tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Doanh nghiệp Sách Thành Nghĩa TP. Hồ Chí Minh

 

 

Nhà hàng Việt Phố

 

Khách thăm: 11877295
Tiểu thuyết
20.04.2012
Lê Văn Trương
Trận đời

Chí lên nhà, về buồng thay quần áo, rồi cầm một bánh pháo mà trong năm đã gửi mua ở Battambang, rồi lững thững sang nhà Quý. Đến cổng, chàng đánh diêm đốt. Nghe tiếng pháo, vợ chồng Quý chạy ra.


- Năm mới mừng anh chị…


- Năm mới mừng anh.


Ông bà Huyện hàm rót rượu mời Chí. Tuy mọi người đều săn đón, nhưng Chí cũng thấy ở trong sự săn đón ấy một cái gì ngượng nghịu và miễn cưỡng. Luôn luôn con mắt vợ Quý nhìn trộm như có ý bảo: “Nếu anh lấy em Ba, có phải những tết như thế này, vui biết bao nhiêu không”.


Tuy người ta đều cố làm ra vẻ thân mật và hân hoan, nhưng vì cái chỗ cô ấy mà sinh ra những điều nghĩ dù không muốn nó cũng cứ đến. Rồi thì những câu chuyện ồn ào lâu lâu lại ngắt bởi những im lặng nặng nề nó như rót chì vào không khí. Người ta nói tất cả các thứ câu chuyện, nhưng có câu chuyện mà người nghĩ đến nhiều nhất, chẳng ai dám động đến cả.


Chí ngồi chừng nửa giờ thấy khó chịu, chàng cũng thấy mọi người đều khó chịu như mình. Chàng xin cáo từ. Chàng không về nhà, chàng huýt con Dick rồi thầy trò lững thững đi dọc đường thiên lý.


Trời hôm ấy nắng chói con đường đá trắng xóa. Lâu lâu một chiếc ô tô đi qua, trùm bụi lên cảnh vật.


Ở hai bên đường những ruộng đang gặt đỏ vàng lót một màu lửa.


Chí sung sướng nhìn những đám mây đen điểm ở chân trời: “Mưa đi, mình không sợ nữa, lúa của mình đã gặt xong cả rồi”.


Điều nghĩ làm cho chàng rất bằng lòng về sự làm việc của mình.


Chàng nhìn cánh đồng lúa chung quanh rồi tưởng tượng:


- Ít ra cũng giữa tháng hai, họ mới có thể gặt hết được.


Năm bảy chiếc xe bò của những hiệu khách cho vay đi lấy lúa về ném những tiếng kẽo kẹt vào không khí đã nặng trĩu những điệu.


Đồi, rừng, ruộng và đồng tranh như bốc lên một sinh khí trong khi mùa xuân chớm đến. Đi qua những ruộng lúa mà mình đã gặt, nhìn thấy rơm và rạ vất bừa bộn. Chí sực nhớ:


- Giá ở Bắc thì người ta đã gánh hết về nhà để cho trâu bò ăn hay để đun, còn ở đây đã có củi rừng, trâu bò đã có cỏ, mà lợp nhà thì đã có tranh. Các sự sướng thật.


Một trận gió từ phương Bắc kéo lại đem đến mùi lúa chín và mùi tranh bị khô. Cây ở rừng rào rào.


Chí nhìn chung quanh thấy cạnh chỗ ruộng đã gặt của mình không còn ruộng lúa nào, chàng bèn đem thực hành ngay những lời mà Nhiên đã dặn mình. Đó là một thứ bón rất tốt cho ruộng.


Chàng đi lại phía đầu gió, nhổ những cây rơm chập lại thành một bó lớn, rồi chàng châm lửa, cầm ở tay để đi chung quanh ruộng. Những cuống rạ còn đã khô cháy bùng, rồi nhờ ngọn lửa cứ lem lém cháy trên mặt ruộng lan rộng mãi ra.


