tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 13659433
Tiểu thuyết
02.06.2015
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrock


Chương VII



 



Đã sang mùa đông. Qua lễ Nôen không mấy chốc là tháng Giêng, tháng Giêng năm 1875. Trên mặt đường tuyết và bụi đất lẫn lộn đóng thành những tảng cứng. Hai bên mé đường, tuyết chất thành đống. Trời ẩm dần, tuyết xám lại, nhũn ra và bắt đầu tan thành những dòng nước nhỏ. Đường phố ướt át, lầy lội. Từ trên mái nhà tam giác, tuyết tan thành nước, chảy xuống. Nhưng trên đầu, bầu trời xanh lơ không một gợn mây. Trong không khí như có ngàn vạn nguyên tử tỏa sáng, nhảy múa long lanh tựa thủy tinh…



Trung tâm thành phố thật là ồn ào náo nhiệt, vì hôm nay là ngày chủ nhật lại đúng ngày phiên chợ. Người bán thịt bầy quầy ngay dưới vòm cửa liên hoàn hình nhọn của nhà Hội đồng thành phố, đang cân thịt cho khách hàng với hai bàn tay đầy máu. Xung quanh vòi phun nước là Hàng Cá. Mấy bà béo ỵ ngồi ở đấy, tay mang những chiếc găng rụng gần hết lông, chân gác trên chậu than cho ấm. Họ đon đả chào mời các chị ở gái, các bà nội trợ. Ở đây không ai sợ mắc lừa. Chắc chắn là cá còn tươi, con nào cũng béo và đang vùng vẫy. Thùng chật như nêm, nhưng vẫn có những con bơi qua bơi lại không gò bó chút nào. Có những con nằm trên thớt mà vẫn giẫy giụa, hai mắt thao láo, mang phập phồng, đuôi quẫy mạnh cho đến lúc người ta nắm lấy, chặt phập một nhát vào cổ đứt đôi bằng con dao đầy máu, bấy giờ mới thôi. Lươn vẫn bò qua bò lại, oằn èo. Những thùng sâu đen ngòm chứa đầy tôm của biển Bantích. Có lúc, một con cá chép rất khỏe nhảy lên, rơi xuống đường vừa bẩn vừa ướt, làm cho chủ nhân của nó vừa chủi càu nhàu, vừa chạy đến nhặt để vào chỗ cũ.



Buổi trưa, phố Brêten người qua lại rất đông. Học sinh đeo cặp sách đi tới, vốc những cục tuyết đã chảy nước ném nhau, phố xá rộng lên trong tiếng cười đùa. Những cậu con nhà khá giả đầu đội mũ thùy thủ kiểu Đan Mạch hoặc mặc những bộ quần áo kiểu Anh đúng mốt, tay xách cặp, mặt vênh váo – các cậu lấy làm hãnh diện được vào ban thực hành. Những ông thị dân có chút địa vị để râu con kiến, tay cầm ba toong mặt lộ vẻ tin tưởng vào chủ nghĩ tự do của quốc gia, nhìn vào cửa chính của nhà Hội đồng xây bằng gạch lưu ly. Hôm nay trước cổng có thêm hai người lính gác vì nghị viện đang họp. Hai người lính gác này khoác áo capốt, đi đi lại lại không sai một bước, không hề để ý đến tuyết và bùn đất dưới chân. Đến giữa cửa chính, họ lại gặp nhau, nhìn nhau, trao đổi một câu gì đó, rồi mỗi người lại đi về một phía. Có lúc, viên sĩ quan đi tới, cổ áo dựng ngược, hai tay thọc vào túi – những viên sĩ quan ấy phần lớn đều đeo đuổi một hai cô gái của gia đình nào đó, mà cũng thu hút được ánh mắt thầm phục của các cô con nhà khuê các – Lúc này, hai người lính đang đứng trước vọng gác, nhìn mình từ đầu đến chân, bồng súng chào… Còn lâu mới đến lúc họ phải chào các ông nghị tan họp ra về. Cuộc họp mới bắt đầu được bốn mươi lăm phút. Có lẽ cho đến khi tan họp sẽ có người đến đổi gác…



Giữa lúc ấy, một trong hai người nghe thấy tiếng động nhẹ ở phòng lớn nhà Hội đồng, tiếp theo có bóng áo đỏ của ông Ulơphen từ trong cửa xuất hiện. Ông Ulơphen đội mũ ba góc, đeo kiếm, vội vã bước ra, khẽ nói: “Xin chào!”, rồi quay vào ngay. Bấy giờ mới nghe thấy tiếng chân bước trên đường lát đá…



    Lính gác vội đứng nghiêm, gót chân dập vào nhau, cổ dướn thẳng, ngực ưỡn, báng súng áp sát vào chân rồi hô hai tiếng ngắn gọn và lập tức đứng tư thế chào. Một vị, tạm cho là vóc người tầm thước, tay cầm mũ, đi giữa hai người lính. Đôi lông mày nhàn nhạt của ông hơi xếch, trên khuôn mặt trắng bệch là hai hàng râu vừa nhọn hoắt vừa dài. Hôm nay, ông nghị Bútđenbrúc ra về trước, không chờ tan họp…



      Ông rẽ về bên phải, nghĩa là ông không đi theo con đường về nhà. Ông ăn mặc chỉnh tề, trang nhã, không chê vào đâu được. Bước đi của ông vẫn nhảy nhót như trước kia. Khi vào phố Brêten thì dọc đường, vừa đi ông vừa chào hỏi mọi người. Ông mang đôi găng tay lông cừu trắng, ba toong cán bịt bạc kẹp ở tay trái. Dưới cổ chiếc áo da dày cộp có thể nhìn thấy cái cà vạt của bộ áo đuôi tôm màu trắng. Tuy có tô điểm, nhưng nét mặt ông vẫn lộ vẻ mệt mỏi. Nhiều người đi qua thấy nước mắt ông trào ra từ trong đôi mắt đỏ kè. Đôi môi ông mím chặt, lệch về một bên, trông rất kỳ dị. Chốc chốc ông lại nuốt cái gì đó vào cổ họng, hình như miệng ông đầy nước bọt. Nhìn bắp thịt hai bên má và thái dương, có thể biết mỗi lần nuốt như thế, ông phải nghiến chặt răng lại.



