tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31262325
Thông tin tác giả
EURIPIDE
 

(480-406 tr.CN)


Euripide xuất thân trong một gia đình quý tộc, học rộng tài cao, có giao thiệp với những nhà triết học danh tiếng đương thời như Socrate, Anaxagoras (vừa là bạn vừa là thầy của Euripide va Périclès), hoặc Protagoras nhà ngụy biện nổi danh: ông có chịu ảnh hưởng của họ ít nhiều nhưng không theo trường phái ai cả.


Tác phẩm đầu tiên của Euripide được biểu diễn những năm 455 trước công nguyên, một năm sau khi Eschyle mất. Từ đó cho đến lúc qua đời, ông đã sáng tác 92 vở, nhưng trong cuộc đời thì phần lớn là thất bại, chỉ trúng giải nhất được 4 hoặc 5 năm. Bi kịch của ông có mặt không giống với bi kịch của Eschyle và Sophocle; có lẽ vì thế mà công chúng chưa quen thưởng thức, chưa đánh giá cao chăng?


Nửa không vui vì gặp nhiều thất bại trong nghệ thuật, nửa buồn vì cuộc sống riêng tư chắc có những éo le, ông đã rời Athènes sang xứ Magnesie, tới ở cung vua Macédoine là Archélaos vào năm 480 trước công nguyên và hai năm sau thì qua đời tại kinh thành Pella.


Cứ cái tên mà người ta khoác cho ông – “kẻ ghét đàn bà” – ta cũng có thể đoán được Euripide chắc chắn nhiều lần đau khổ trong tình yêu, tới một lúc nào đó, đối  với phụ nữ ông đâm ra mất lòng tin tưởng. Câu nói chua chát ông đặt vào miệng Mêdée có thể là một bằng chứng về sự việc này: “thiên nhiên đã tạo ra đàn bà chúng ta làm điều thiện thì hoàn toàn bất lực mà làm điều ác thì chúng ta là những người thợ lành nghề”. Nửa do bản tính con người, nửa do hoàn cảnh tác động, tính tình ông luôn sầu bi cau có, thích sự yên tĩnh cô đơn. Điều rất đáng chú ý là trọn cuộc đời ông không hề tham gia và nhận một chức vụ nào dù nhỏ trong bộ máy Nhà nước, không có chân trong Hội đồng năm trăm như Socrate, không làm tướng cầm quân như Sophocle đã từng làm. Thái độ sống của một nhà thơ uyên thâm, thức giả, phản ánh một tình trạng xã hội vừa rất phồn vinh nhưng đang suy sụp dần về lòng tin do cuộc chiến tranh Péloponèse hao tiền tốn của kéo dài suốt ngót ba mươi năm để rồi kết thúc bằng sự thật của Athènes.


Đọc tác phẩm “Những người Acharne” của Aristophane (425 trước công nguyên), ta có thể thấy được nỗi khổ của người dân lao động bao gồm cả nô lệ, nông dân, thợ thủ công, sự phản ứng của nhiều tầng lớp nhân dân đối với chính sách hiếu chiến của nhóm thiểu số cầm quyền.


Sau khi ông mất, phần vì những câu chuyện thù oán, ganh tị đã tiêu tan, phần vì nhận thức của công chúng đã chuyển biến theo chiều tiến bộ, người ta bắt đầu hiểu quan điểm triết lý về nghệ thuật của nhà thơ, người ta trở lại tôn sùng nhà thơ, hơn cả Eschyle và Sophocle. Euripide trở thành “lãnh tụ của một trường phái”. Người ta học tập bắt chước Euripide cả đến những phần nhược điểm của ông.