Trong nửa giờ đồng hồ, những thửa ruộng ở đầu gió đều đã bắt lửa rồi cứ thế mà cháy suốt ra đến đường thiên lý là cái giới hạn đồn điền của Chí. Chí đứng nhìn những lưỡi lửa đỏ chuyển động qua những cuống rạ và tàn khói bốc lên trời. Chàng thấy lòng mình cũng đang có cái gì đó bay. Chàng liếc nhìn sang phía đồng tranh mà năm nay chàng sẽ khẩn, tự nhủ: “Năm ngoái mình quên đốt thành ra còn có nhiều cỏ, năm nay nhờ nó khô, ít nữa thế nào cũng chờ một hôm gió to, cho tưới một thùng dầu ở kia, rồi đốt. Đốt xong nếu đổ mưa xuống đất mềm là đem máy cày ra cày vỡ. Mình có những hai máy cày và nhiều trâu bò, thể nào năm nay cũng khẩn xong ba trăm mẫu tây đất còn lại”.


Rồi chàng tính nhẩm trong bụng cái số thóc mà năm trăm mẫu tây đất có thể đem lại cho chàng. Chàng thấy rằng với cái số thóc ấy, sang năm chàng mua thêm hai cái cày máy nữa. Và có thể về Bắc mộ vào đây vài trăm phu. Như thế mỗi năm, chàng có thể khẩn bảy tám trăm mẫu tây, rồi cái số ấy cứ tăng gấp mãi lên.


Chàng ném lại một cái nhìn bao quát hết đồng tranh rồi lẩm bẩm: “Chả mấy chốc, miễn là giá lúa như thế này mãi”.


Tương lai hiện đến trước mặt chàng đỏ hồng như những ngọn lửa đang bị gió đuổi trên ruộng rạ kia.


Rồi thì một khoái cảm trào dâng trong cơ thể khiến chàng phải tìm một người để kể cái nỗi vui của mình.


Chàng nghĩ đến Nhiên:


“Âu cũng là một cơ hội để đến cám ơn anh ấy những việc mà anh ấy đã giúp mình.


Và luôn thể hỏi thêm môt vài điều cần thiết về sự trồng trọt”.


Chàng đi vòng đồng lúa đang chạy ra ngoài đường. Con Dick thì vừa chạy theo lửa vừa cắn ầm ĩ.


Chàng đứng chờ gần một giờ mới có một chiếc ô tô hàng đi qua.


Chàng đến nhà Nhiên thì vừa lúc gặp bọn anh em người Bắc họp nhau ở đấy đánh tổ tôm. Chàng thấy thất vọng vì Nhiên bận đánh bạc thì không còn thì giờ để cho chàng hỏi. Nhiên thấy chàng đến, muốn nhường chân:


- Mới đầu hội, ù có ba ván, tôi đã ù một ván tôm rồi.


Chí từ chối:


- Tôi xuống chúc tết anh chị, rồi tôi còn phải về, nhà bận nhiều việc lắm.


- Tết này bận gì? Làm cả tết à? Ở đây chơi tối nay, mai hãy về.


- Ai ngủ lại mồng một tết.


- Ồ vẽ, ở ngoài Bắc khác ở đây khác. Làm ít chứ.


Một người làm ở dây thép chêm vào:


- Làm để mà chơi. Năm nay ông được mùa lớn, cũng phải vung phí đi một ít chứ.


Chí trong đầu lúc ấy còn đang chứa đầy những dự định về công việc của mình.


- Trong cảnh tôi không thể vung phí được.


- Thì cảnh ấy cũng vung phí được. Ông chưa vợ con, lại có bao nhiêu ruộng, bao nhiêu thóc. Không chơi thì bạc để đi đâu hết. Có đá thì cũng đá vừa thôi chứ.


Chí vùng hiểu ra rằng mình đang đứng với những người không có những điều nghĩ và một lý tưởng như mình, họ chỉ sống theo sự cần dùng và cơ hội của mỗi ngày. Chàng tủm tỉm cười không trả lời.


Chàng muốn về ngay, nhưng vợ Nhiên cố giữ, và cố nài:


- Thì không đánh nhiều, anh cũng đánh một hội, gọi là để khai xuân. Bây giờ cũng còn sớm, còn chán ô tô.