- Chao ôi! Ông Bútđenbrúc! Ông về trước đấy ư? Thật là chuyện hiếm có! – Đi đến phố Nhà Máy Xay, ông chưa kịp nhìn ra ai, bỗng người đi tới đã chào hỏi ông như thế. Đó là ông Xtêphan Kítxtenmacơ, ông ta dừng lại trước mặt ông Bútđenbrúc. Ông là bạn cũ và là người sùng bái ông Bútđenbrúc. Về mọi vấn đề xã hội, ông ta đều nhìn ông Bútđenbrúc mà làm theo. Ông Kítxtenmacơ râu quai nón, da mặt đã xám lại. Lông mày ông ta rất rậm, mũi dài, đầy lỗ chân lông. Mấy năm trước đây, ông ta lãi được một món kha khá, thế là thôi từ đấy không mở quán rượu nữa. Anh Êduca, con trai ông ta, đứng bán thay, còn ông ta sống về lợi tức. Nhưng ông ta tự thấy xấu hổ với anh em bạn bè, nên cố làm ra vẻ bận rộn, không có thì giờ lui tới với họ.



- Tôi mệt quá thể! – Ông ta đưa tay lên xoa xoa mái tóc sấy quăn – Ôi, con người sinh ra ở đời này chỉ được cái việc là bận bịu hết ngày thì thôi! – ông ta thường đứng hàng tiếng đồng hồ ở Sở giao dịch, hoa chân múa tay ra vẻ quan trọng lắm, kỳ thực ông ta chả có việc gì ở đấy cả! Ông ta nhận một số chức vụ hữu danh vô thực. Cách đây ít lâu, ông ta làm quản lý nhà tắm thành phố, ngoài ra còn làm bồi thẩm, làm giám đốc, làm người chấp hành di chúc. Ông sốt sắng với những công việc ấy, lúc nào cũng đưa tay lau mồ hôi trán.



- Vẫn đang họp đấy chứ, ông Bútđenbrúc? – Ông ta lại nói – Sao ông lại ra dạo phố?



- Ờ, ông đấy à? Ông nghị nhếch mép trả lời khe khẽ - Tôi đau lắm… Dễ có lúc đau không biết trời đất gì nữa.



- Đau? Đau chỗ nào?



- Đau ở răng? Từ hôm qua, suốt cả đêm chẳng chợp mắt được tý nào… Thật không còn thì giờ nào nữa mà đến bác sĩ khám! Sáng sớm đã phải đến công ty, cuộc họp này tôi cũng không muốn vắng mặt. Giờ thì đau không chịu nổi, tôi định đi đến đằng ông Bơrétsơ một tý…



- Ông đau răng nào ạ?



- Cái răng bên trái hàm dưới… răng hàm… sâu hết rồi! Đau không chịu nổi, thôi chào ông, ông Kítxtenmacơ! Ông biết cho, thời gian của tôi rất ít ỏi…



- Tất nhiên, tôi biết! Ông tưởng tôi không biết ư? Công việc cứ chồng chất lên, làm không xuể. Xin chào ông! Mong ông chóng khỏi. Nhổ quách đi ông ạ? Giải quyết ngay tức thì là biện pháp hay nhất…



Ông Tômát Bútđenbrúc tiếp tục bước tới, hai hàm răng nghiến chặt, nhưng như vậy càng làm ông đau thêm. Chỉ một cái răng ấy thôi mà làm cho nửa người bên trái ông nhức nhối không chịu nổi, như lửa đốt, như kim châm. Chỗ viêm như có cái búa nhỏ đốt nóng đập mạnh, làm cho cả mặt ông nóng bừng, nước mắt cứ trào ra. Một đêm mất ngủ ảnh hưởng đến thần kinh. Vừa rồi ông phải cố gắng lắm mới đứng nói chuyện được với ông Kítxtenmacơ mấy câu.



Đến phố Nhà Máy Xay, ông vào một ngôi nhà quét vôi vàng sẫm, lên gác hai, ở cửa sổ có tấm biển đồng khắc mấy chữ “Bác sĩ nha khoa Bơrétsơ”. Ông không thấy người hầu gái ra mở cửa. Hành lang ngào ngạt mùi thịt bò xào xúplơ. Ông bước vào phòng khám, mùi thuốc nồng nặc phả vào mũi.



- Mời ông ngồi, xin ông chờ cho một lát!



Một giọng nói như giọng nói bà già, đó là tiếng con vẹt. Con chim nhốt trong chiếc lồng sáng loáng, treo ở bức tường sau, nhìn ông bằng đôi mắt độc ác.



Ông nghị ngồi xuống cạnh cái bàn tròn, giở tờ Flic ra định đọc mấy mẩu chuyện cười, nhưng rồi lập tức ông gấp lại, chống cây ba toong bịt bạc lạnh ngắt lên má, nhắm đôi mắt sưng mọng, khe khẽ rên lên mấy tiếng. Trong phòng im phăng phắc, chỉ có tiếng con vẹt mổ vào lồng. Dù không bận, ông Bơrétsơ cũng thích để khách đợi một lúc.



Lát sau, ông Tômát Bútđenbrúc lại đứng dậy rót nước ở cái bình để trên bàn ra uống. Mùi cờlo trong nước nồng nặc. Rồi ông mở cửa thông sang hành lang, gọi một tiếng, mong ông Bơrétsơ không có việc gì bận lắm không rời ra được, thì hãy nhanh lên một chút. Răng ông đau lắm rồi!



Lập tức, bộ râu trắng, cái mũi khoằm và cái đầu hói của bác sĩ nha khoa xuất hiện ở cửa phòng phẫu thuật.



- Xin mời vào! – Ông nói.



- Xin mời vào! – Con vẹt nhắc lại.



Ông nghị đi vào, nét mặt ủ ê. “Chắc ông ta đau lắm!” – Ông Bơrétsơ nghĩ bụng, sắc mặt trở nên trắng bệch.



Hai người đi nhanh qua căn phòng sáng sủa, đến trước một cái ghế quay, có đệm đầu và tay vịn bọc nhung. Căn phòng này có hai cửa sổ, cái ghế kê ngay trước mặt cửa sổ. Ông Tômát Bútđenbrúc ngồi vào ghế, nói mấy câu ngắn ngủi về bệnh tình của mình rồi ngả đầu ra phía sau, nhắm mắt lại.



Ông Bơrétsơ nâng ghế cao hơn một tí, cầm gương nhỏ và cái kìm bằng thép khám. Tay ông có mùi xà phòng thơm, hơi thở có mùi thịt bò xào xúp lơ.



- Cái răng này không nhổ không xong! – Một lúc sau ông mới nói, sắc mặt ông càng tái hơn.



- Ông cứ nhổ cho! – Ông nghị nói, mắt nhắm lại.



Căn phòng im lặng một lúc. Ông Bơrétsơ đứng trước tủ chọn những dụng cụ cần thiết, sau đó đi đến cạnh bệnh nhân.