Euripide chỉ kém Sophocle có mười lăm tuổi. Vậy mà ông đại diện cho một xu hướng tư tưởng đã có nhiều khác biệt với tư tưởng của Sophocle. Tuy không là đồ đệ một phái triết học nào, ông cũng như nhiều người đương thời đã có một thái độ hoài nghi, chế diễu đối với thứ tôn giáo quá mộc mạc của cha ông. Ông không ưa những thần thoại hoang đường và tập quán buộc các nhà thơ phải sử dụng làm đề tài sáng tác. Thần linh trước con mắt ông chỉ là những câu chuyện phiếm, bịa đặt, những cái tên suông không mang một nội dung gì. Tuy nhiên, cái mà ông chống lại là những mê tín dị đoan thô kệch của quần chúng, chứ không phản đối lòng tin ở Thượng đế cao siêu. Trái lại ông là một nhà tư tưởng lớn suy nghĩ sâu xa về những vấn đề quan trọng của nhân sinh và đã viết một số vở kịch luận đề trong đó tiếng nói của ông trực tiếp vang lên quá rõ.


Số vở còn lại của một mình Euripide nhiều hơn tổng số còn lại của cả Sophocle và Eschyle. Những vở đó có thể sắp xếp lại theo tính chất và chủ đề của nó như sau:


1- Hai tác phẩm có giá trị lớn và rất xúc động, ALKESTIS (Alceste) và MÉDÉE rất rùng rợn, không thuộc nhóm chủ đề riêng nào.


2- Năm tác phẩm lấy đề tài ở cuộc chiến tranh thành Troies và Những ngày về: NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ THÀNH TROIE; HÉCUBE. Kết cấu không được chặt chẽ nhưng có những lớp xúc động và hay. ANDROMAQUE, rời rạc. HÉLÈNE, bi hài kịch hoang đường. CYCLOPE, kịch châm biếm satire.


3- Năm tác phẩm lấy đề tài ở truyền thuyết Agamemnon: ÉLECTRA; ORESTE, không hay lắm; IPHIGÉNIE Ở AULIS, kiệt tác cùng với MÉDÉE; IPHIGÉNIE Ở TAURIDE cũng không kém tác phẩm trước bao nhiêu.


4- Ba tác phẩm về truyền thuyết thành Thèbes: NHỮNG NÀNG BACCHANTES, bi kịch tôn giáo, một trong những vở hay; NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ PHÊNICIE, không đều và lúng túng; HÉRACLÈS GIẬN DỮ, một trong những vở kém nhất.


Bốn tác phẩm lấy đề tài ở truyền thuyết Attique: NHỮNG NGƯỜI CON GÁI CỦA HÊRACLÈS; NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ CẦU XIN. Hai vở này mang tính chất hùng biện lạnh lùng kém hấp dẫn. HIPPOLYTE, một trong những kiệt tác của Euripide;  ION, không hay, nhiều chất hoang đường, nhưng duyên dáng.


Xét về hình thức cũng như nội dung, bi kịch Euripide đã có những điểm khác biệt với bi kịch Eschyle và Sophocle, khác biệt chứ không phải là tiến bộ, bởi vì cả về hình thức cũng như nội dung Sophocle đã đạt mức độ hoàn chỉnh rồi. Euripide dường như không coi trọng lắm phần mở đầu và phần kết thúc trong tác phẩm của ông. Ông hay mở màn bằng lời độc thoại của một nhân vật giới thiệu tình huống và sự việc và kết thúc một cách dễ dãi bằng cái thủ thuật người ta gọi là: “deus ex machina” (tiếng la tinh, có nghĩa là “thần linh xuất hiện từ một cái máy”), đột ngột và thiếu chuẩn bị, không do quá trình phát triển của xung đột mà dẫn tới hoàn toàn ngẫu nhiên. Ví dụ trong vở Iphigénie ở Aulis (là một vở rất hay), khi Iphigénie sắp sửa bị hi sinh thì nữ thần Artémis biến nàng đi đâu mất, chỉ để lại dưới bàn thờ một con dê cái mới chọc tiết đầy máu me. Trong Iphigénie ở Tauride, khi hai chị em Iphigénie và Oreste đánh cắp được bức tượng Artémis đang chạy trốn, vua Thoas đang đuổi theo, thì nữ thần Athéna xuất hiện, ra lệnh cho Thoas thôi đừng đuổi theo nữa.


