Tìm kiếm

Lượt truy cập

  • Tổng truy cập49,804,596

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

     

    Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

    *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

    Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

    Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

    WELCOME TO ARITA RIVERA

    Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

    The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

    Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

    Enjoy life, enjoy Arita experience!

    http://aritarivera.com/

Lý luận phê bình văn học

2 bài viết về nhà thơ Phạm Đình Ân

Nhiều tác giả

  • Thứ tư, 08:59 Ngày 04/08/2021
  • *Nhân chuột vô đây đọc Tiểu sử văn học Phạm Đình Ân

    Thứ 2 từ trái qua: nhà thơ Phạm Đình Ân và nhà văn Triệu Xuân, thứ 2 từ phải qua, tại Đại hội 9, Hội Nhà văn Việt Nam. Ảnh chụp ngày 09-07-2015.

     

    Phạm Đình Ân với những “Chuyện kể muộn”

    Nhớ, vào năm 1973, tôi được nhà thơ Đỗ Quang Hưng dẫn đến làm quen Phạm Đình Ân tại báo Nhân Dân. Khi ấy tôi ngưỡng mộ anh qua chuyện anh đã đi xe đạp từ Hà Nội vào Vĩnh Linh, trong chuyến thâm nhập thực tế để sáng tác bài thơ Đi dọc miền Trung in trên tạp chí Tác Phẩm mới (Hội Nhà văn Việt Nam) năm 1972. Từ đó chúng tôi trở thành bạn suốt 45 năm qua…

     

    Đời người được mấy mươi năm?

             Gặp lại nhà thơ Phạm Đình Ân gần đây nhân chuyện, anh tâm sự róng riết cái 10 năm đầu tiên làm ở báo Nhân Dân, một thời gắn bó với chuyện mục thơ của ông Thợ Rèn, qua chuyện mục Chuyện lớn chuyện nhỏ. Anh bồi hồi với kỷ niệm, cũng vào thời điểm Đi dọc miền Trung của anh, thì nhà thơ Hoàng Cát bị “dính án” bởi đã viết Cây táo ông Lành (in trên báo Văn nghệ) trước đó. Hoàng Cát bỗng dưng bị họa không báo nào dám in bài của anh nữa. Gia đình Hoàng Cát sống vất vả kiếm ăn ngoài vỉa hè, với quán nước chè chén, nuôi vợ con. Thương bạn (học cùng khóa 5, viết văn trên Quảng Bá, niên khóa 1972-1973), Phạm Đình Ân đánh liều nói với Hoàng Cát đổi tên, viết bài cho chuyên mục “Thợ Rèn”, kiếm tiền thêm cho gia đình. Vậy là đến mấy năm trời, chuyện bí mật ấy được giữ kín mà ban biên tập báo không hề hay biết, vì nếu lộ ra không chừng Phạm Đình Ân mất việc như chơi. Vậy mới hay tấm lòng sẻ chia của Phạm Đình Ân đã vượt lên tất cả, bởi anh thừa biết mình sẽ bị vạ lây khi nào không hay. Chấp nhận.

     Nhà thơ Phạm Đình Ân, sinh năm 1946 tại Hà Nam, nhưng theo gia đình định cư và học tập tại Thanh Hóa. Ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp khoa Văn (1969), được chọn về báo Nhân Dân làm việc (1970). Mười năm sau, ông chuyển sang báo Văn nghệ và được đề bạt Trưởng ban Lý luận Phê bình (1997). Ông đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ văn học (2007), và về hưu năm 2010.

    Nhà thơ Phạm Đình Ân có 16 tập sách, trong đó có 4 tập thơ thiếu nhi và 5 tập thơ về tình yêu và thế sự. Nhà thơ đã được một số giải thưởng về thơ thiếu nhi và giải thưởng chùm thơ in trên báo Văn nghệ…”

