tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31374772
Thông tin tác giả
William Faulkner
 

(25/9/1897 - 6/7/1962)


Giải Nobel Văn học 1949


Nhà văn Mỹ


Nơi sinh: Oxford (Missisippi, Mỹ)


Nơi mất: Oxford (Missisippi, Mỹ)


Là con cả trong một gia đình danh giá sa sút. Thời niên thiếu học hành chật vật, năm 17 tuổi bỏ học vào làm việc trong ngân hàng của ông nội. Năm 13 tuổi nhà văn tương lai đã viết thơ tặng một cô bạn gái, nhưng phải chịu thất tình vì nhà nghèo, không có tiền. Năm 1918 W. Faulkner muốn tình nguyện vào quân đội nhưng không được nhận vì vóc người quá nhỏ bé. Về sau ông ghi tên vào học viện không quân ở Toronto, Canada.


Mấy tháng sau khi Thế chiến I kết thúc, W. Faulkner vào học ban ngôn ngữ châu Âu tại trường Đại học Tổng hợp Oxford (bang Missisippi); một năm sau ông bỏ học. Sau những thử nghiệm đầu tiên để trở thành nhà soạn kịch, năm 1920 ông hoàn thành vở Những con rối. W.


Faulkner làm người bán hàng trong một hiệu sách ở New York trước khi trở thành nhân viên bưu cục tại trường đại học cũ của mình, nhưng rồi bị đuổi việc vì ham đọc sách trong giờ làm. Năm 1929, Sartoris - cuốn đầu tiên trong số 15 tiểu thuyết viết về miền đất tưởng tượng Yoknapatawpha - bước đầu mang lại danh tiếng cho ông. Âm thanh và cuồng nộ (1929) là tác phẩm rất thành công của W. Faulkner. Trong thời gian này người phụ nữ mà ông yêu từ thuở nhỏ đã li dị chồng, hai người cưới nhau và có hai con.


Mưu sinh là một vấn đề khốn khó của W. Faulkner. Tác phẩm Âm thanh và cuồng nộ của ông được giới phê bình đánh giá cao, thậm chí được đồng thanh gọi là “cuốn sách vĩ đại”, nhưng rất khó bán. Để kiếm tiền, trong vòng 3 tuần lễ W. Faulkner viết xong Thánh đường (1931) kể chuyện cô gái trẻ bị một tên cướp cưỡng hiếp, sau phải vào nhà chứa. Cuốn sách quả thực đã trở thành best-seller!


W. Faulkner còn viết nhiều kịch và truyện ngắn. Nhiều tác phẩm của ông được dịch ra tiếng Pháp và được giới văn chương châu Âu đánh giá rất cao (Faulkner là Chúa trời! - J.P Sartre nói). Năm 1949 ông được trao giải Nobel.


Không lâu sau khi cuốn tiểu thuyết cuối cùng Quân kẻ cướp (1962) ra đời, W. Faulkner bị ngã ngựa trong một chuyến đi chơi. Ba tuần sau ông qua đời vì nhồi máu cơ tim ở tuổi 64.


Vinh quang của W. Faulkner tiếp tục tỏa sáng sau khi ông mất, sách của ông, đặc biệt là Âm thanh và cuồng nộ, được dịch ra nhiều thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt.


* Tác phẩm:


- Giấc mơ ngày của thần điền dã (L’Après - midi d'un faun, 1919), bài thơ đầu tiên đơợc in.


- Những con rối (The marionettes, 1920), kịch.


- Thần điền dã cẩm thạch (The marble faun, 1924), thơ.


- Công lính (Soldier's pay, 1926), tiểu thuyết.


- Muỗi (Mosquitoes, 1927), tiểu thuyết.


- Âm thanh và cuồng nộ (The sound and the fury, 1929), tiểu thuyết.


- Sartoris (1929), tiểu thuyết.


- Khi tôi lâm chung (As I lay dying, 1930), tiểu thuyết.


- Bất khuất (The unvanquished, 1930), tiểu thuyết.


- Thánh đường (Sanctuary, 1931), tiểu thuyết.


- Những số mười ba này (These thirteen, 1931).


- Ánh sáng tháng Tám (Light in August, 1931), tiểu thuyết.


- Pilon (1934), truyện.


- Absalom, Absalom! (1936), tiểu thuyết.


- Đường tới vinh quang (The road to glory, 1936), kịch.


- Gunga Din (1939), kịch.


- Những cây cọ hoang (The wild palms, 1939), tiểu thuyết.


- Hãy xuống đi, Moses (Go down, Moses, 1942), tiểu thuyết.


- Có và không có (To have and have not, 1945), kịch.


- Giấc mơ vĩnh cửu (The big sleep, 1946), kịch.


- Kẻ xâm nhập ám muội (Intruder in the dust, 1948), tiểu thuyết.


- Lễ cầu hồn cho một nữ tu (Requiem for a nun, 1951), tiểu thuyết.


- Một truyện ngụ ngôn (A fable, 1954), tiểu thuyết.


- Thị trấn (The town, 1957), tiểu thuyết.


- Ngôi biệt thự (The mansion, 1959), tiểu thuyết.


- Quân kẻ cướp (The reivers, 1962), tiểu thuyết.


* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:


- Âm thanh và cuồng nộ (tiểu thuyết), Phan Đan - Phan Linh Lan dịch, NXB Hội Nhà Văn, 1992.


- Ghen tuông, Văn Tâm dịch, in trong Những truyện ngắn nổi tiếng thế giới, NXB Hội Nhà Văn, 1999.


- Lão Uos, Nguyễn Tuấn Khanh dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt giải Nobel, NXB Văn Học, 1999; Truyện ngắn châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000.


- Mặt trời chiều hôm ấy, Đào Thu Hằng dịch, in trong Truyện ngắn châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000.


- Bông hồng cho Emily, Hoàng Hữu Phê dịch, in trong Truyện ngắn thế giới chọn lọc (tập 1), NXB Tác Phẩm Mới, 1985; Truyện ngắn châu Mỹ, NXB Văn Học, 2000; Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, NXB Văn Học, 2004.

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
03.02.2012
William Faulkner, nhà văn Mỹ, Nobel Văn học 1949 (Tư liệu sáng tác)