Vai trò Đội đồng ca trong bi kịch Euripide đại thể vẫn như ở bi kịch Sophocle, không trực tiếp liên quan đến hành động kịch, nhưng vẫn là một chứng nhân tích cực theo dõi, bình luận sự việc một cách nhiệt tình chứ không hề bàng quan. Euripide cũng thường sử dụng như Eschyle, những đoạn độc thoại trữ tình hát giống như đoạn độc thoại của Prométhée sau khi Quyền Lực, Bạo Lực và Héphaistos đã xiềng chàng vào mỏm đá rồi bỏ đi. Đoạn Médée khóc con thật là tuyệt diệu.


Thực ra, Euripide không cách tân gì phần hình thức cả nhưng về nội dung, ông đã có sự chuyển hướng đáng chú ý. Như Aristote đã nói, Euripide miêu tả con người như nó đang tồn tại. Trong khi kịch Eschyle bay bổng rất cao, kịch Sophocle hạ cánh xuống với con người, vẫn phản ánh về con người những mặt cao thượng của nó, thì kịch Euripide phản ánh những bản chất thông thường nhất của nó, những dục vọng cá nhân: ông là bậc thầy về phân tích tâm lý con người.


Nhân vật Euripide không có nghị lực như nhân vật Sophocle, nghị lực chống lại dục vọng cá nhân để vươn lên hoàn thành những trách nhiệm cao cả, mà chỉ có dục vọng đi theo đến cùng những dục vọng phức tạp của bản năng; yêu thương, giận ghét, căm thù, ghen tuông, đau khổ... và nhất là tình yêu. Chính vì vậy mà những vai đàn bà trong bi kịch của ông chiếm vị trí trung tâm. Chỉ đọc qua nhan đề 17 vở còn lại thì đã có 12 vở mang tên nhân vật đàn bà, chỉ có năm vở mang tên nhân vật đàn ông. Nhân vật nữ của Euripide có tính cách đa đạng và phong phú, đủ thứ sắc thái tình cảm: yêu đắm đuối như Phèdre trong Hippolyte, tự nguyện chết thay cho chồng như Alkestis, ghen tuông dữ dội đi đến tội ác như Médée thương tiếc cuộc đời mà vẫn chấp nhận bình thản hi sinh mình vì đồng bào như Iphigénie, Polyxène, Macarie, nặng tình mẫu tử như Hécube, Andromaque. Nhân vật đàn ông có một số nhu nhược thiếu bản lĩnh hoặc ích kỷ đê hèn như Jason trong vở Médée. Một số như Thésée trong Những người đàn bà cầu xin, Iolaios trong Những con gái của Hêraclès, anh nông dân trong vở Éléctra chiếm được tình cảm người xem vì có tinh thần dân chủ rộng rãi, trung thực và biết trọng danh dự, yêu lao động và đánh giá đúng mức con người. Nhất là Hippolyte, người ta yêu mến chàng vì  có tính cách vô tư, cao thượng và hiếu thảo. Còn các thần linh thì mang rặt những tính xấu, bị khán giả và cả nhân vật rủa nguyền.


Người ta có thể có ý nghĩ rằng Euripide không như Sophocle khắc họa những mặt tốt trong con người nhằm tuyên truyền bảo vệ cái đạo lý làm người tốt đẹp, mà bộc lộ những dục vọng thấp kém của con người, với những hậu quả gớm ghê của nó để biết mà ngăn chặn như một lời răn đe bằng thực tế phản diện: hãy cảnh giác! Nguồn gốc mọi tương lai ở chính những dục vọng chính bản thân mình. Bức tranh dục vọng hầu như toàn diện đó của nhân vật thuộc tầng lớp vua chúa, ngoài ý nghĩa răn đe đối với mọi người, còn là sự bóc trần bản chất bản chất xấu xa của các tầng lớp quý tộc thống trị, một bản cáo trạng đối với xã hội dựa trên quyền lực, đầy rẫy những vô lý và bất công. Nó còn là một sự đòi hỏi quyền bình đẳng không những vấn đề hôn nhân – gia đình mà cả những lĩnh vực hoạt động khác cho người phụ nữ. Những câu Médée nói với Đội đồng ca, với Créon, với Jason không cho phép nghi ngờ gì nữa về tư tưởng phản kháng và đấu tranh mãnh liệt đầy ý nghĩa nhân văn mới mẻ và tiến bộ của Euripide.


