tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Doanh nghiệp Sách Thành Nghĩa TP. Hồ Chí Minh

 

 

Nhà hàng Việt Phố

 

Khách thăm: 11990484
19.06.2012
Lại Nguyên Ân
Dấu ấn Nguyễn Văn Vĩnh không bao giờ phai nhạt!

Bài phát biểu của Lại Nguyên Ân tại lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh học giả Nguyễn Văn Vĩnh
Ngày 10/6/2012, tại Nhà khách Chính phủ số 2 Lê Thạch, Hà Nội, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh và Nhà xuất bản Tri thức phối hợp cùng gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh, tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 130 năm ngày sinh học giả Nguyễn Văn Vĩnh (15/6/1882 - 15/6/2012). Tại lễ kỷ niệm, các nhà nghiên cứu, các vị giáo sư chuyên ngành và đại biểu quê hương của học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã có những phát biểu về đóng góp của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử Văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ 20. Sau đây là bài của nhà nghiên cứu văn hóa Lại Nguyên Ân.
Kính thưa bà Nguyễn Thị Bình,
Kính thưa các vị trong gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh,
Kính thưa các quý vị và các bạn!
Hôm nay chúng ta cùng nhau họp mặt tại đây để tưởng nhớ học giả Nguyễn Văn Vĩnh nhân 130 năm ngày sinh của ông.
Trước tiên, nhân ý kiến anh Dương Trung Quốc, tôi muốn nhắc lại là, cách đây 10 năm, tôi có tham dự buổi tọa đàm đầu tiên về học giả Nguyễn Văn Vĩnh. do Hội Sử học tổ chức. Tại cuộc tọa đàm đó, mọi loại ý kiến đều được phát biểu thoải mái, thậm chí còn có người tiếp tục luồng ý kiến thời trước đổi mới, đặt vấn đề với nhiều ngờ vực hơn là khẳng định: liệu có thể gọi Nguyễn Văn Vĩnh là người yêu nước được không?
Từ đó đến nay, một vài ý kiến loại như thế tuy vẫn còn đâu đó, nhưng xu hướng chung cũng đã khác đi rất nhiều.
Tuy vậy chúng ta cũng phải nói là rất buồn vì còn nhiều những nhận thức cơ bản về một số nhân vật như Nguyễn Văn Vĩnh thì vẫn chưa có thay đổi gì trên những tư liệu chính thức, chưa có những thay đổi căn bản về nhận thức trong những tài liệu chính thức.  Chúng ta chưa cho viết lại sử; tuy chúng ta đã để cho các học giả, các nhà hoạt động văn hóa được bàn luận tương đối rộng rãi về khá nhiều sự việc và con người quá khứ; song, trên những sự kiện và nhân vật trước đây bị hạ thấp thì xem ra hiện nay chỉ có sự luận bàn đánh giá lại của dư luận và giới chuyên gia; trong khi đó một vài cơ quan trong hệ thống chính thống lại chưa tỏ ra có sự thay đổi gì.
Tình trạng ấy khiến tôi nghĩ đến chỗ yếu về tinh thần tự phê bình mà Đảng đang nêu ra. Quả là chúng ta vẫn chưa thấy có việc tự phê bình của Ban Tuyên huấn TƯ, Tuyên giáo TƯ, xung quanh những vấn đề văn hóa và lịch sử, những nhân vật và sự kiện mà Đảng và các cơ quan đảng từng đưa ra sự đánh giá và đặt ra cách thức đối xử. Nguyễn Văn Vĩnh chỉ là một trong các trường hợp như thế. Từ sau năm 1945, nhất là từ sau 1954, những cơ quan chính thống, trong đó có vai trò quan trọng của cơ quan tuyên huấn, trước một số nhân vật lịch sử, sự kiện lịch sử, đã có một số sai lầm về căn bản trong sự nhận định, đánh giá, và trong cách đối xử. Bây giờ, bên cạnh sự nỗ lực của các học giả, bên cạnh những người