- Tôi bôi cho ông một tí thuốc – Nói xong, ông liền lấy một thứ thuốc gì, mùi rất nồng, bôi vào lợi. Rồi giọng thật nhẹ nhàng, bảo bệnh nhân ngồi yên, không được động đậy, há to miệng ra, ông bắt đầu nhổ.



Hai tay ông Tômát Bútđenbrúc nắm chặt tay vịn ghế bọc nhung. Ông không có cảm giác gì về cái kìm đưa vào răng thế nào cả, nhưng có tiếng lách cách từ miệng phát ra, đầu nhức nhối, có thể nói đến tận xương tủy. Ông hiểu rằng công việc đang tiến hành bình thường. Chúa phù hộ, ông cầu nguyện cho những phút ấy chóng qua đi. Nỗi đau đớn một lúc một dữ dội, cứ tăng mãi vô hạn độ, đến mức không chịu đựng nổi, trở thành cực hình, đau kêu trời kêu đất, tim gan cũng phải nát ra, đầu óc như sắp nổ tung, lúc đó mới cho là xong, còn bây giờ thì mình chỉ có chịu đựng mà thôi!



Tình trạng ấy kéo dài ba bốn giây đồng hồ. Ông Bơrétsơ lấy sức quá mạnh, chân tay run lên. Sự kích động cao độ ấy của ông truyền sang ông Tômát Bútđenbrúc làm ông này nhỏm dậy. Nghe tiếng ứ ự trong cổ họng bác sĩ nha khoa. Bỗng ông cảm thấy có cái gì va chạm mạnh, chấn động toàn thân ông, rồi bựt một tiếng! Ông vội vã mở choàng mắt… Đầu nhẹ hẳn, nhưng tai vẫn ù ù. Chỗ viêm ở hàm răng nhức như lửa đốt. Ông thấy rất rõ mục đích lần này chưa đạt được, vấn đề chưa được giải quyết thật sự. Tai họa này chỉ làm cho tình hình gay go hơn… Ông Bơrétsơ lùi lại một bước, tựa vào tủ thuốc, mặt tái mét, như mặt người chết, nói lắp ba lắp bắp:



- Cái răng… tôi biết trước mà!



Ông Tômát Bútđenbrúc nghiêng người, nhổ máu vào cái chậu xanh bên cạnh. Lợi ông bị xé rách ra. Ông mơ màng hỏi:



- Biết thế nào cơ? Răng ra sao rồi?



- Răng bị gãy, ông nghị ạ! Tôi sợ như thế mà! Răng của ông dòn quá… nhưng dù sao tôi cũng thử xem…



- Bây giờ làm thế nào?



- Ông cứ mặc tôi, ông nghị!



- Ông định làm gì?



- Phải nhổ chân răng ra. Dùng kìm. Cái răng này có bốn chân.



- Bốn chân? Nghĩa là phải chịu đau bốn lần?



- Biết làm như thế nào được, cũng phải như thế thôi!



- Hôm nay chỉ thế này thôi ư? – Ông nghị nói và muốn đứng nhanh dậy, nhưng không hiểu sao không đứng lên được mà lại ngả đầu tựa ra phía sau.



- Ông Bơrétsơ thân mến ơi! Ông nên đòi hỏi vừa phải thôi – ông nói tiếp – Tôi yếu lắm… Hôm nay như thế là quá sức rồi. Ông làm ơn mở hộ cái cửa sổ kia có được không?



Ông Bơrétsơ làm theo yêu cầu của ông nghị và nói:



- Tốt nhất, mai kia bất cứ lúc nào ông lại đây để tôi làm xong cho. Phải nhận là, tôi cũng… Ông hãy để tôi rửa cho ông, bôi thuốc cho nó đỡ đau…



Xong hai việc ấy, ông nghị đi ra. Ông Bơrétsơ nhún vai tỏ vẻ đáng tiếc. Phải cố gắng hết sức, ông bác sĩ nha khoa, mặt tái nhợt, mới làm nổi cử động ấy.



- Xin chờ một lát…! – Khi ông nghị đi qua phòng khám, con vẹt nói. Lúc ông Tômát Bútđenbrúc xuống đến tầng dưới, nó vẫn lải nhải.



Dùng kìm… Được, được, đó là chuyện ngày mai. Bây giờ thì sao? Về nhà nghỉ, cố gắng ngủ một giấc. Thần kinh đau đớn tưởng chừng mất hết cảm giác rồi, bây giờ thì miệng còn nóng bỏng, tê dại. Vậy thì về nhà!... Ông chậm rãi đi qua từng phố một, ai chào hỏi, ông trả lời qua, một cách máy móc. Mặt ông lộ vẻ do dự, trầm tư, hình như ông đang suy nghĩ: “Rồi sẽ ra sao đây?”.



Ông đã đi vào ngõ Hàng Cá, bước lên vỉa hè bên trái. Được một quãng vài mươi bước, bỗng ông cảm thấy buồn nôn. “Sang quán rượu kia uống một chén branđi vậy!”. Nghĩ thế rồi ông đi ngang qua đường. Nhưng đến giữa đường xảy ra việc sau đây. Hình như có ai nắm chặt lấy đầu ông, quay rất mạnh, không cưỡng được, tốc độ mỗi lúc một nhanh, vòng quay mỗi lúc một nhỏ dần, cuối cùng một sức mạnh ghê gớm, tàn bạo không thương tiếc đập đầu ông vào trung tâm của vòng quay rắn như đá… Cả người ông quay đi nửa vòng, ông giang tay ra, ngã lăn xuống mặt đường ướt át!



Đường ngõ này rất dốc, nên nửa người trên của ông thấp hơn hai chân. Ông ngã mặt úp sấp, máu đọng thành vũng, mũ của ông lăn mấy vòng trên mặt đường. Chiếc áo khoác da của ông lấm đầy bùn và nước tuyết. Hai tay đi găng da cừu trắng ngập trong một vũng nước.



Ông đã ngã như thế. Một lúc sau mới có mấy người qua đường lật ông lại.



 



Chương VIII



 



Bà Tôny bước lên cầu thang, một tay nâng tà áo, tay kia áp lên má chiếc găng da màu nâu. Không phải bà bước mà nói là bà lảo đảo thì đúng hơn, mấy lần xuýt ngã. Chiếc mũ trên đầu nghiêng về một bên, hai má nóng bừng, môi trên hơi nhếch, lấm tấm mấy giọt mồ hôi. Bà không trông thấy ai nhưng cứ vừa đi vừa lẩm bẩm, chốc chốc lại nghe rõ một vài tiếng, đó là vì bà sợ quá mà thảng thốt nói ra: “Không hề gì!”.