Con người do những kiến thức uyên thâm, am hiểu lòng đồng loại và giàu kinh nghiệm sống, đã có những câu định nghĩa bất tử: “tình yêu đó là sự ngọt ngào lớn nhất, niềm đau khổ lớn nhất” ấy, trọn đời không nhận một chức trách gì trong xã hội, có tới hội nghị nhân dân chăng nữa cũng chỉ vì tò mò hay đến để quan sát và không quý yêu gì bọn mỵ dân lắm mồm. Con người ưa cô độc, khó tính, cáu gắt có lẽ vì nếm nhiều thất bại trên con đường sự nghiệp văn chương nhiều thất vọng cay đắng trong cuộc sống riêng tư và tình cảm ấy đã để lại cho đời sau một loạt những tác phẩm rất hiện thực, gần gũi với mọi người, với những lời lên án gay gắt, những câu trữ tình “có hương vị mật ong” và “âm thanh tiếng hát Sirène” như nhà phê bình Alexamdre xứ Étéolie ở thế kỷ thứ III đã nói, những đoạn phân tích tâm lý sâu sắc lạ kỳ, đặc biệt rất nhiều những hình tượng phụ nữ sáng chói yêu thương, ngây thơ trong trắng. Đó là những sáng tạo của một tâm hồn mơ mộng mà bất chấp những gió mưa trên chặng đường đời, vẫn giữ được sự trong trẻo của mình để khắc họa nên những nhân vật đàn bà chung thủy, hi sinh, đáng mến, đáng yêu mà cuộc đời đã khước từ ông trong thực tế.


Chỉ với 17 kịch bản còn lại, Euripide đã đề cập tới bao nhiêu vấn đề và vấn đề nào nhà thơ cũng phát biểu rõ ràng bằng hình tượng và có khi bằng cả lời nói trực tiếp, không che giấu những quan điểm minh bạch của mình.


Euripide trước tiên là một nhà thơ đấu tranh kiên trì  cho một nền dân chủ rộng rãi và tiến bộ. Trong vở Những người đàn bà cầu xin, Thésée, kẻ cầm quyền ở Athènes, đã nói với sứ giả của tên vua độc tài Créon thành Thèbes:


“Đô thị này (Athènes) không thuộc quyền riêng một người nào. Anh sẽ không tìm thấy ai là vua ở đây. Athènes tự do. Dân chúng ở đây là kẻ trị vì. Lầm lượt hàng năm các công dân được bầu làm đại biểu quản trị nhà nước. Người già không được quyền ưu tiên nào; giàu nghèo ở đây đều bình đẳng…”.


Viên sứ giả ca ngợi chế độ độc tài của Thèbes thì Thésée bác bỏ một cách hùng hồn: 


“Đối với một dân tộc không có gì nguy khốn hơn là một tiếm vương. Dưới chế độ ấy, không có pháp luật nào chung cho tất cả. Chỉ có một người duy nhất cầm quyền và pháp luật trong tay hắn, do đó mất hết bình quyền. Trái lại, khi có một bộ luật pháp trong nước thì giàu nghèo đều bình quyền cả. Người yếu bị người khỏe ngược đãi có thể phản ứng lại và người thấp, nếu đủ lý, thắng được người cao... Ngoài ra, trong các nước mà chính quyền nằm trong tay quần chúng nhân dân thì dân chúng mong muốn tuổi thanh niên phải hết sức nồng nhiệt. Bọn tiếm vương trái lại rất ghét điều đó; những công dân tốt, những người biết suy nghĩ, có tư tưởng, thì hắn tìm cách ám hại ngay vì hắn sợ cho ngai vàng của hắn. Như vậy Tổ quốc còn sức lực ở đâu?...


Euripide luôn luôn có thái độ phê phán gay gắt đối với những phong cách đồi bại của các thần: Zeus, vị chúa tể thiên cung, trá hình chui vào giường hiếp vợ Amphitrion, Apollon cưỡng dâm cô gái Créuse, khi nàng thụ thai thì bỏ nàng không ngó đến… Thần thánh mà thế thì con người còn đến đâu! Cho nên Créuse than:


“Ôi ! tội ác của thần thánh! Bây giờ ta còn biết tới cửa nào mà kêu ca đòi công lý khi ta chết vì sự bất công của bọn quyền thế trên đời?”.