    Tôi biết Phạm Đình Ân là thế. Hiền lành nhưng cũng khá táo bạo. Ngay cả trong thơ cũng vậy. Hỏi có mấy ai dám đi xe đạp trên con đường chiến tranh để làm thơ bao giờ. Đó cũng là một bản lĩnh. Có những câu thơ trong bài Đi dọc miền Trung của Phạm Đình Ân tôi nhớ mãi: Tôi thương những tấm lưng cháy nắng. Những bả vai tấy sần vì vác đạn. Đất nước đau thắt ruột ở miền Trung. Da thịt nơi nào cũng có mảnh bom găm. Một bài thơ làm sống động dư luận một thời gian, sau cuộc thi thơ của báo Văn nghệ (1968-1969). Vậy mà đường thơ của anh cũng khá lận đận. Sau 10 năm làm việc ở báo Nhân Dân, anh được chuyển sang báo Văn nghệ, biên chế vào ban văn xuôi. Năm 1980, Phạm Đình Ân đã xếp hàng tập thơ đầu tiên của mình ở Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới chờ kế hoạch in. Vậy mà mãi 10 năm sau, khi cơ chế thị trường phát triển, không còn chế độ in bao cấp như trước nữa, Phạm Đình Ân đã phải bỏ tiền ra in (1990). Lần này anh in liền hai tập Nắng xối đỉnh đầu (NXB Hội Nhà văn) và Những hoàng hôn ngẫu nhiên (NXB Phụ nữ). Vậy đó phải mất 18 năm sau, bài thơ Đi dọc miền Trung nổi tiếng mới được in vào tập thơ đầu tiên. Cho dù hơi bị muộn ở tuổi 45, nhưng phải nói tập thơ đầu tiên này, Phạm Đình Ân có những bài thơ rất độc đáo với tứ mới lạ, ngoài Đi dọc miền Trung, tôi thường đọc đi đọc lại những bài của anh như Sợi tóc, Giấc mơ, Những cái giật mình, Cơn gió, hoặc như Đồng hồ thu thảo, Một cô gái khác, Những hoàng hôn ngẫu nhiên…

    Nhưng thật bất ngờ, 10 năm sau, anh cho in lại hai tập thơ này, với lý do sách lần trước in xấu và trình bày kém, chữ mờ, giấy đen. Chính vì thế đến năm 2001, hai văn bản thơ mới của Phạm Đình Ân hiện diện với bạn đọc như một sự khẳng định thêm một lần nữa, với những chùm thơ hay về thế sự và tình yêu. Quả nhiên, sau đó dư luận sôi nổi bàn luận về hai tập thơ này. Anh được nhận mấy giải thưởng về chùm thơ hay trên báo và giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam kết hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Lại có chuyện, trong thời gian làm việc ở báo Văn nghệ, anh gắn bó với mục Dọn vườn cũng dễ đến 10 năm. Cho dù anh là trưởng ban Lý luận phê bình của báo từ năm 1997, nhưng đây là mục cũng đòi hỏi, phải đọc nhiều hiểu kỹ, mới đảm đương được. Anh tổ chức viết bài, biên tập hay dọn vườn trực tiếp, luôn thể hiện sự hóm hỉnh sinh động và hấp dẫn bạn đọc. Anh còn cho biết, mình đã nghĩ ra tới mươi chuyện mục khác nhau cho báo, chung quanh chuyện nghề và tiểu phẩm… với mục đích hấp dẫn bạn đọc. Và, nhân dịp “buôn chuyện”, Phạm Đình Ân còn cho biết anh cũng phải mất 10 năm chuẩn bị thi, học và bảo vệ luận án Tiến sĩ văn học. Hỏi vì sao lại phải mất tới 10 năm, anh nói toẹt thi trượt ngoại ngữ lần đầu chứ sao. Nói rồi anh cười, sau cũng cố “leo núi”, cho đến khi bảo vệ luận văn xuất sắc, với điểm tối ưu về đề tài Thế Lữ trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại - năm 2007. Lúc này Phạm Đình Ân đã bước sang tuổi 61. Tâm sự đến đây anh tặc lưỡi - Ôi dào! Đời người được mấy mươi năm. Muốn làm được việc gì thì cố thôi. 

     