- Không có gì quan trọng cả… Chúa không để cho như thế! Chúa đã biết xẩy ra việc gì rồi! Ta tin như thế. Không thể xẩy ra được… Ôi, lạy Chúa, hàng ngày con xin cầu nguyện Chúa…



Bà sợ quá nên cứ lẩm bẩm những câu không có ý nghĩa gì cả, chân bước thất thểu lên tầng gác ba, rồi đi qua hành lang.



     Cửa thông ra phòng phía trước nhà để ngỏ. Bà chị dâu đi ra.



Sự sợ hãi, sự ghê tởm làm cho những nét trên khuôn mặt trắng trẻo xinh xắn của bà Ghécđa Bútđenbrúc thay đổi hẳn. Đôi mắt màu nâu hơi gần nhau, có quầng thâm chớp chớp trông hết sức buồn bã, bối rối. Thấy bà Tôny đi tới, bà liền đưa tay vẫy gọi rồi ôm chầm lấy, gục đầu lên vai bà.



- Chị Ghécđa, chị Ghécđa! Làm sao thế? – Bà Tôny kêu lên – Có việc gì thế hả chị? Sao thế ạ? Ngã à? Người ta nói thế nào? Ngất đi phải không? Bây giờ anh ra sao rồi? Chúa phù hộ! Có khổ không, chị nói cho em nghe với, chị!



Nhưng bà không trả lời được ngay. Bà chỉ thấy toàn thân bà Ghécđa run rẩy. Sau đó, bà nghe có người ghé vào tai thì thầm:



- Khi người ta cõng anh về - Bà nghe như thế - trông thương hại quá! Cả đời anh không để một tí bụi dính vào người, thế mà bây giờ đến nỗi như thế kia! Thật là khôi hài, thật là quá quắt! Họ nghe có tiếng ai nói chuyện khe khẽ. Cửa thông sang phòng thay áo mở ra, bà Iđa Iungman đang mặc váy trắng tay cầm chậu thau, đứng ở cửa, mắt đỏ hoe. Trông thấy bà Tôny, bà liền cúi đầu lùi lại một bước nhường lối. Cằm bà run run.



Bà Tôny bước vào phòng ngủ, bà chị dâu theo sau. Tấm màn hoa che cửa sổ khẽ bay. Bước vào phòng mùi ête và mùi các thứ thuốc khác lẫn lộn phả vào mũi. Ông Tômát Bútđenbrúc nằm trên giường gỗ hồng đào lớn, đắp chiếc chăn lông ngỗng màu đỏ tươi, mặc quần áo ngủ thêu hoa. Mắt ông khép hờ, con ngươi đưa ngược lên, môi run run dưới chòm râu rối bời, chốc chốc có tiếng ứ ự từ trong cổ họng đưa ra. Bác sĩ trẻ tuổi Lănghanxơ cúi lom khom đang tháo cái băng dính đầy máu trên mặt ông và dúng một dải băng khác vào chậu nước để ở đầu giường, sau đó, nghe tim, bắt mạch, Giôhan ngồi trên tấm đệm mềm để trên đầu giường, vừa mân mê cái nơ trên áo lính thủy, vừa lằng nghe thanh âm từ trong miệng bố đưa ra. Bộ quần áo bê bết bùn đất vắt trên một chiếc ghế.



Bà Tôny quỳ xuống cạnh giường, nắm bàn tay giá lạnh nặng chịch của ông anh, nhìn đăm đăm vào mặt. Lúc này bà thấy rằng dù Chúa có biết hay không, Chúa cũng đã để cho chuyện bất hạnh kia xẩy ra rồi!



- Anh Tom! – Bà gọi khe khẽ - Anh có nhận ra em không? Anh thấy thế nào? Anh không thể bỏ chúng em mà đi như thế được! Ôi, không thể được!



Bà không nghe thấy tiếng trả lời nào cả. Bà ngước mắt nhìn bác sĩ Lănghanxơ, cầu cứu. Bác sĩ đứng kia, mắt nhìn xuống, vẻ mặt bác sĩ tỏ ra rằng đó là ý chí của Chúa thân yêu, nhưng ông lại không lấy thế làm vui.



Bà Iungman đi ra xem có việc gì cần đến bà hay không. Cụ bác sĩ Gơrabô đến. Cụ hòa nhã bắt tay mọi người rồi lắc đầu khám, và cũng làm những việc như bác sĩ Lănghanxơ vừa làm…



Chuyện truyền đi khắp thành phố nhanh chóng như một cơn gió. Ở cổng ra vào luôn luôn có tiếng chuông gọi, người giúp việc cứ luôn luôn phải chạy vào thưa có khách đến hỏi thăm. Bệnh tình ông nghị vẫn chưa có gì thay đổi. Ai cũng được trả lời giống nhau.



Cả hai vị bác sĩ đều thấy ít ra đêm hôm nay phải có một người hộ lý đến giúp việc. Thế là cho người đi gọi bà xơ Lêăngđờra đến. Khi bà ta vừa bước vào, trên mặt bà ta không có vẻ gì sợ hãi, kinh hoàng cả. Lần nào bà ta cũng để túi xách, khăn quàng, áo ngoài vào một chỗ, rồi bắt đầu làm việc, nhẹ nhàng, khéo léo.



Giôhan ngồi hàng giờ trên cái đệm, nhìn chung quanh, lắng nghe tiếng ứ ừ kia. Chú phải học bổ túc môn toán, nhưng chú biết lần này việc xẩy ra trong nhà làm cho ông giáo có cái áo vét dạ cũng phải kinh ngạc. Ngay bài tập chú cũng bỏ, không nghĩ tới, hơn nữa chú còn bĩu môi chế nhạo! Bà Tôny đi tới, ôm chặt lấy chú, nước mắt chú cũng trào ra. Nhưng thường thì chú chỉ ngồi im lặng, vẻ mặt lạnh lùng, trầm tư, con mắt ráo hoảnh, chớp chớp. Chú thở khe khẽ và không đều, hình như chú đang chờ cái mùi thơm kì quái khác thường kia!...



Gần bốn giờ, bà Tôny đã quyết định. Bà mời bác sĩ Lănghanxơ sang phòng bên cạnh, tay vòng lại, đầu ngả ra phía sau rồi để cằm tỳ sát ngực.