- Đánh thì tôi không đánh, có ở chơi với anh chị một lúc nữa thì ở được.


Chàng ngồi ngắm những người đánh bạc. Họ toàn là những công chức với một số lương nhất định, với cuộc đời bằng phẳng chỉ có quân bài là đem lại cho họ một chút rạo rực. Họ sống không có những ước nguyện lớn, không có những mộng tưởng to, thu hết sinh lực vào những cái vui chốc lát. Chí nhìn sự say mê của họ rồi tự hỏi: “Nếu ai cũng như họ?...”.


Đã lâu nay, chàng giam mình trên đồng ruộng, giam mình trong sự làm việc, chàng không tiếp xúc với những người sống một cuộc đời không ngày mai, chàng vụt nhận thấy tất cả cái vô vị của những cuộc đời như thế. Mà chàng nhận thấy mình không thể sống như thế được.


Họ đã đem dồn tất cả nghị lực vào những công việc nó không làm danh giá cho sự sống. Họ đã phí phạm một cách vô lý những ngày tháng vào những hành động vô ích nó làm cho cuộc đời không có cái chỗ đẹp đẽ sôi nổi của nó. Họ sống rồi chết đi không bao giờ để cho tâm hồn bay lên đến những tầng cao của tư tưởng. Những cái mà họ cho là vui. Chí thấy mình không thể vui được.


Chàng thì chàng phải sống tận độ những tình cảm. Và nếu cái gì không làm cho xao động những tình cảm ấy một cách mãnh liệt, chàng không chịu phí thì giờ.


Bốn giờ thì Chí bước chân lên ô tô ra về, bâng khuâng nghĩ đến những cuộc đời của Nhiên, của Bách và cả của Chí nữa. Chàng đem so sánh với cuộc đời mình. Chàng còn nhớ rõ ràng câu của vợ Nhiên hỏi mình:


- Anh ở trên ấy một mình không có đàn bà mà không buồn ư?


Rồi vợ Nhiên trầm trồ bảo chàng:


- Anh phải mau lấy vợ đi chứ.


Lần nào gặp vợ Nhiên, vợ Nhiên cũng khuyên chàng lấy vợ.


Và lo chàng buồn. Chàng thì không buồn bao giờ cả. Bây giờ thì chàng đã hiểu cái lý do ấy. Những người sống không lý tưởng, không nỗ lực về một công cuộc gì đều bị cái buồn, cái hiu quạnh vây bọc, cho nên họ tưởng rằng người khác cũng buồn như họ. Vì thế họ cần có người ở cạnh. Sự lấy vợ, lấy chồng đối với họ là để dựa dẫm cho cuộc đời cho thay đổi, có trói buộc, chứ không phải là một cần thiết của một tình cảm. Chàng thì không thể lấy vợ để trói buộc, để vướng bận, không thể lấy vợ trong khi không thấy cần đến.


Chàng nghĩ đến Kim, nhưng nghĩ đến để thương, chứ không phải tính đến sự lấy Kim. Chàng đã bằng lòng mình vì đã cương quyết trong khi Quý đến ngỏ tâm sự với mình.


Mặt trời chớm ngả trên rừng cây thì xe ô tô đến nhà.


Vợ chồng Quý thấy tiếng xe chạy ra:


- Anh đi đâu về đấy? Lúc nãy chúng tôi và ba má tôi sang, người nhà bảo anh đi đâu không biết. Tôi tưởng anh đi bắn.


- Tôi đi Battambang để chúc tết một người anh em.


Vợ Quý hớn hở:


- May quá, tôi tưởng bữa cơm hôm nay của tôi bị ế. Lúc nãy, tôi sang định mời anh sang ăn cơm đầu năm với vợ chồng tôi. Chúng tôi ở đây, còn có ai nữa.


- Thế chị để tôi về qua nhà một tí.


Vợ chồng Quý cũng theo sang. Vừa bước chân lên đến nhà thì Samreth đã hớt ha hớt hải từ phía chuồng bò chạy lên:


- Chúng nó để lạc mất năm chục bò thầy ạ.