    Bước ngoặt đường thơ

           Về hưu (2010), nhưng anh vẫn viết báo và sáng tác đều ở cả hai lĩnh vực thơ trữ tình và thơ cho các em. Nếu nói chính xác anh thường làm thơ cho lứa tuổi nhi đồng. Ngay từ thời con làm việc ở báo Nhân Dân, anh đã in chung tập thơ với hai tác giả khác, từ năm 1978. Đó là tập thơ thiếu nhi Chim khen bé ngoan (NXB Thanh Hóa). Mãi cho đến năm 1996, anh mới in tập thơ thiếu nhi riêng đầu tiên Tắc kè hoa (NXB Kim Đồng, 1996). Dường như cũng một thời gian dài anh tập trung viết cho thiếu nhi, nhưng cũng phải 10 năm sau anh mới in tập thứ hai Đất đi chơi biển (NXB Văn hóa, 2007). Sự xuất hiện của tập thơ thứ hai này của Phạm Đình Ân đã được bạn đọc hồ hởi đón nhận. Đặc biệt là hiệu ứng của tập thơ khá kỳ lạ. Có tới mấy vụ đạo thơ của bạn đọc từ tập thơ này. Đó là những bài thơ anh viết về Trường Sa. Anh vui vẻ kể riêng bài thơ Quà của bố (từng được in vào sách giáo khoa), đã bị một người chép lại gửi ra ngoài đảo, với bút danh khác hẳn. Sau đó bài thơ được đăng lên báo tường của đơn vị. Trong một chuyến đi ra đảo, có nhà báo đã chép lại đưa về in trên báo mình. Khi ấy mọi người mới xôn xao về một vụ đạo thơ. Bởi nhiều người đã từng thuộc bài thơ này của Phạm Đình Ân. Biết vậy, nhà thơ Phạm Đình Ân chỉ im lặng cười, không lấy đó làm phiền lòng hay đi thưa kiện, hoặc đòi hỏi trả lại cho mình quyền lợi gì. Trong lòng anh chỉ có một niềm vui rằng, thơ hay đến với bạn đọc là quý lắm rồi, chẳng cần phải rạch ròi làm gì. Thêm một vết gợn cho bạn đọc cũng đem sự phiền muộn mà thôi.

    Và, đặc biệt chỉ 7 năm sau, anh được in liền hai tập thơ, một cho thiếu nhi: Cao nguyên đá (NXB Kim Đồng, 2014); và một cho mảng thế sự: Vòng quay (NXB Hội Nhà Văn, 2014). Nếu ở tập Cao nguyên đá làm nức lòng bạn đọc, qua số lượng in lớn 31.000 bản, thì tập thơ thế sự Vòng quay lại gây dư luận khá sôi nổi, với các thi phẩm như Chuyện kể muộn, Đầu năm mua muối, Lạc nhà, hay Vòng quay, Mặt mình, Phóng sinh… Bỗng dưng tôi chợt nhớ đến bài thơ Chuyện kể muộn, và lại suy nghĩ đến sự liên hệ với tính cách của Phạm Đình Ân. Mọi sự đến với mình luôn luôn thiệt thòi hay tai họa nhưng thi nhân vẫn lặng im trầm tĩnh. Khi đọc đến câu thơ Năm. Đến lượt xét lương đợt muộn. Lại bị giật giành. Anh không nói, tôi nhớ ngay đến chuyện có thật, Phạm Đình Ân đã từng bị nhỡ đợt xét lương (5 năm một lần), chỉ vì có ý kiến của một đồng chí nào đó trong chi bộ. Vậy là phải đợi một lần 5 năm nữa. Lại một lần 10 năm chờ đợi. Có lẽ đó là tính cách của Phạm Đình Ân. Nhường nhịn và im lặng. Anh luôn luôn ngơ ngác và lo ngại mọi thứ. Tuy thường rụt rè thận trọng, nhưng Phạm Đình Ân lại luôn nhẫn nại tìm con đường đi riêng của mình trong thơ, với những khám phá sáng tạo mới.

