iungman an ủi chú, giọng trầm trầm. Chính Hannô đang chờ câu ấy. Vừa nghe nói thế, cằm chú run run, nước mắt chú chảy ra sau hàng mi dài.



Mặt và hai cánh tay chú, nắng làm cho đen sạm. Nhưng nếu người ta đưa chú ra biển một tháng mà nghĩ rằng đã đạt được mục đích là làm cho chú khỏe mạnh, hoạt bát và tăng thêm sức đề kháng, thì rõ ràng lầm rồi! Sự thật bi thảm ấy, Hannô biết rõ lắm. Bốn tuần lễ sống yên tĩnh cách biệt với trần thế, say sưa với biển cả, chú mềm yếu hơn, lười biếng hơn, mẫn cảm hơn, có nhiều ảo mộng hơn. Chú chán nản trước các luật tỉ lệ của thầy giáo Thicơ, chú càng chán nản hơn khi nghĩ đến việc học thuộc lòng những niên đại lịch sử và những quy tắc ngữ pháp, khi nhớ lại những ngày đã qua, buổi tối, tuyệt vọng, chú lười biếng bỏ sách xuống mong tìm được sự giải thoát trong giấc ngủ! Nhưng chú còn chán nản hơn nữa, khi nghĩ tới nỗi sợ hãi sáng hôm sau trước khi lên lớp, nghĩ tới những cậu con ông Haghenxtruêm luôn luôn kình địch với chú, đem tai họa đến cho chú, nghĩ tới những điều ông nghị đòi hỏi ở chú…



Cỗ xe ngựa lăn bánh trên con đường nông thôn đẫm nước trong buổi sáng. Bốn chung quanh tiếng chim ríu rít vọng tới. Dần dần chú vui hơn một chút. Chú nghĩ đến Cai, sắp sửa được gặp lại cậu ta rồi. Chú nghĩ đến ông Phít, nghĩ đến giờ học đàn pianô và đàn ácmônium của gia đình, với lại ngày mai là ngày chủ nhật, ngày kia mới là ngày đi học đầu tiên, chú vẫn còn được bình yên vô sự. Ôi, chú sờ tay lên đôi giày còn dính ít cát biển… Chú sẽ bảo với lão Grôblêben đừng phủi cát của chú đi. Những người mặc áo kaki hay lũ con ông Haghenxtruêm cũng thế thôi, gì thì gì, muốn đến cứ đến đi! Chú có cái mà họ không cướp nổi. Lúc mọi tai họa giáng xuống đầu chú, chú sẽ nghĩ tới biển và khách sạn trên bãi biển. Chú sẽ nghĩ tới tiếng sóng giữa đêm khuya tĩnh mịch, từ nơi xa xôi huyền bí xô vào bờ, trong giấc ngủ yên lành của chú. Nghĩ tới những cái đó, chú sẽ được an ủi phần nào, và bất cứ nghịch cảnh nào cũng sẽ không làm chú tổn thương được!



   Qua bến phà, qua đại lộ Ítxraenđoóc râm mát, qua núi Giêsudalem và bãi đất trống ngoài thành, và sau đó là vào cổng thành. Phía bên phải thành là bức tường cao sừng sững của nhà lao, ông Vaisen giam ở đấy. Cỗ xe ngựa đi theo phố Buốctho, qua phố Côbéc và phố Brêten, ngoặt sang dốc ngõ Hàng Cá. Ngựa vừa đi vừa gõ móng… Trước mặt là ngôi nhà đỏ có cột đá cẩm thạch chạm. Khi mọi người vừa từ ngoài đường phố chan hòa ánh nắng buổi trưa, đi vào con đường rải sỏi dâm mát, thì ông nghị ở trong phòng đã ra đón, tay ông vẫn cầm cây bút…



    Chỉ mấy ngày sau, Giôhan mới quen với cuộc sống không có biển, quen với những ngày đua tranh vô vị đến chết người. Lúc nào cũng phải đề phòng lũ con ông Haghenxtruêm! Chỉ có thể tìm thấy chút an ủi với Cai, ông Phít, với âm nhạc!



   Mấy cô gái già phố Brêten và cô Cơlốthinđơ trông thấy chú liền hỏi, sau một thời gian nghỉ ngơi dài như thế, chú đi học thấy thế nào? Khi hỏi, họ nheo mắt đùa nghịch, ý nói chú giấu điều gì cũng chẳng được đâu, và tỏ thái độ ngạo mạn đặc biệt của người lớn làm như những việc liên quan đến trẻ con mà họ không hỏi han đến thì thành trò đùa cả! Hannô không hề lúng túng trước những câu các cô hỏi.