- Lạc hay bị trộm cướp nó đuổi mất? Chú có đi xem vết chân chưa?


- Con đi về đây. Mọi người đi tìm khắp chẳng thấy đâu. Chỉ thấy nhiều vết chân trâu bò đánh tắt qua rừng Phnomthom. Con đồ chừng là trâu bò nhà.


- Thế chú vẫn cho người dõi theo đấy chứ?


- Vâng. Còn con thì về đây bảo để thầy biết.


- Thế thì có lẽ bị cướp chúng đồ chừng ngày tết mình bận rộn không theo được, nên chúng nó làm cái vố này rồi. Xuống bảo chúng nó đóng mấy con ngựa. Bảo thằng Naivong, thằng Kreng lên lấy súng rồi đi với tôi. Cả chú đi nữa. Nhưng chú thì đi với bọn người theo lốt chân và bảo họ tôi đi trước chận đầu ở rừng Seua. Nếu là cướp thì thế nào chúng cũng đánh qua đây để sang Xiêm. Đến đây nếu mà quá rồi thì chúng ta họp nhau lại dõi theo đến kỳ cùng, bao giờ lấy lại được về mới thôi.


Quay sang vợ chồng Quý:


- Tôi không thể sang ăn cơm với anh chị được rồi.


Quý muốn đi theo. Chí gạt đi:


- Đi như thế này nguy hiểm lắm, vất vả lắm. Đi bất phân nhật dạ. Nếu không gặp ở giữa đường thì có khi phải sang tới Xiêm. Năm mới, anh đừng đi.


Nhìn con mắt cầu khẩn của vợ, Quý không có đòi đi nữa:


- Thế anh có cần thêm súng tôi cho mượn những súng của tôi?


- Không, bốn khẩu đủ rồi.


Chí vào trong nhà thay quần áo đi ngựa, buộc thắt lưng đạn, rồi vác súng ra. Naivong và Kreng cũng đã lên. Ngoài khẩu súng trường, mỗi người còn giắt một thanh gươm dài và một chiếc đèn “pin”.


Vợ Quý xuýt xoa:


- Đuổi theo chúng nó thế này thì nguy hiểm lắm.


- Nhưng chả lẽ để mất. Ấy đấy, vì thế cho nên tôi không dám nghĩ đến sự lấy vợ. Tôi còn đang nghèo, không thể để cho mất được.


***


Mưa đã bắt đầu báo hiệu mùa cày cấy. Chí suốt ngày vần vật ở ngoài đồng. Trưa chàng cũng không về nhà. Chàng làm lều ở ngay ngoài ruộng, rồi thổi cơm ngay ở đấy để ăn. Tối về chàng ngủ một giấc thật ngon, thật dài, nó là phần thưởng của cả một ngày làm việc. Chàng khước từ tất cả những sự mời mọc của vợ chồng Quý, chỉ nghĩ sao cày cấy cho ruộng xong thật sớm để kịp con nước lên. Chàng đã nghiệm thấy rằng những ruộng cấy chậm phần nhiều mất, bởi vì lúc ấy lúa mới mọc mà nước thì đã sắp rút ra rồi.


Những người Bắc vào làm rẽ theo cái gương chăm chỉ của chàng cũng nỗ lực. Chàng đi xem xét thấy rằng họ biết làm hơn người Cao-mên nhiều lắm. Chàng bàn bạc mọi công việc với họ, họ dạy chàng được nhiều điều hay. Chàng thường thường bảo ông Nhiêu Phùng:


- Tôi biết mà, các anh em vào đây làm ruộng là người Cao-mên phải khiếp phục mà. Đây, xem các ruộng bên họ đã cày vỡ được bao nhiêu, mà chúng ta thì cày lượt này là lượt thứ hai, chỉ chờ mưa năm trận to nữa là gieo thóc.


Ông Nhiêu Phùng trả lời:


- Năm nay anh em chưa có kinh nghiệm và chưa quen làm ruộng ở đây, chứ sang năm còn hơn thế này nữa.