            Đến Vòng Quay thơ anh đã khác hẳn với một nhịp 10 năm trước. Không còn “Những cái giật mình” thuở nào, mà nhân tình thế thái được chia sẻ sâu nặng hơn. Và, giờ đây người đọc đã phải “giật mình” vì sự chuyển động mới trong thơ anh. Đó là màu sắc ảo diệu, gây ấn tượng bất ngờ, với những tứ thơ lạ. Đâu đó ta lại gặp “Thắt buộc vào nhân thế. Muôn mặt đời dại khôn. Còn cái còn mà mất. Mất cái mất lại còn” (Người trong ảnh), hoặc “Rắc muối vào vô cảm. Rắc muối vào vô can. Xót tan lòng muối xát. Hạt đổ vào vết thương” (Đầu năm mua muối); và đây nữa “Dại gì làm kiếp người. Sống làm người khó quá” (Phóng sinh); Tâm hồn thi sĩ không còn chỉ là mơ mộng bay bổng mà khắc khoải với nỗi niềm nhân sinh: “Bồn chồn đi trong nhà như một kẻ mượn chân. Tin thời sự như cơm bữa. Khi thấy tên gây sự trên màn hình thì không thể nuốt được.” (Trời trở gió); Lại có khi tác giả diễu cợt sự giả dối: “Đi cắt tóc, nhuộm tóc. Đành soi gương. Ô kìa! Ai cắm mặt ai và hồn xác ta” (Mặt mình). Những câu thơ nóng hổi thế sự và tâm can, mang tính phản biện cao, xuất hiện trong thơ anh mỗi lúc một nhiều. Đó còn là hình ảnh bàng quan của người đời trước mọi sự biến cố quanh mình trong bài thơ Một chút thời sự. Mọi người khi nghe xóm bên kêu cứu: “Cháy! Cháy! Cháy! …gần xa tiếng la hét”. Nhưng ngược lại, đối diện với nó là sự bình thản của con người. Nhà thơ đã viết: “Bà già giúp việc ra cổng ngó. Yên tĩnh. Ba người con đang bật máy vi tính. Bố và mẹ nằm phòng riêng. Ti vi bị bỏ quên. Đang phát chương trình thời sự. Hỏa hoạn được dập tắt. Yên tĩnh”. Ngay cả những bước chân vòng quanh hồ của mọi người, với sự vô cảm, bàng quan và xa cách. Nhà thơ cũng xao xác trong tâm hồn, khi viết: “Lại giáp mặt. Chỉ tấc gang. Mà hụt tầm không níu kéo được. Nhanh nhanh bước tới. Bước qua chầm chậm. Gặp nhau. Không gặp. Trong vòng quay bất tận quanh hồ” (Vòng quay).

    Cùng với mạch thơ trên, người đọc thật sự rung động khi đọc những câu thơ trong bài Lạc nhà. Ở đó là sự chất vấn lương tâm của nhà thơ, đòi sự thân thiện yêu thương trở về, cùng với sự sẻ chia trong cộng đồng. Chỉ là hình ảnh của con chó bị lạc nhà, quên đường về: “Cuống cuồng chạy. Tan vào đêm đen. Lao sâu vào thất vọng. Trời ơi, nhà ta đâu?”. Chi tiết ám ảnh lòng người trong loang loáng ánh đèn, ồn ào phố xá, khi mà: “Đêm đêm lạnh. Một con chó nhỏ màu trắng lạc nhà. Hốt hoảng chạy.”. Nhà thơ luôn vọng tới những nỗi đau cần chia sẻ và một tấm lòng: “Sau chao đảo phận người. Mắc cạn tôi con thuyền chưa cập bến” (Mắc cạn). Càng đọc thơ Phạm Đình Ân tôi càng xúc động bởi hình ảnh: “Tôi đứng lại một mình. Khóc thầm trong hoàng hôn” (Lũ mối). Người đọc yêu thơ anh, ở sự phản biện sắc nét trong mỗi hình ảnh, cùng sự biến động nỗi đời nhân thế.  

     

    Những niềm vui màu hồng

    Tôi thêm một lần ngạc nhiên vì bản tính chất phác và tinh tế của nhà thơ Phạm Đình Ân; khi anh bất chợt đưa cho tôi xem bộ sưu tập, gồm hàng trăm ảnh chân dung các nhà văn nhà thơ, được lưu giữ hơn 40 năm qua. Tôi bồi hồi ngắm lại những chân dung người thầy và các anh chị, mà tôi đã từng tiếp xúc như nhà văn Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Đình Thi, Phạm Hổ, Xuân Quỳnh, Bằng Việt… Còn nữa, bên cạnh đó là những bút tích của những nhà văn đã quá cố nổi tiếng, mà nhà thơ Phạm Đình Ân đã gìn giữ, thông qua công việc và giao lưu bài vở. Đây là những tư liệu quý không mấy ai có. Nhưng vẫn chưa hết, tôi thực sự thú vị và thán phục nhà thơ, khi anh còn trong tay mấy chồng thiếp mời đám cưới của bạn bè, bà con và đồng nghiệp. Không chỉ những thiếp anh được mời mà còn của những người khác mà anh đã cất công sưu tập được. Tất cả đều mầu đỏ hồng tạo nên sự ấm áp của tình thân mỗi khi giở ra xem. Biết bao kỷ niệm ùa về với nhà thơ.