- Thưa bác sĩ – bà nói – chỉ có bác sĩ mới giúp được việc này thôi, nên mới nhờ đến bác sĩ! Xin bác sĩ nói thật cho! Tôi là một phụ nữ đã được thử thách nhiều. Trong cuộc sống tôi phải chịu đựng biết bao nhiêu chuyện đau đớn, tàn khốc. Bác sĩ cứ tin ở tôi!... Ông anh tôi liệu có thể sống đến ngày mai không? Xin bác sĩ cứ nói thẳng cho!



Bác sĩ Lănghanxơ nhìn thẳng vào móng tay cái của mình, nói đến sự bất lực của con người và chuyện ông anh bà có sống nổi đến ngày mai không, hay chỉ vài phút nữa thôi… đó là câu hỏi hết sức khó trả lời.



- Như thế thì tôi biết tôi phải làm gì rồi! – Nói xong, bà đi ra, bà cho người nhà mời mục sư Prinhem.



Mục sư vội đến, không kịp ăn mặc chỉnh tề. Áo choàng thâm nhưng lại không có mũ. Ông lặng lẽ nhìn bà xơ Lêăngđờra rồi ngồi xuống cái ghế để cạnh giường người ta vừa mang đến cho ông. Ông nói mấy câu để xem người bệnh có nhận ra mình nữa hay không. Không có một phản ứng nào nên ông đành chuyển sang nói chuyện với Thượng đế bằng tiếng Latinh rất trang nhã. Giọng ông lúc bổng, lúc chìm, có lúc trầm lắng, có lúc the thé, sắc mặt ông cũng có lúc ảm đạm mà nhiệt thành, có lúc ôn hòa mà rạng rỡ… Khi ông phát âm chữ “r” trơn tuột đặc biệt của ông, Giôhan thấy rõ là ông vừa uống cà phê và ăn bánh sữa.



Ông nói, ông và những người có mặt ở đây không còn cầu xin cho sinh mệnh của người thân yêu này nữa, bởi vì họ thấy rằng Chúa gọi về là ý định của Chúa. Bây giờ chỉ cầu xin Chúa ban ơn cho người đó yên tĩnh rời khỏi trần thế này. Sau đó, ông đọc hai đoạn kinh thích hợp với cảnh này bằng một giọng thật xúc động, rồi đứng dậy. Ông bắt tay bà Ghécda Bútđenbrúc, bà Tôny rồi đưa cả hai tay lên xoa đầu Giôhan, nhìn đăm đăm vào đôi mắt sụp xuống của chú. Thân hình ông run rẩy vì thương tiếc và đau khổ. Ông chào bà Iungman, cuối cùng lạnh lùng đưa mắt liếc nhìn bà xơ Lêăngđờra rồi ra về.



Bác sĩ Lănghanxơ về nhà một lúc rồi trở lại, thấy vẫn nguyên như cũ. Ông chỉ nói với người giúp việc điều gì đó rồi cáo từ. Cụ bác sĩ Gơrabô cũng tới lần nữa, xem xét cẩn thận một lượt rồi cũng rút lui. Ông Tômát Bútđenbrúc vẫn trợn mắt, miệng lắp bắp và vẫn ú ớ trong cổ họng. Trời tối dần. Ngoài kia, nắng chiều mùa đông hiện lên bầu trời, rọi vào cửa sổ, chiếu thẳng vào đống quần áo bết bùn đất vắt trên ghế.



Khoảng năm giờ, bà Tôny vì quá xúc động đã làm một việc chưa kịp suy nghĩ kỹ. Lúc đó bà đang ngồi cạnh giường đối diện với bà chị dâu, bỗng bà chắp hai tay lại, bằng giọng cổ họng đọc to một đoạn trong bài Tụng ca:



“Chúa hỡi! Hãy dứt… - Bà đọc to, mọi người ngây ra lắng nghe.



Hãy dứt mọi khổ đau



Cho người sức mạnh bước vào cõi tiên…”



Bà thành tâm quá nên những lời cầu nguyện âm thầm của bà cũng đọc lên thành tiếng. Bà không nghĩ rằng đoạn thơ ấy bà không thuộc, đến dòng thứ ba là phải ngừng lại. Quả nhiên như thế. Khi giọng lên cao thì bà bỗng thôi không đọc tiếp nữa. Bà đành ngồi thật nghiêm trang, thay cho đoạn kết thúc của bài ca.



Mọi người trong nhà nức nở chờ bà đọc tiếp, cảm thấy bối rối. Giôhan cố ho lên thật to nghe như rên. Sau đó, trong bầu không khí trầm lắng, chỉ còn lại tiếng thở đau đớn của ông Tômát Bútđenbrúc nữa mà thôi.



Khi người hầu gái bước vào thưa với mọi người rằng ở phòng bên đã chuẩn bị thức ăn, mọi người mới được giải thoát. Nhưng lúc ai nấy ở trong phòng ăn sắp sửa ăn xúp thì bà xơ xuất hiện trước ngưỡng cửa. Bà dịu dàng vẫy tay mọi người.



Ông nghị sắp tắt thở. Ông rên lên hai ba tiếng khe khẽ rồi thôi. Môi cũng không động đậy nữa. Đó là lần duy nhất bệnh tình biến đổi. Trước đó, hai con mắt ông đã đờ đi rồi. Mấy phút sau, bác sĩ Lănghanxơ tới. Ông áp ống nghe đen ngòm của ông vào ngực người chết, nghe hồi lâu rồi giám định theo đúng lương tâm nhà nghề, nói:



- Đúng thế, ông nghị không còn nữa!



Bà xơ Lêăngđờra đưa cánh tay trắng trẻo mềm mại ra, lấy ngón tay cái vuốt thật cẩn thận hai mắt người chết.



Lúc ấy, bà Tôny chạy đến quỳ xuống cạnh giường, úp mặt vào chăn, khóc to, không kiềm chế, để cho tình cảm bộc lộ thoải mái. Tình cảm ấy được bộc lộ thì tinh thần bà cũng sảng khoái trở lại. Bà thường như thế, đó cũng là hạnh phúc bẩm sinh của bà. Lúc bà đứng dậy, nước mắt đầm đìa, thì tinh thần bà thanh thản, cứng cáp hơn ban nãy. Bà đã lấy lại được cái thăng bằng trong tâm hồn. Bà nghĩ ngay đến việc báo tin buồn không chậm trễ - cần in ngay một lô giấy cáo phó thật đẹp!



Ông Cơrítxtian xuất hiện. Ông đang ở câu lạc bộ, nghe tin ông anh ngã ở ngoài đường, thế là về ngay. Nhưng sợ phải thấy cảnh ghê rợn, nên ông cố tình đi một vòng ở ngoài cửa thành để không ai biết tìm ông ở đâu nữa. Bây giờ bỗng thấy ông ló mặt về. Ông vừa vào đến cửa thì đã nghe tin ông anh qua đời.