Thái độ phản kháng những hành vi đồi bại của thần linh xét cho cùng là là một khía cạnh tất nhiên của tư tưởng dân chủ, cũng như dân chủ tất nhiên dẫn tới lòng yêu chuộng hòa bình và sự thừa nhận vai trò quan trọng của người lao động trong cuộc sống. Trong vở Éléctra, Euripide đã để cho Éléctra lấy một người nông dân và quý trọng anh ta một cách chân thành. Nàng nói:


“Tôi kính phục một người bạn như anh chẳng kém gì kính phục thần thánh. Không bao giờ anh chê cười nỗi đau khổ của tôi. Đối với người trần tục, thật là một đặc ân khi gặp được người biết chăm sóc đến mình trong những ngày khó khăn mà mình đang sống, như tôi được gặp anh. Vì vậy mặc dù anh không yêu cầu, tôi vẫn cố gắng gánh đỡ cho anh một phần công việc, cùng chịu khó nhọc với anh. Công việc nội trợ phải là phần của đàn bà. Người lao động đi làm về bao giờ cũng muốn thấy mọi cái trong gia đình đều ngăn nắp”.


Anh nông dân đáp lại rất thật lòng:


- “Cái đó tùy ý… Một kẻ lười biếng dù mở miệng là cầu khẩn thần này, thánh nọ, không lao động thì cũng đừng hòng nuôi nổi cái miệng mình”.


Oreste, em của Éléctra, cảm thấy lòng chân chính của anh, đã phát biểu một lời đầy triết lý:


- “Muốn đo sự cao quý của một người trần, chỉ cần xem xét việc làm và hạnh kiểm của họ là đủ... Tôi mong được tiếp đón trong nhà một người nghèo mà có tâm hồn hơn trong nhà một kẻ giàu sang”.


Và cái nét tâm hồn căn bản đọng lại dưới lòng nhà thơ vẫn là một tấm lòng yêu nước thầm lặng, kín đáo và một ý thức làm tròn bổn phận người dân đối với đất nước của mình. Trong vở Những ngươi đàn bà thành Troie, Euripide cho nàng Cassandre nói lên những lời thật xứng đáng người em gái của dũng sĩ Hector:


“Trái với bọn xâm lăng Hy Lạp, người dân Troie đã thu được một vinh quang vô vàn quý báu: họ chết vì Tổ quốc! Nếu ngọn giáo đâm họ chết, thì những bàn tay thân thương khiêng thi thể họ về nhà, chôn cất trên mảnh đất cha ông sau khi được khâm liệm chu đáo... Tránh được chiến tranh là bổn phận của mọi người khôn ngoan. Nhưng nếu phải đi đến chỗ chết, thì chết không phải vì một lý do tốt đẹp là một cái chết nhục nhã; trái lại vì đồng bào mình mà chết một cách vinh quang thì không ai có thể chối từ vinh dự ấy”.


Viết tới đoạn này ta bỗng nhớ lời của nàng Chimène trong Le Cid của Corneille, nói với vua Don Fernand:


“Chết vì non sông đâu phải phận kém hèn


Mà là chết đẹp, ngàn đời bất tử”


(Le Cid, hồi IV, lớp 5).


Trong vở Iphigénie ở Tauride, Oreste cũng tuyên bố rất đúng: “Người thanh niên không thể viện một khó khăn trở ngại nào để trốn tránh bổn phận mình đối với Tổ quốc!”.


Không phải chỉ nói ngoài miệng mà nhiều nhân vật, những nàng trinh nữ vừa chớm xuân đời, chưa được hưởng hạnh phúc hôn nhân, đã tự nguyện bước lên dàn thiêu hi sinh cả tuổi trẻ và tính mạng mình để đưa đến cho Tổ quốc cho đồng bào những quyền lợi cao quý mà mọi người chờ đợi, những Iphigénie, Polyxène, Macarie... là những tấm gương yêu nước chói lọi từ ngàn xưa cho đến cả hôm nay.