    Tôi đoan chắc từ đây có những tứ thơ ra đời. Bởi lẽ đó là tấm lòng nặng trĩu tình cảm trong anh. Có lẽ thế chăng, tôi chợt nhớ đến bài thơ Sợi tóc của anh. Hình ảnh một kỷ vật “sợi tóc” được nhà thơ sáng tạo: “Em đã tặng tôi sợi tóc của em. Rồi ngày tháng vèo trôi, em không nhớ nữa”. Sau nửa thế kỷ, chàng trai năm xưa tìm về đã tặng lại người yêu, khi tóc đã bạc trắng. Thơ viết: “Năm mươi năm sau. Khi tìm được về chốn cũ. Tôi gặp một bà già tóc bạc. Bà chẳng biết tôi. Tôi tặng bà sợi tóc. Bà khóc. Sợi tóc vẫn còn đen”. Một tứ thơ hay và độc đáo. Với những thiếp hồng cũng vậy. Tôi ước đến một ngày nào đó, mọi ký ức tươi sáng tràn về, và những thi phẩm mới của Phạm Đình Ân sẽ đến với bạn đọc, như một tri ân đẹp mà mọi người vẫn chờ đợi từ thơ anh.

    Vương Tâm

    Nguồn Văn nghệ số 38/2018

    Với nghệ thuật viết cho thiếu nhi

    Đọc tuyển thơ - văn Thềm trăng trải chiếu của Phạm Đình Ân, NXB Hội Nhà văn, 2020

    Không chỉ viết riêng cho thiếu nhi, nhưng Phạm Đình Ân vẫn là tác giả khắc ghi dấu ấn đối với độc giả nhỏ tuổi cùng phụ huynh các thế hệ. Anh in sách báo thường xuyên và có bài trong nhiều tuyển tập.

    Qua mấy lần thay sách giáo khoa từ năm 1982 đến hiện tại, học sinh tiểu học biết đến ba bài thơ Tắc kè hoa, Sắc màu em yêu, Quà của bố và hai bài văn Sao Chổi, Cây chuối mẹ. Năm học 2020-2021, anh tiếp tục có bài ở các bộ sách giáo khoa mới.

    Thềm trăng trải chiếu (368 trang) là cuốn tuyển chọn thơ - văn của Phạm Đình Ân viết cho trẻ em (trẻ em, chữ dùng của tác giả) trong khoảng bốn mươi lăm năm (1975-2020). Sau bài Thay lời giới thiệu của nhà văn Phong Thu, sách được bố cục làm 3 phần. Hai phần chính là Thơ và Văn. Phần Phụ lục là một số bài về dư luận hưởng ứng. Phần thơ có 186 bài, trong đó có 59 bài là thơ chưa in tập. Tại phần Văn, bên cạnh 29 truyện nói về đời sống hằng ngày là 11 chuyện kể về tục ngữ, ca dao.

    Sách thơ dùng để tuyển chọn, đáng chú ý nhất là hai tập Tắc kè hoa và Đất đi chơi biển. Phong Thu cho rằng Tắc kè hoa là “khu vườn nhỏ tươi đẹp”; Phạm Đức đánh giá đó là “tập thơ có chất lượng cao”; Phan Văn Tường nhận xét: “nếu ta thong thả, yên lặng cùng tác giả chăm chú lắng nghe và quan sát thì sẽ nghe ngân lên nhịp đập hồn hậu của trái tim anh với cuộc đời, với trẻ thơ”. Tập Đất đi chơi biển có nhiều hồi âm hơn. Đặng Trường Lưu nhấn mạnh “một lối viết mới”; Đào Thản cho rằng “tập thơ giàu sức cảm nghĩ và thể hiện”; Anh Vũ khẳng định “tập thơ có những khai phá”; Phạm Hồ Thu xem đó là “cách viết sáng tạo”; Chu Thị Thơm nhận định: tác giả đã “hóa thân linh hoạt vào thế giới trẻ thơ”. Chùm thơ viết về Trường Sa được nhiều bạn đọc hưởng ứng (những ý kiến nêu trên có ở phần phụ lục).

    Đối với Phạm Đình Ân, xét về cá nhân và đặt trong bối cảnh văn học viết cho thiếu nhi, có thể thấy anh có đổi mới về nội dung và cách tiếp cận đời sống. Đó là: Giảm đồng thoại để tăng hiện thực; Hướng dẫn kỹ năng sống cho trẻ em; Mở rộng biên độ sáng tạo.