có thiện chí muốn tìm lại, đính chính lại những hiểu biết sai lệch, những nhận định sai lầm thì, thiết nghĩ, cơ quan tuyên huấn cũng phải có ý kiến chính thức chứ không thể lờ đi, hoặc chỉ cần im lặng mà đã cho thế là đủ. Theo tôi, cơ quan tuyên huấn im lặng lờ đi, – là chưa đủ. Bởi vì sự nhận định mang tính độc tôn từ cơ quan ấy đã được ban phát cho những nhân vật và những sự kiện lớn trong quá khứ, mà cả sự độc tôn lẫn chính cái ý kiến nhận định đó đều đã tự chứng tỏ là sai, với thời gian, với lịch sử, thì giờ đây nhất thiết phải có sự tự phê bình công khai về sự sai lầm đã phạm phải. Phải tự phê bình đã, rồi mới có thể từ đây phó thác cho giới nghiên cứu, cho dư luận.
Nói đến báo chí thời đầu ở Việt Nam, chúng ta biết, báo chí chữ quốc ngữ xuất hiện từ nửa sau thế kỷ XIX, ban đầu ở miền Nam, ở Sài Gòn, tờ “Gia Định báo” ra đời năm 1865, tiếp sau đó là các tờ báo khác. Khoảng 30-40 năm sau, từ miền Nam báo chí lan ra miền Bắc. Và Nguyễn Văn Vĩnh chính là người đưa báo chí từ Nam ra Bắc; ông lập ra trước sau đến 7 tờ báo, có báo chữ Việt, như “Đông Dương tạp chí”, “Trung Bắc tân văn”, cũng có báo chữ Pháp, như “Annam nouveau”; ông vừa là chủ báo, là nhà kinh doanh báo chí, vừa là một trong những nhà báo rất tầm cỡ, rất sung sức, rất có chủ kiến.
Với thời gian, càng ngày người ta càng nhận rõ hơn tầm mức quan trọng của sự hiện diện báo chí trong đời sống cộng đồng, đời sống dân tộc. Những năm 1950-70, một số nhà nghiên cứu thường chỉ nêu lên ý nghĩa của sự xuất hiện báo chí chữ Việt ở việc mở mang hiểu biết của người dân, bên cạnh đó nhấn mạnh lợi khí của báo chí như công cụ tuyên truyền cách mạng; cho tới gần đây, không chỉ giới chuyên gia trong nước mà cả giới chuyên gia ở các đại học nước ngoài cũng chú ý nghiên cứu cội nguồn báo chí Việt Nam, chỉ ra vai trò thực sự của báo chí là làm hình thành cái “không gian công” (public sfere) của xã hội người Việt. Tôi cho rằng sự phân tích này có cơ sở hơn so với những phân tích trước đây, nó nhấn mạnh báo chí như cái kênh cho sự vận hành, điều tiết ý thức cộng đồng.   
Cách đây không lâu, Quỹ văn hóa PCT cùng gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đã tổ chức tọa đàm nhìn nhận lại vai trò Nguyễn Văn Vĩnh liên quan đến chữ Quốc ngữ. Hôm đó có sự tham gia của nhiều thế hệ và cũng có những ý kiến khác nhau, sau đó báo chí cũng có những bình luận ở nhiều góc độ khác nhau. Hôm nay, tôi thấy cần phải nói thêm về những ý kiến nêu lại câu chuyện đã có những thứ chữ khác nhau trong quá khứ của người Việt.
Một là chữ Việt cổ, có người đã muốn hướng tới mục tiêu này; tôi thấy đây là một viễn tưởng đẹp nhưng lại chỉ thuần túy là sự tưởng tượng đẹp về quá khứ; ngoài ra, hiện chưa có đủ chứng tích để hình dung nó là một hệ chữ viết đã từng có trong đời sống. Dân tộc nào cũng có tiếng nói nhưng không phải dân tộc nào cũng có chữ viết, việc có những dân tộc đã mượn dùng chữ viết của dân tộc khác cũng không phải là điều gì đáng xấu hổ. Người Việt cổ nếu như không có chữ viết riêng không phải là điều đáng xấu hổ vì chúng ta không phải là dân tộc quá lớn để mà buộc phải tự tạo ra được mọi thứ mọi điều.