- Tôi cũng nghĩ thế. Vì người Cao-mên họ làm chậm, ba bốn tháng dềnh dàng mới cày cấy xong nên thường mất mùa. Lúc nước sông vào thì lúa họ còn nhỏ, thường thường thối. Mà nếu không thối, thì khi nước rút ra rồi, lúa chưa trổ chưa mọc cao thì ruộng đã khô, vì thế lại hạn hán. Đấy, chú xem họ gặt cũng ba bốn tháng vì thế biết bao nhiêu thóc bị mưa xuống làm cho mọc mầm, ta phải làm nhanh.


- Gieo lúa thế này thì có thể làm nhanh được, nhưng gặt thì hai chục mẫu, nhà hai vợ chồng gặt lâu xong lắm, tôi chỉ lo ngại cũng đến bị mưa làm hỏng mất nhiều. Còn như mướn người gặt thì cũng không thể mướn được.


- Các anh đừng lo, cứ cố làm kỹ và làm cho mau. Điều đó, tôi đã nghĩ rồi. Tôi sẽ mua thêm một máy gặt lắp vào “tracteur”. Ta không làm cái lối gặt riêng từng nhà. Ta phải làm cái lối công cộng. Và phải góp sức cả vào người của tôi, máy của tôi và anh em đều làm chung, cũng ùa gặt cho tới xong tất cả thì thôi. Thóc của ai thì người ấy đập lấy. Phải giúp nhau cho tới xong hết thì thôi. Tôi sẽ gặt ruộng của anh làm trước, như thế thì anh em không còn lo mưa xuống thóc bị mọc mầm nữa. Gặt xong cho anh em rồi thì đến ruộng của tôi, anh em phải giúp cho tôi đến khi xong.


- Nếu nghĩ thế thì may lắm. Chứ gặt hai mươi mẫu có hai người thì biết bao giờ cho xong.


- Mới đầu ta còn làm tạm thế này, chứ mai sau, có nhiều người vào đây, và tôi có nhiều vốn, tôi lại tính cách khác.


Những thửa ruộng của tôi đều để to, để có thể làm máy được. Cứ một cái “tracteur” thì có thể làm được hai trăm mẫu tây đất, ấy là nói cày vỡ một lần và làm lâu ngày được như ở đây. Vì đây cày cấy những mấy tháng, một năm có một vụ. Sang năm cứ ba mươi gia đình tôi phát cho một “tracteur” để vừa kéo máy cày, vừa kéo máy gặt. Tôi ứng tiền “mazout” cho. Rồi cùng làm chung. Thóc được bao nhiêu chia đều ra ba mươi phần. Lúc vào đây, mỗi gia đình còn ít người, ta muốn làm nhiều thì phải thế, ông nghĩ thế nào?


- Chúng tôi thì lấy công làm lãi, nếu thế sợ tiền dầu nhiều quá, chẳng còn được bao nhiêu thóc.


- Ồ, thế đã làm được nhiều. Nhưng ấy là tôi mới dự tính thế. Để làm năm nay, ta xét nghiệm xem cách nào lợi thì ta dùng. Tôi cũng mới làm ruộng có một năm, cũng chưa rành lắm. Nhưng tôi tin vài ba năm nữa, những sự tính toán của tôi sẽ không lầm. Nếu với cày máy mà mỗi gia đình có thể làm được ba mươi mẫu ta một năm thì dù có mất tiền dầu “mazout” cũng còn lãi hơn là làm bằng công người, mà được ít. Ở đây đất nhiều chứ không như ngoài ta mỗi người năm bảy sào mà bảo làm kỹ. Ở đây thì mười phần gieo chỉ một phần cấy thôi. Không, anh em cứ tin, tôi sẽ nghĩ hết cách để làm thế nào cho lời cả đôi bên. Ruộng đất nhiều thế này, phải làm theo một kế hoạch to tát, chứ không thể tính cách nhỏ nhen như ở ngoài ta được.