     

    Giảm đồng thoại, tăng hiện thực

    Đồng thoại là một hướng viết cho trẻ em rất quen thuộc và có hiệu quả, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước khác. Nói cho dễ hiểu, đồng thoại là dùng thiên nhiên, đồ vật để thay con người, nói về con người. Đồng thoại là một phần chủ yếu của thi pháp truyền thống viết cho trẻ em. Tuy nhiên, cũng khá nhiều tác giả viết theo thi pháp hiện thực (khái niệm đồng thoại và hiện thực, nói đầy đủ phải là: hiện thực đồng thoại và hiện thực con người)

    Ngay từ buổi đầu sáng tác, Phạm Đình Ân đã nghiêng hẳn về hiện thực. Trong Thềm trăng trải chiếu, số bài về hiện thực choán đến chín mươi phần trăm. Nhiều bài đồng thoại thì chỉ đồng thoại một nửa. Xin dẫn chứng đồng thoại hoàn toàn, bài Năm anh em (trích): Bàn nhận chỗ đứng giữa/ Bốn ghế ngồi bốn bên/ Bàn là người anh cả/ Bốn ghế là bốn em. Đồng thoại một nửa, thí dụ bài Trăng của bé (trích): Bé đi, trăng đi cùng/ Bé đứng trăng đứng ngó/ Bé chạy, trăng chạy thi/ Bé ngồi, trăng ngồi đó. Những bài thơ hoàn toàn hoặc một nửa đồng thoại của Phạm Đình Ân không nhiều nhưng vẫn đủ để cho thấy lối viết truyền thống không xa lạ gì đối với anh và anh vẫn có những bài thơ, bài văn đạt hiệu quả nghệ thuật cao (Năm anh em, Trăng của bé, Có kẻ lách vào vườn, Sao Hôm sao Mai, Ngắm cây hỏi quả, Suối và Đường, Rừng và Núi, Chuồn chuồn kim, v.v.) Nhưng “tạng” của tác giả này thuận hơn về hiện thực, anh cố ý đi về hướng này và được độc giả ghi nhận. Phạm Đình Ân có nhiều bài hay về hiện thực. Chẳng hạn, bài Giấu cô trong tủ. Chú đến nhà chơi, hỏi cô từ ngoài ngõ. Cháu vội giấu cô vào tủ áo, nói đùa chú rằng cô đi vắng. Chú biết sự thật, giả vờ buồn. Cháu thương chú, vội mở tủ để cô ra. Tình huống vui đùa dí dỏm, ý vị mà chan chứa nỗi niềm yêu thương, san sẻ. Phạm Đình Ân không muốn viết nhiều về đồng thoại, có thể anh tránh bị hòa lẫn vào sự lặp lại nhàm chán của những hình ảnh chim thú, gia súc, cây lá, đồ vật… Anh muốn sống cùng trẻ em trong đời thật, vui với các em và khuyên dạy chúng một cách nhẹ nhàng, khéo léo về tình yêu gia đình, bạn bè, cộng đồng, Tổ quốc, nỗi niềm san sẻ nhân ái…, giúp trẻ thơ hoàn thiện nhân cách. Anh từng tâm sự rằng viết đồng thoại thì không khó lắm đối với tác giả đã thạo nghề, nhưng cái hay của đồng thoại lại dễ bị thời gian bào mòn nếu lạm dụng nhân hóa, thiếu sáng tạo. Viết hiện thực lại là thử thách đối với bất kỳ ai, nhưng đã hay thì chắc chắn tác phẩm sẽ khắc sâu lâu dài vào tâm khảm người đọc.

     

    Hướng dẫn kỹ năng sống cho trẻ em

    Tăng hiện thực, giảm đồng thoại hóa ra như một định hướng - cố ý hoặc vô thức - có sẵn trong tiến trình bốn mươi lăm năm sáng tạo của Phạm Đình Ân, khiến thơ anh ở cuối chặng đường rẽ sang hướng dẫn kỹ năng sống, có nhiều đóng góp. Thơ loại này anh đã có từ thuở đầu khi tác giả chưa có ý thức rõ ràng. Từ năm 1978, anh đã có bài nói đến em bé được bà tặng cam, em tặng lại mọi người mà quên phần của mình. Khoảng năm 2010, do đời sống xã hội đặt ra vấn đề kỹ năng sống, anh mới có ý thức về nó và viết dồn dập. Tác giả đưa ngay 39 bài vào phần Thơ chưa vào tập của Thềm trăng trải chiếu. Thơ kỹ năng sống của anh chính là thơ hiện thực. Đối với Phạm Đình Ân, hướng viết này dễ dàng thể hiện ý nghĩa kỹ năng sống hơn đồng thoại, vì nó nói trực tiếp về đời sống con người, không qua biện pháp nhân hóa. Mới nghe qua, người ta có thể nghĩ kỹ năng sống thì chỉ thuần khuyên răn, dạy dỗ khô khan, nhiều lý ít tình. Thật ra, không hẳn thế. Chất lượng sáng tác không liên quan đến đề tài mà phụ thuộc vào tài năng. Chất trữ tình trong thơ Phạm Đình Ân ở phần này vẫn đậm đà. Mọi bài thơ kỹ năng sống đều gửi đến bạn đọc niềm rung cảm, chúng có giá trị thẩm mỹ nhất định. Trẻ em đọc hẳn là thấm vào chứ không truội ra. Thí dụ bài Một cảnh sang đường:

    Đèn đỏ bật lên, xe dừng lại

    Ông dắt cháu sang đường.

    Không phải đâu

    Cháu dìu ông nữa đấy.

    Thế rồi

    trẻ và già đi tiếp

    Bỡ ngỡ hỏi chào

    Mỗi người một nẻo

    Biết đến bao giờ gặp lại lần sau…

    Hoặc bài Bạn cõng, thầy cõng cũng rất xúc động: Thào cõng Thèn đến lớp/ Ba năm rồi ít đâu/ Thương Thào đang bị sốt/ Đành vậy, đừng ốm lâu// Thầy giáo đến hỏi thăm/Gắng cõng em đi học/ Chim hót và suối reo/ Qua cầu treo, đèo dốc// Thương và nể thầy quá/ Biết cảm ơn sao đây/ Nước mắt dọc đường rỏ/ Thầy ơi, ướt áo thầy.

    Cũng từ thơ hiện thực mà nhiều độc giả chú ý đến vẻ đẹp thuần hậu, trực tiếp của quê hương nông thôn mang sắc thái cổ truyền trong thơ Phạm Đình Ân. Anh cùng trẻ em đến với cây đa, giếng nước, cỏ may, nắng sớm, trăng sao quê nhà, các con vật trâu - bò, tắc kè, cuốc, liếu điếu… Ở nhà thì con đón mẹ về chợ (giúp mẹ một tay/ bé cầm cái nón), cháu giúp bà giã trầu (bà ăn bỏm bẻm, môi bà đỏ tươi), nhường bà bắp ngô thơm mềm (bà chỉ còn răng cửa/ ăn bắp non ngậm sữa), v.v; ra ngoài thì đi hái nấm (bé theo chị ra đồi/ hái sao nấm đầy giỏ), đi tìm hoa mua mà chẳng phải mua, đi hái sim đu cành trĩu nặng, v.v. Phạm Đình Ân đã trải những tháng năm tuổi thơ tươi xanh ở miền trung du Thanh Hóa, những năm đầu tuổi thanh niên lại lên Việt Bắc (nơi anh cư trú thời sinh viên, có một phần miền núi) bởi thế nhiều bài thơ và văn của anh mang sắc thái đặc thù địa lý. Hồn quê, hồn dân tộc thấm đẫm hầu hết các bài thơ của anh.

    Mở rộng biên độ sáng tạo

    Trước đây, Phạm Đình Ân chỉ làm thơ, mới đây anh còn viết truyện, kể chuyện bằng văn xuôi. Đối với Phạm Đình Ân thơ và văn không tách rời mà giao thoa, chuyển hóa thể loại. Thơ và văn, hoán đổi cùng một tứ, một ý, tạo nên hiệu quả nghệ thuật mới. Những bài thơ Bức tranh, Để dành thôi, Xe chở rác, Quạt cho quạt, Ngắm cây hỏi quả, Đôi bạn… soi hình bóng mình vào các trang văn xuôi tương ứng. Sự chuyển đổi thể loại từ một nội dung hiện thực khiến các em nhỏ thay đổi cách cảm nhận, hoặc đáp ứng nhu cầu hưởng thụ thể loại đối với từng độc giả riêng biệt. Em này thích thơ, em kia thích văn là lẽ thường.

    Ở phần Văn, tác giả đưa bạn đọc nhỏ tuổi đến với văn học dân gian, giúp các em trau dồi tiếng Việt và hiểu thêm về cái đẹp của đời sống muôn màu. Văn xuôi viết cho trẻ em của Phạm Đình Ân giàu chất trữ tình thơ ca.