Cái hấp dẫn của nhà thơ Euripide, đại diện cuối cùng của nền bi kịch Hy–Lạp, là những tư tưởng yêu nước nhân đạo, dân chủ, tiến bộ mà suốt một cuộc đời đã không ngừng nhắc đi nhắc lại cho mọi người, mọi tấm lòng qua một mỗi tác phẩm. Cái hấp dẫn đó dường như lại thêm phần quyền rũ khi ta được biết thiên tài ông được chín mùi trong đầu và cuộc đời ông là cuộc đời một con người đã trải nhiều bất hạnh xót xa. Lời thơ của nhạc trưởng kết thúc vở kịch kiệt tác của ông phải chăng đã kín đáo gợi lên nghĩa đó.


“Thần Vương ngự đỉnh  Ô lem


Là người phân phát phận thường rủi may.


Bao sự việc trái lời nguyện ước


Được các thần thực hiện bỗng dưng;


Điều ta trông đợi, chẳng mòng,


Mà điều không đợi,  rạch đường tới ngay..”.


Có phải nhà thơ bi quan hay là thực tế!


 


Ba nhà thơ, với ba mươi tác phẩm còn lại, mà đủ xác định vị trí hàng đầu của nền sân khấu cổ Hi Lạp trong lịch sử sân khấu thế giới xưa nay.


Nhân loại đã tiến từ chiếc xe lăn Excyclème đến những con tàu vũ trụ. Con người đã khám phá biết bao điều bí mật của thiên nhiên; nhưng những vấn đề cuộc sống mà Eschyle, Sophocle, Euripide đặt ra cách đây hai mươi tư thế kỷ đâu phải đã được giải đáp hoàn toàn? Bởi vì có những vấn đề nằm trong quy luật, có thể giải đáp được với những điều kiện phát triển nhất định của xã hội và con người; có những vấn đề bất ngờ, đột xuất, ngẫu nhiên chưa một trí tuệ nào tìm ra được quy luật cả.


Cho nên bao lâu loài người còn có áp bức, bất công, bao lâu trái tim con người còn chứa đựng những tình cảm yêu thương, giận ghét, và trí tuệ con người biết phân biệt chính nghĩa với gian tà, nghĩa là bao lâu con người còn có khát vọng vươn lên cái tự do thật sự, cái đẹp thật sự, cái tiến bộ thật sự thì bấy lâu những hình tượng Prométhée, Antigone, Iphigénie, Alkestis, Hippolyte, Édipe, Médée… vẫn còn làm xao xuyến hàng triệu con tim. Những người đầu tiên  đặt nền móng, khẳng định và hoàn chỉnh nền nghệ thuật  sân khấu bi kịch cả về hình thức và nội dung, cũng là những người đầu tiên đã đặt ra những vấn đề cơ bản về cuộc sống mà sân khấu phải giải quyết mọi lúc, mọi nơi và cũng chính họ, những người đầu tiên đã vạch ra những phương hướng giải quyết phù hợp nhất với quy luật cuộc sống, với cái đạo làm người.


Hoàng Hữu Đản


Nguồn: Bi kịch Hy lạp (Prométhée bị xiềng; Edipe làm vua; Antigone; Electre; Médée; Alceste). Hoàng Hữu Đản dịch theo bản tiếng Pháp Eschyle, théâtre complet, traduction, notices et notes par Émile Chambry, Garnier – Flammarion, Paris 1964”; và Les grands tragiques grecs của De Rochefort, collection des grands classiques français et étrangers, Paris V. Bản thảo của nhà văn Hoàng Hữu Đản gửi nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info


 

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
23.07.2014
ALKESTIS (1), Bi kịch Hy Lạp (Tư liệu sáng tác)
23.07.2014
ALKESTIS (2, tiếp & hết), Bi kịch Hy Lạp (Tư liệu sáng tác)
19.09.2013
MÉDÉE (3, tiếp & hết) (Tư liệu sáng tác)
18.09.2013
MÉDÉE (2) (Tư liệu sáng tác)
17.09.2013
MÉDÉE (1) (Tư liệu sáng tác)