- Sao có thể như thế được nhỉ? – Ông nói, thất thểu bước lên cầu thang, hai mắt đảo quanh.



Ông cũng đứng cạnh giường, giữa bà em gái và bà chị dâu, đầu để trần, má lõm sâu, hai hàng râu rối bù mũi to, khoằm khoằm, chân vòng kiềng gầy guộc, trông như cái dấu hỏi. Đôi mắt nhỏ trũng sâu của ông nhìn vào mặt người chết, khuôn mặt ấy trở nên trầm mặc, giá lạnh, xa vời, thật khó lòng mà trách móc. Mọi lời trách móc của người đời không thể làm cho nó xúc động được nữa rồi… Khóe miệng ông Tômát chảy xuống, trông như đang dè bỉu ai. Ông Cơrítxtian đã từng trách anh rằng: “Tôi có chết đi thì anh cũng chẳng thèm nhỏ lấy một giọt nước mắt!”. Thế mà bây giờ người bị trách móc đã chết rồi, không trối trăng một lời! Ông ta bước vào thế giới bên kia một cách kiêu hãnh, đẹp đẽ, làm cho mọi người cảm thấy xấu hổ, cũng như những việc ông ta vẫn làm lúc sinh thời. Lúc ông ta còn sống, hễ ông Cơrítxtian nói đến bệnh tình của mình, nói đến bóng ma vẫy gọi mình, nói đến chai rượu cồn, cánh cửa sổ mở, ông ta thường nhìn một cách lạnh lùng, khinh bỉ để trả lời. Bây giờ nghĩ lại, ông ta làm thế đúng hay sai? Điều ấy không phải hỏi. Nó không có một ý nghĩa gì hết, bởi vì Tử thần độc đoán, chuyên chế đã chọn đúng ông ta, đón ông ta đi, dành cho ông ta một vinh dự rất cao, khiến mọi người phải kính nể và quan tâm đến ông ta. Còn ông Cơrítxtian thì lại bị Tử thần ruồng rẫy. Tử thần còn tiếp tục đùa giỡn ông bằng những trò chơi, không còn làm ai kính nể ông cả. Chưa bao giờ ông Tômát Bútđenbrúc lại được ông em trai kính nể như thế này. Không còn nghi ngờ gì cả, đúng là chỉ có cái chết mới làm người khác tôn trọng những nỗi đau khổ của ta, dù là những nỗi đau khổ nhỏ bé không đáng đếm xỉa tới. Cái chết cũng làm người khác phải tôn kính ta. “Thế là anh đi rồi, em xin cúi mình chào anh!”. Ông Cơrítxtian nghĩ thầm. Ông vụng về quỳ xuống, hôn bàn tay lạnh giá đắp dưới chăn. Rồi ông lùi lại hai bước, bắt đầu nhìn chung quanh, cặp mắt đảo qua đảo lại.



Những người đến viếng có vợ chồng các bà ở ngoài phố Brêten. Ông Máccút cũng tới, cô Cơlốthinđơ đáng thương cũng có mặt, cô đứng cạnh giường, gầy còm, nhỏ bé, xanh xao, hai tay đeo găng sợi khoanh trước ngực, mặt đờ đẫn như không cảm xúc chút nào.



- Bà Tôny, bà Ghécda chớ tưởng rằng tôi không khóc – giọng bà ngậm ngùi kéo dài – lòng tôi đã giá lạnh! Tôi không còn nước mắt nữa…



Không ai có thể không tin lời cô nói. Cô đứng kia, khô cằn, tàn héo.



Cuối cùng, mọi người rời căn phòng ấy, nhường chỗ cho một bà già móm mém, ít ai ưa. Bà ta đến để giúp bà xơ Lêăngđờra tắm rửa và khâm liệm cho ông Tômát.



Tối hôm ấy, đã khuya lắm rồi bà Ghécda Bútđenbrúc, bà Tôny, ông Cơrítxtian và Giôhan vẫn còn ngồi dưới ánh đèn măngsông, chung quanh cái bàn tròn trong phòng khách, làm việc không biết mệt. Họ ngồi xúm lại, kê danh sách những người phải gửi giấy cáo phó, viết phong bì. Mấy cái bút kêu loạt xoạt cùng một lúc. Chốc chốc lại nghĩ ra một người nào đó, lại ghi vào danh sách… Việc này cần có Hannô giúp, vì chữ chú rất đẹp, và thời gian cũng gấp lắm.



Trong nhà, ngoài nhà đều tĩnh mịch, thỉnh thoảng chỉ có tiếng chân bước, nhưng rồi lại mất hút. Cái đèn măngsông kêu xè xè. Có ai đó thì thào một tên người, tiếp theo là tiếng loạt soạt trên giấy. Khi ánh mắt mọi người gặp nhau, họ mới nhớ là có việc chẳng lành xẩy ra. Bà Tôny đưa bút lia lịa, vẻ trịnh trọng. Nhưng như thể đã tính toán cẩn thận, cứ năm phút bà lại buông bút xuống, nắm chặt tay, để lên khóe miệng, than thở:



- Ôi, thật tôi không còn hiểu ra sao nữa! – Bà kêu lên như vậy, có nghĩa là bà bắt đầu rõ dần việc gì đang xẩy ra.



- Nhưng bây giờ thế là thôi! – Bỗng bà kêu lên một cách tuyệt vọng rồi ôm lấy cổ bà chị dâu mà khóc nức nở. Khóc một lúc, hình như có thêm sức, bà lại tiếp tục viết.



Ông Cơrítxtian cũng giống như cô Cơlốthinđơ đáng thương, không có lấy nổi một giọt nước mắt. Ông cảm thấy thế thật là xấu hổ. Ý nghĩ sợ rằng người khác cười ông cứ đè nặng lên tim ông. Với lại, lúc nào ông cũng lo cho sức khỏe của mình, đó cũng là nguyên nhân làm cho tinh lực ông cạn dần, tình cảm ông chai đi. Chốc chốc, ông lại đứng dậy, đưa tay sờ cái trán nhẵn thín, hạ thấp giọng, nói:



- Ôi thảm hại quá!



Câu ấy ông nói với bản thân ông, cố trách mình, mong nhỏ được vài giọt nước mắt.