    Về đơn vị tác phẩm, bài thơ có thể là câu chuyện nhỏ, dí dỏm, diễn đạt linh hoạt, bất ngờ (Giấu cô trong tủ, Răng chạm vào răng), giúp trẻ nhỏ liên tưởng đến hình ảnh ẩn dụ (Đua thuyền, Quà của bố, Đất đi chơi biển). Thơ đố cùng nhiều bài khác giúp trẻ em tham gia hoạt động đối thoại tương tác, mở mang tri thức, loại bỏ cách đọc “ăn sẵn”, lười suy nghĩ. Kiểu loại thơ đa dạng: thơ 2 chữ, 3 chữ, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ; thơ 4 câu, 4 câu nối dài… Thơ lục bát khá nhiều (tập trung ở thơ đố), trong khi thơ viết cho trẻ em trên sách báo hiện nay hơi ít thể thơ này. Lục bát có nhiều ưu điểm khi tác giả muốn bồi dưỡng tâm hồn thiếu niên, trẻ em gái, trau dồi tiếng Việt. Thơ lục bát của Phạm Đình Ân uyển chuyển, giàu hình ảnh, nhiều ẩn dụ, gợi nhiều đến thành ngữ, tục ngữ, ca dao.

    Yếu tố hiện đại viết cho thiếu nhi thể hiện tập trung ở tập thơ Trong người có lá. Tác giả tiếp cận sự vật, hiện tượng cũ bằng cách nhìn mới và thể hiện giọng thơ mới (Thời gian, Trời cao cao, Sông và biển, Gia súc tinh khôn, Chuồn chuồn kim, Lửa và nước, Thang máy và thang tre, Hai chân, Trong người có lá).

    Trong Lời giới thiệu, nhà văn Phong Thu nhận xét: “Rất kỹ lưỡng, cẩn trọng, chính xác, thân thiết với trẻ em (…) Phạm Đình Ân tránh sa đà vào lối mòn khi viết về thiên nhiên… Anh cũng viết rất thoát, khá tinh tế, dí dỏm và sâu sắc về gia đình…”. Ý kiến ấy thỏa đáng. Nếu cần đầy đủ hơn thì xin nêu thêm: thơ đố, thơ hướng dẫn kỹ năng sống, cảm hứng níu giữ hồn quê dân gian truyền thống, ý thức thẩm mỹ nâng niu quý trọng tiếng Việt và cuối cùng là yếu tố hiện đại mới xuất hiện cũng là những ưu điểm cần được ghi nhận trong thơ Phạm Đình Ân.

     Vân Thanh

    Nguồn Văn nghệ số 40 ngày 06/10/2020

    Tìm kiếm

    Lượt truy cập

    • Tổng truy cập49,804,596

    Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

       

      Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

      *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

    Arita Rivera Đà Nẵng Hotel: Sông Hàn một bên, bãi biển Mỹ Khê một bên! Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      ​Khung cảnh vô cùng thơ mộng, lãng mạn. Tiện nghi hoàn hảo, hiện đại.

      Chủ khách sạn là cặp vợ chồng: Triệu Thế Hiệp - Giám đốc điều hành Công ty Đông Tây Promotion, chuyên sản xuất các chương trình Truyền hình cho VTV & HTV- và Phạm Thành Hiền Thục - Tiến sỹ Đại học Queensland Australia, đang sống & làm việc tại Australia.

      Chỉ có thể là ARITA RIVERA: Vẻ đẹp Hoàn hảo!

      WELCOME TO ARITA RIVERA

      Located near the romantic Han River, with an architectural style heavily inspired by French architecture, Arita Rivera is truly one of the classy boutique hotels in this beautiful coastal city. With unique architecture, using the balcony as a highlight for airy space, all rooms are modern, comfortable, with free Wifi, 24/7 room service and complimentary afternoon tea, etc. to be suitable for visitors to the resort. This is a paradise for couples who want to experience romantic vacations, and a place for all those who enjoy taking photos to experience when coming to Da Nang.

      The Arita Bar - Restaurant on the 11th floor is open 24/7. This is where you can enjoy fine Asian and European cuisine from professional chefs, enjoy unique cocktails and view the city from the brightly-colored banks of the Han River.

      Visitors can relax at the swimming pool at the top of the building or the Arita Spa on the 2nd floor of the hotel.

      Enjoy life, enjoy Arita experience!

      http://aritarivera.com/