Kết quả nghiên cứu của các giới học giả khác nhau khi nói về chữ biểu ý, cụ thể là chữ Hán và những thứ chữ dựa vào chữ Hán, trong tương lai có thể có vai trò lớn hơn cả trong quá khứ, – một viễn tưởng lý thuyết như thế, cũng đã gây ra một sự tiếc rẻ: phải chi chúng ta không bỏ qua giai đoạn sử dụng chữ Hán!?
Đặc biệt còn có ý kiến cho rằng chúng ta đã không chú ý đến chữ Nôm. Trong buổi hội thảo đó, tôi có dịp trao đổi với nhiều ý kiến, đặc biệt có bạn trẻ có lẽ là lần đầu tiên tham gia và đã đặt câu hỏi: chữ Nôm hay chữ Quốc ngữ mới là thuần Việt? Tôi cho rằng không nên đặt vấn đề “thuần Việt” về văn tự, bởi thứ chữ người Việt tự chế ra cho mình thì dường như không có, trong khi cả chữ Nôm lẫn chữ Quốc ngữ đều không “thuần Việt”.
Với chữ Nôm, điều quan trọng nhất là làm thế nào biến nó trở thành công cụ dùng chung của cộng đồng, thì các thế hệ trước đã không làm được việc đó. Theo tôi, một là các tầng lớp Nho sĩ đã không làm được cái việc chuẩn hóa cho chữ Nôm dễ sử dụng một cách thống nhất, không quá nhiều dị biệt. Thứ hai, các nhà nước quân chủ Việt Nam từ thời Lý cho đến tận thời Nguyễn, nếu xét trên ý thức tự chủ về chính trị là điều chúng ta không có nhiều điều để trách cứ họ, nhưng xét trên ý thức tự chủ về văn hóa, đặc biệt trong lĩnh vực ngôn ngữ văn tự, cụ thể là trong vấn đề chữ Nôm, theo chúng tôi, là điều đáng trách, bởi các nhà nước quân chủ Việt Nam đã không cấp cho chữ Nôm cái vai trò thứ chữ chính thống; chưa bao giờ nó được cấp được cái quy chế buộc nó trở thành thứ chữ quốc gia. Thời gian trôi đi, qua thời có thể sẽ đến thời không thể; và đến thời mình, chúng ta dù có mơ để chữ Nôm thành chữ viết quốc gia cũng không thể thực hiện được nữa rồi. Việc chữ Quốc ngữ chiếm được vị trí văn tự chính thức và trở thành thứ công cụ duy nhất, trở thành văn tự toàn dân, văn tự quốc gia, không phải là điều ngẫu nhiên. Về mặt này, chẳng có gì để không tự hào cho chữ Quốc ngữ.
Về những dư âm, hồi âm của buổi hội thảo đó liên quan đến vai trò Nguyễn Văn Vĩnh và chữ Quốc ngữ, đến hôm nay, tôi xin được trao đổi lại đôi điều như vậy… Tôi chỉ xin nhắc lại rằng Nguyễn Văn Vĩnh là nhân vật mà sự nghiệp có ý nghĩa về nhiều mặt; riêng về văn hóa thì ông là một trong những nhân vật hàng đầu ở Việt Nam trong thế kỷ 20. Chúng ta biết, vào giai đoạn đó, dân Việt Nam bắt đầu bước vào thời hiện đại; cho đến ngày nay nhìn lại, chúng ta càng thấy dấu ấn của người đi trước trong giai đoạn khai sáng đó là không bao giờ phai nhạt được. 


Hà Nội, 10/6/2012
LNA.
vanvn.net


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thư của Hồ Chí Minh gửi Đại Nguyên soái I.V. Stalin - Tư liệu 20.09.2014
Thuyền Mỹ cập bến Nam Kỳ năm 1802 - Robert Hopkins Miller 19.09.2014
Trà Tân Cương Thái Nguyên - Tư liệu 18.09.2014
Nguyễn Bá Thanh - Tư liệu 10.09.2014
Đại Việt sử ký toàn thư (53) - Ngô Sĩ Liên 08.09.2014
Xã hội dân sự: Trọng tâm là hành động - ANDREW Wells-Dang 06.09.2014
Không gian xã hội dân sự ở Việt Nam đang mở rộng? - ANDREW Wells-Dang 06.09.2014
Cột cờ Lũng Cú, Hà Giang - Tư liệu 05.09.2014
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4: Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay - Tư liệu 05.09.2014
Từ Vịnh Bắc Bộ tới Hoàng Sa - Dương Danh Huy 03.09.2014
xem thêm »