Bỗng xẩy ra một việc làm đảo lộn tất cả mọi việc, Giôhan cười phá lên. Lúc viết phong bì, chú viết đến một cái tên rất buồn cười, thế là chú không nhịn được. Chú đọc lên, cúi rạp người về phía trước, rung rung, hít không khí vào, không thể kiềm chế được nữa. Thoạt đầu ai cũng tưởng chú khóc, nhưng không phải chú khóc. Người lớn chỉ còn biết nhìn chú nữa mà thôi, chẳng biết làm thế nào cả. Lát sau, mẹ chú đưa chú đi ngủ.



 



 



 



Chương IX



 



Người trong thành phố kháo nhau: chỉ vì một cái răng… ông Bútđenbrúc chết chỉ vì một cái răng! Nhưng thật quái gở, đau răng làm sao mà chết được? Răng ông đau, bác sĩ Bơrétsơ nhổ, làm gãy, còn cái chân, sau đó ông ngã ngoài phố. Có ai nghe nói chuyện như thế bao giờ không?



Thế nhưng chuyện ấy không quan trọng, chỉ thiệt người chết mà thôi! Bây giờ mọi người bận đem vòng hoa đến viếng, những vòng hoa to, những vòng hoa quý, những vòng hoa ấy làm đẹp mặt chủ nó. Báo sẽ đưa tin nói rằng, thấy những vòng hoa ấy, ai cũng biết đó là của người giàu sang, có tiếng tăm. Vòng hoa từ khắp nơi đem đến liên tục, có thể là của một đoàn thể, một công ty, hoặc một gia đình, một cá nhân. Vòng hoa có cành nguyệt quế, xung quanh kết bằng các loại hoa thơm, hoa kim ngân, có băng đen và giải cờ của thành phố, trên viết chữ đen hoặc chữ kim tuyến, còn có những cành liễu rủ, rất nhiều cành liễu rủ. Các cửa hàng hoa được một mẻ lời to, nhất là quán bán hoa tươi Ivơden ở ngay trước nhà ông Bútđenbrúc lại càng đắt hàng hơn ai hết. Ngày hôm ấy, bà Ivơden bấm chuông đến mấy bận để đưa các loại vòng hoa vào, đều là của ông nghị này, ông tham nọ, công sở kia… Có lần, bà ta hỏi thử, bà ta muốn lên gác nhìn ông nghị một chút có được không. Bà ta được trả lời là có thể. Thế là bà ta theo bà Iungman lên cầu thang chính lên gác. Dọc đường bà ta cứ trầm lắng, mắt mải nhìn cầu thang đèn nến sáng trưng.



Bước chân bà ta nặng nề, bởi vì ba ta đang có mang. Nói chung, ngày tháng trôi qua, khuôn mặt bà ta có khô đi một chút, nhưng hai con mắt nhỏ, đen nhánh và hai gò má Mãlai của bà ta vẫn có sức hấp dẫn; hơn nữa, ai cũng thấy bà ta vốn là một người đẹp. Bà ta được mời vào phòng khách, vì thi hài ông Bútđenbrúc được đặt ở đó.



Đồ đạc trong nhà đã thu dọn gọn gàng. Ông nghị nằm trên đệm sa tanh trắng trong quan tài, đặt gần cái phòng rộng rãi sáng sủa. Ông cũng mặc bộ quần áo trắng, đội mũ sa tanh trắng, mùi thơm hoa hồng, hoa tử lan và nhiều loài hoa quý khác sực nức. Trên đầu ông, giữa những đài nến kết thành hình bán nguyệt, dựng tượng đức Chúa trời do Thovanxeng Sênenđơ khắc. Bệ bức tượng phủ lụa đen, trên sàn nhà và trên vải liệm, ở đâu cũng đầy những hoa bó, hoa kết, hoa vòng và cả lẵng hoa. Bốn chân quan tài là những cành liễu rủ, lá che lấp chân ông nghị. Mặt ông nghị có chỗ bị xây sát, nhất là ở sống mũi, vết thương nặng hơn cả. Nhưng mái tóc ông vẫn bồng bồng như khi còn sống, râu ông được ông Venxen xén tỉa và uốn lại, thẳng đuột, dán trên hai má nhợt nhạt. Đầu ông hơi nghiêng về một bên, nơi hai tay ông chắp lại là một cây thánh giá bằng ngà voi.



Bà Ivơden vừa đi đến cửa, liền đứng lại, lim dim mắt nhìn về phía quan tài. Cho đến lúc bà Tôny mặc đồ đen, khóc lóc thảm thiết đi ra phòng ngoài, đứng giữa tấm màn cửa, nhã nhặn mời, bà ta mới bước lên mấy bước trên nền lát đá hoa. Bà ta đứng, để tay lên chỗ bụng to. Bằng đôi mắt đen láy, bà ta nhìn hoa, đài nến, những dải lụa bay phất phơ, cuối cùng mới nhìn khuôn mặt ông Tômát Bútđenbrúc. Thật khó mà nói khuôn mặt bủng beo, nhợt nhạt của người đàn bà chửa này biểu lộ tình cảm gì. Cuối cùng, bà ta “a” một tiếng, cộc lốc, không hiểu ra thế nào cả, rồi quay đi ngay.



Bà Tôny rất thích người ta đến viếng như thế. Bà túc trực ở căn phòng này và ngồi nhìn không biết chán những người đến viếng tranh nhau tỏ lòng cung kính trước thi hài ông anh. Bà đọc đi đọc lại những bài đăng trên báo. Cũng như trước kia, ca ngợi sự nghiệp của ông anh khi kỷ niệm ngày thành lập công ty, những tờ báo ấy lại xót xa trước sự tổn thất không gì bù đắp được này. Những lúc bà chị dâu tiếp khách đến viếng thì bà vẫn đứng ở phòng ngoài. Mà người viếng thì như không bao giờ ngớt! Đông đến mức có thể lập thành một quân đoàn! Bà bàn với mọi người việc an táng. Dĩ nhiên đám ma cũng phải tổ chức cho đàng hoàng. Bà đã sắp xếp buổi tiễn đưa cuối cùng này. Trước hết, tất cả mọi người trong công ty vĩnh biệt ông chủ. Tiếp đến là anh em công nhân cửa hàng lương thực. Bàn chân to tướng của những người ấy bước rầm rập trên nền đá hoa, miệng lẩm bẩm điều gì vẻ rất chân thành. Người nào người nấy nồng nặc mùi rượu, thuốc lá, mùi mồ hôi. Họ mải nhìn cái linh cữu đẹp, tay mân mê mũ, thoạt tiên cảm thấy là lạ, rồi dần dần cảm thấy chán. Cho đến lúc một người trong bọn họ mạnh dạn quay lui, thì tất cả cùng lê bước đi ra theo… Bà Tôny thấy vui trong lòng. Bà kể lại với mọi người rằng, có nhiều ông đến viếng khóc, nước mắt chảy cả xuống râu. Thực ra, làm gì có chuyện ấy! Nhưng bà nói là có trông thấy việc ấy làm bà vui lòng thì có sao đâu?