   Về thành phố được ba bốn hôm, bác sĩ Lănghanxơ cố vấn sức khỏe của gia đình, đến ngõ Hàng Cá kiểm tra hiệu quả của việc tắm biển. Trước hết, ông nói chuyện với bà nghị một hồi lâu mới gọi Hannô tới, bắt chú cởi áo ra, kiểm tra thật tỉ mỉ “hiện trạng1” thân thể chú, như tiến sĩ Lănghanxơ vừa nhìn vào móng tay mình vừa nói. Ông kiểm tra các bắp thịt mềm nhão của chú, đo vòng ngực, nghe tim, bắt chú báo cáo toàn bộ cơ năng trong người. Cuối cùng, ông dùng kim tiêm lấy ra một giọt máu trên cánh tay gầy guộc của chú, đem đi xét nghiệm. Tóm lại, hình như ông không lấy gì làm vừa ý.



- Chỉ có phơi nắng đen người đi thôi! – Ông ta nói, một tay ôm lấy Hannô đứng trước mặt, tay kia đầy lông lá đặt trên vai chú ngước lên nhìn bà nghị và bà Iđa Iungman – mặt vẫn buồn thiu!



- Cháu vẫn còn nhớ biển đấy! – Bà Ghécđa Bútđenbrúc nói.



- Ồ, ra thế… cậu thích nơi ấy lắm ư? – Bác sĩ Lănghanxơ vừa hỏi, vừa nhìn Giôhan bằng đôi mắt kiêu ngạo. Mặt Hannô biến sắc. Câu hỏi ấy có ý gì? Bác sĩ Lănghanxơ chờ chú trả lời. Trong lòng chú nảy ra một hy vọng to tát vô cùng, chú tin ở Thượng đế, trước Thượng đế thì không có điều gì là không thể được, dù tất cả những vị mặc áo kaki có hùa vào với nhau cũng không ăn thua gì!



- Thích lắm!... – Chú trả lời rất rõ ràng, mắt mở to nhìn bác sĩ. Nhưng bác sĩ Lănghanxơ hỏi thế cũng chẳng có ý gì cả.



- Ừ, nước biển và không khí trong lành, sớm muộn gì rồi cũng có hiệu quả… sớm muộn gì rồi cũng có hiệu quả! – Ông ta nói rồi vỗ vào vai Giôhan, đẩy chú sang một bên, gật gật đầu với bà nghị và bà Iđa Iungman – đó là cái gật đầu của vị học vấn uyên thâm, có lòng từ bi bác ái, không để cho người khác thất vọng, vì họ đang chằm chằm nhìn vào mặt và miệng ông ta – Rồi ông ta đứng dậy, kết thúc cuộc giám định.



Hannô đau khổ vì biển, vết thương ấy lâu mới lành, chỉ cần những khía cạnh nào đó, bé mà sắc, của cuộc sống chạm vào là đau buốt và chảy máu. Người duy nhất hiểu chú và đồng tình với nỗi buồn của chú là bà Tôny. Bà Tôny kể cho chú nghe về cuộc sống của bà ở Travơmuynđơ, mặt lộ vẻ vui mừng thật sự. Bà hết sức ca ngợi những ngày chú ở đấy.



- Đúng đấy, cháu ạ! – Bà nói – sự thật là sự thật. Travơmuynđơ quả đẹp lắm. Lúc ấy, cô còn trẻ, chưa hiểu gì. Cô ở trọ một gia đình mà cô rất mến, họ cũng mến cô vì hồi ấy cô còn là một cô gái xinh đẹp và nhanh nhẹn, đầy sức sống. Bây giờ thì cô già rồi, cô mới dám nói với cháu như thế. Cô muốn nói với cháu, gia đình ấy toàn là người tốt cả, thật thà, hiền hậu, ngay thẳng, mà cũng thông minh, có học, nhiệt tình với người khác, về sau cô không còn gặp được ai như thế nữa. Đúng như thế, giao thiệp với họ hay lắm. Nói về kiến thức và lịch lãm, cô học được nhiều ở họ, suốt đời cô cũng không quên. Nếu không có bao nhiêu chuyện khác đến quấy đảo – đời người là thế, cháu biết không – thì cái con ngốc này sẽ học hỏi được nhiều hơn nữa. Cháu có muốn biết lúc ấy cô ngốc như thế nào không? Cô nhặt những ngôi sao xanh xanh đỏ đỏ trên thân con sứa, cô lấy mùi xoa gói lại, phơi ở ban công, cứ nghĩ phơi khô rồi cất đi! Ôi, khi ra xem thì chỉ còn một vết nước loãng và mùi rong biển tanh tanh!



 



(còn tiếp)



Nguồn: Gia đình Buddenbrock. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.



www.trieuxuan.info









1Nguyên văn: Status praesens, tiếng La tinh.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Giấy trắng - Triệu Xuân 23.04.2015
Đâu là lời phán xét cuối cùng - Triệu Xuân 23.04.2015
Ông tướng tình báo và hai bà vợ - Nguyễn Trần Thiết 23.04.2015
Chiều chiều - Tô Hoài 20.04.2015
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.04.2015
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 16.04.2015
Gia đình Butđenbruc - Thomas Mann 16.04.2015
Trang Lứa - Vũ Hùng 31.03.2015
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 28.03.2015
Mái nhà xưa - Vũ Hùng 18.03.2015
xem thêm »