Tôi sẽ mộ thật nhiều người vào đây, tôi sẽ lập ra từng xóm. Mỗi xóm tôi phát cho một số ruộng với một cái “tracteur” để đủ làm cái số ruộng ấy cho có lời. Tôi cử một người đại biểu đứng trông nom. Muốn thế, anh em cần phải có cái tình đoàn kết hiểu rõ rằng một người làm để cho tất cả, tất cả làm để cho một người thì cái chương trình của tôi mới thực hiện được. Mà anh em mới chóng khá. Ôi, cái ngày ở chung quanh đây có chừng trăm xóm người Bắc với trăm cái máy cày thì tôi sung sướng quá.


Rồi cúi gần vào ông Nhiêu Phùng:


- Chúng ta phải biết lợi dụng sự tiến bộ của khoa học, chứ làm theo cái lối người mình nào được bao nhiêu. Ừ, chỗ ruộng ít đã đành, chứ ở đây, bao nhiêu nhân công cho xuể. Ông có biết cái ước nguyện của tôi thế nào không? Tôi mong mỏi sao cho mỗi gia đình vào làm ruộng với tôi có một cái nhà ngói xinh xinh, một chuồng trâu bò, một chuồng lợn, một chuồng gà, một vườn cây, một vườn rau, một… một vựa lúa lúc nào cũng đầy.


Có thế thì mới bõ cái công anh em theo tôi vào đây. Lúc ấy thì tôi thuê người mở luôn một sở canh nông tư ở đấy để thí nghiệm, để tính toán, để dẫn dụ, để tìm tòi các phương pháp có lời, rồi chỉ bảo cho anh em làm theo. Chúng ta cũng lập đình chùa, cũng hội hè, cũng có kẻ trên, người dưới, chúng ta lập riêng ra một giang sơn ở trong cái giang sơn nước Cao-mên này. Tôi sẽ mở một trường học, một nhà thương, tôi sẽ lập riêng ra một tỉnh thành người Bắc.


Chí hăng hái nói với ông Nhiêu Phùng cái mộng của mình, ông Nhiêu Phùng chăm chú nghe. Khi Chí ngừng, ông liền báo:


- Như thế thì lâu ngày giờ và tốn của lắm lắm.


- Ngày giờ thì cần gì. Tôi còn trẻ. Còn tiền thì ta lại lấy nó đập nó. Mùa gặt năm nay, nếu được thì sang năm tôi về hẳn Bắc mộ người. Nhưng đến tháng chín, tháng mười này thì thế nào cũng có năm ba chục người vào đây. Một khi cày cấy xong, tôi sẽ tính mở một cửa hàng ở đây, có đủ các đồ Bắc cho anh em dùng với một giá rất rẻ. Rồi thì một vài năm nữa, tôi sẽ mộ đủ các thứ thợ vào đây. Kia kìa, ông trông khu đất tôi đã đánh dấu kìa, rồi thì sẽ có những lò gạch để xây những lớp nhà của anh em sau này. Tôi nghĩ thế, anh em là những người cần cù làm việc, chỉ vì đất ruộng ở nước nhà ít mà phải sống một cuộc đời eo hẹp, cái nhân cách của anh em được hưởng một cuộc đời sung túc hơn.


Ông Nhiêu Phùng xuýt xoa:


- Năm nay tôi ngoài năm mươi, tôi chỉ cầu sao sống được cho đến này mà những điều ông dự định thành được. Tôi cũng nhận thấy trong này đất nhiều, làm ăn dễ dãi, nếu người ngoài ta vào đây thì thế nào cũng có cơ phát đạt to.


- Tôi phải tính làm sao cho người ta nô nức vào. Vào để lập một tỉnh thành, sống một cuộc đời sung túc chứ không vào để kiếm đủ miếng khẩu lẩm.


(còn tiếp)


Nguồn: Lê Văn Trương - Tác phẩm chọn lọc. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 1-2006.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 01.09.2014
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 01.09.2014
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 27.08.2014
Hòn đất - Anh Đức 23.08.2014
Mạc Đăng Dung - Lưu Văn Khuê 21.08.2014
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 17.08.2014
Ông tướng tình báo và hai bà vợ - Nguyễn Trần Thiết 14.08.2014
Giấy trắng - Triệu Xuân 13.08.2014
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 10.08.2014
Chiều chiều - Tô Hoài 02.08.2014
xem thêm »