Gần đến ngày đưa đám. Chiếc quan tài kẽm đã đóng chặt, trên phủ đầy hoa, nến thắp sáng chưng, nhà đầy người. Mục sư Prinhem nét mặt trang trọng đứng trước quan tài. Người trong thành phố này và từ nơi khác đến đưa đám đứng vây chung quanh. Đầu ông ta rất hay cử động, nổi lên trên cái cổ áo to tướng trông giống như đặt trên cái đĩa to.



Một người đàn ông đeo gù vai, nhanh nhẹn, thông minh, trông vừa giống người hầu, vừa giống người trợ lễ, chỉ huy các nghi thức. Anh ta cầm cái mũ đại lễ ở tay, nhẹ nhàng từ trên gác đi xuống cửa giữa. Ở đấy, người thu thuế mặc chế phục, công nhân khuân vác khoác áo bờlu, quần lửng, mũ đại lễ, đứng chật ních. Anh ta nói với mọi người, giọng khàn khàn, nghe đến nhức tai.



Trong nhà đông lắm rồi, ở hành lang còn chỗ…



Một lát sau, mọi người đã yên lặng. Mục sư Prinhem bắt đầu làm lễ. Giọng trầm bổng hùng hồn của ông vang cả căn nhà. Khi đứng trước tượng Chúa, tay ông lúc bắt chéo trước ngực, lúc giăng thẳng ra cầu nguyện. Bên ngoài, dưới bầu trời đông xám xịt, một cỗ xe tứ mã đang đứng trước hiên nhà. Sau linh xa là một dãy xe ngựa dài đến tận sông Travơ. Đối diện cửa là hai hàng lính, súng dựng thẳng bên người, phía trước là thiếu úy Phôn Thơrôta. Tay thiếu úy cầm kiếm chỉ huy, mặt nhìn đăm đăm vào khung cửa sổ trên gác. Sau các ô cửa sổ của những nhà chung quanh và trên vỉa hè, thiên hạ cứ vươn cổ ra xem.



Cuối cùng, những người đứng ở phòng trước xao động lên. Thiếu úy Phôn Thơrôta khe khẽ hô khẩu lệnh, lính rầm rập bồng súng, ngọn kiếm trong tay thiếu úy Phôn Thơrôta đưa xuống. Bốn người mặc áo đen, đội mũ tam giác khiêng quan tài ra. Chiếc quan tài di động rất chậm ra phía cửa. Một cơn gió mạnh tạt mùi hương vào mũi những người đứng xem và thổi tung những chiếc lông đen cắm trên linh xa, thổi tung bờm ngựa ở những cỗ xe đang đứng sắp hàng bên bờ sông, thổi tung những dải lụa đen trên mũ những người phu xe và những anh xà ích.



Các con ngựa ở chiếc linh xa phủ vải đen chỉ chừa hai con mắt, bắt đầu chuyển động. Bốn người phu mặc quần áo đen đắt chúng đi chầm chậm. Toán lính xếp hàng theo sau. Các cỗ xe khác cũng từ từ chuyển bánh. Ông Cơrítxtian ngồi trên chiếc xe thứ hai cùng với mục sư Prinhem. Tiếp theo là cỗ xe chở chú Giôhan và một người bà con ăn uống no nê, mặt đỏ gay, từ Hămbuốc tới. Đám ma ông Tômát Bútđenbrúc rất dài, nhích dần từng bước, trông vẻ bi thảm, trang nghiêm. Nhà nào cũng treo cờ rủ, lá cờ khẽ lay động trước gió. Nhân viên và phu khuân vác của công ty sắp hàng đi sau cùng.



Đoàn người đưa quan tài ra khỏi thành phố, đi hết đoạn đường đi ra nghĩa địa, qua các nơi có những cây thập tự, tượng đá, mấy cái nhà mồ nhỏ và hàng thùy dương rụng hết lá, rồi vào khu mộ của dòng họ Bútđenbrúc. Lúc này, đội lính danh dự, hàng ngũ chỉnh tề, bồng súng chào, đồng thời có nhạc bi ai từ phía sau rặng cây thấp vọng ra.



Chiếc huy hiệu của dòng họ khắc trên mặt tấm đá lớn, một lần nữa lại được khiêng sang một bên. Các vị thân sĩ đưa đám vây quanh cái huyệt bên lùm cây thấp rụng hết lá. Chỉ có ông Tômát Bútđenbrúc là sẽ xuống huyệt về với các vị tổ tiên mà thôi. Họ đều là những người có địa vị, giàu sang, có người làm nghị viên, cứ nhìn đôi găng tay trắng và chiếc cà vạt trắng thì có thể biết. Họ đứng đấy, hoặc cúi đầu, hoặc đau buồn, đầu nghiêng sang một bên. Viên chức, công nhân khuân vác, nhân viên cửa hàng và công nhân kho lương thực tụ tập ở một chỗ xa hơn.



Tiếng nhạc im bặt, mục sư Prinhem lại bắt đầu đọc kinh. Khi những lời cầu nguyện của ông tan trong bầu không khí lạnh lẽo, mọi người bước tới, chuẩn bị bắt tay anh em và con trai người quá cố một lần nữa.



Đoàn người dài dằng dặc. Ông Cơrítxtian Bútđenbrúc, nét mặt nửa như lơ đãng, nửa như mê mệt, khổ não, tiếp nhận lời chia buồn của mọi người. Đó là vẻ mặt thường thấy ở ông mỗi khi gặp tình huống nghiêm trọng. Giôhan đứng cạnh, chau mày, cúi đầu tránh cơn gió lạnh. Chú mặc chiếc áo lính thủy ngắn, rộng, có dải thắt thêu kim tuyến. Đôi mắt quầng xanh của chú cúi xuống đất chứ không nhìn một ai cả.



 



(còn tiếp)



Nguồn: Gia đình Buddenbrock. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.



www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 07.07.2015
Bão - Ngũ Hà Miên 07.07.2015
Người anh cả - Lê Văn Trương 07.07.2015
Giải phóng - Hoàng Quảng Uyên 07.07.2015
Giấy trắng - Triệu Xuân 01.07.2015
Bụi đời - Triệu Xuân 26.06.2015
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 05.06.2015
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 05.06.2015
Gia đình Buddenbrock - Thomas Mann 02.06.2015
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 15.05.2015
xem thêm »