tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30151485
Thông tin tác giả
Đạm Phương Nữ Sử
 

(1881-1947)


Tên thật là Công Tôn Nữ Đồng Canh tự là Quý Lương sinh năm Tân Tỵ (1881) tại phủ Tôn Nhơn kinh đô Huế, thân phụ là Nguyễn Miên Triện (tức hoàng tử thứ 66 của vua Minh Mạng, thụ tước Hoằng Hóa Quận Vương) năm 1891 phụng chỉ vua Thành Thái dẫn sứ bộ triều đình Huế sang công vụ tại nước Cộng hòa Pháp.


Công Tôn Nữ Đồng Canh tuy sinh ra trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, cai trị, nhưng con vua cháu chúa vẫn được thừa hưởng đặc quyền, đặc lợi và thừa hưởng truyền thống văn học, giáo dục tốt đẹp của hoàng tộc. Nhờ vậy, cả thời niên thiếu Công Tôn Nữ Đồng Canh được dưỡng dục, học hành nghiêm túc cả Hán văn, Pháp văn, quốc ngữ và vào phủ chúa học cầm, kỳ, thi, họa, thêu thùa, cắt may, nấu nướng… Đó là những kiến thức cơ bản sau chung đúc thành vốn văn hóa vững chắc cho Công Tôn Nữ Đồng Canh khi lớn lên vào đời bằng thực lực của chính mình.


Năm 1897 Công Tôn Nữ Đồng Canh 16 tuổi lập thân với ông nghè tập ấm Nguyễn Khoa Tùng (hậu duệ thứ 6 của Nguyễn Khoa Chiếm: 1659 – 1736, quê gốc Hải Dương, nay thuộc xã Lê Lợi – huyện An Hải – Hải Phòng, tác giả Nam triều công nghiệp diễn chí – tiểu thuyết lịch sử đầu tiên ở nước ta) . Ông bà sinh hạ được ba người con gái và ba người con trai đều giáo dục trưởng thành. Sau cả ba người con trai lần lượt ngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh chống thực dân Pháp giải phóng dân tộc, trong đó có nhà lý luận Mác-xít tiền bối xuất sắc Hải Triều tức Nguyễn Khoa Văn. Tháng 8 năm 1931, Hải Triều cùng Trần Văn Giàu và một số Đảng viên thành lập chi bộ đầu tiên ở thành phố Sài Gòn, sau thành lập thành ủy Sài Gòn – Chợ Lớn.


Năm 1918 Công Tôn Nữ Đồng Canh với bút danh Đạm Phương Nữ Sử xuất hiện trên các báo, tạp chí ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ như: Nam Phong, Phụ nữ thời đàm, Tiếng dân, Hữu Thanh, giữ chuyên mục Lời đàn bà trên Báo Thực nghiệp, làm trợ bút cho Báo Trung Bắc Tân văn và giữ chuyên mục Văn đàn bà trên báo này từ 1919 đến năm 1928. Qua khảo sát, bước đầu thấy gần hai trăm bài báo bằng chữ quốc ngữ của bà Đạm Phương Nữ Sử đăng tải trên các báo và tạp chí. Phần lớn số bài đăng vào các năm: năm 1923 có 40 bài, năm 1924 có 35 bài, năm 1925 có 29 bài, năm 1926 có 28 bài. Bài đăng chủ yếu ở các báo: Trung Bắc Tân văn với 129 bài đăng tải từ năm 1923 đến năm 1929, Hữu Thanh có 24 bài, Nam Phong có 15 bài. Trong khi ấy thấy trên báo, tạp chí còn đăng tải một số sáng tác của các nhà văn, nhà thơ bằng chữ Hán có dịch ra chữ quốc ngữ in kèm. Như thế cho thấy bà Đạm Phương Nữ Sử có vốn quốc ngữ phong phú và khả năng diễn đạt quốc ngữ thành thạo vượt lên ở vị trí ký giả hàng đầu về số lượng bài đăng báo một thời hồi đầu thế kỷ.


Bà Đạm Phương Nữ Sử lợi thế giàu vốn văn hóa và thông thạo mấy ngoại ngữ phổ biến như Hán văn, Pháp văn nên bà đọc nhiều, hiểu biết sâu, rộng, sớm tiếp cận tư tưởng tiến bộ nhân loại, đặc biệt là tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng, nhân quyền của các nhà cách mạng tư sản dân chủ như Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên (Trung Quốc), J.J. Rouseau (Pháp), cùng tiếp xúc với các bậc chí sĩ yêu nước như: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và một số Đảng viên Cộng sản tiền bối như Phan Đăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu… dẫn tới bà Đạm Phương Nữ Sử tự chuyển hóa nhận thức, từ bỏ tư tưởng xuất thân phong kiến, đứng vào hàng ngũ những người trí thức tiến bộ của thời đại. Bà vận dụng tư tưởng tiến bộ của thời đại vào phương tiện báo chí góp phần vận động xã hội Việt Nam trì trệ hồi đầu thế kỷ XX.


Ba phần tư số bài báo của bà Đạm Phương Nữ Sử viết theo luận đề mang tinh thần duy vật có giá trị thuyết phục nhằm giáo dục hai đối tượng phụ nữ và nhi đồng chiếm số đông trong dân số Việt Nam, từng chịu nền giáo dục lạc hậu nặng nề, chưa từng được xã hội quan tâm giáo dục như một con người…


Trước hết bà Đạm Phương Nữ Sử phủ định lễ giáo phong kiến hà khắc ứng xử với người phụ nữ như nô lệ trong nhà. Bà viết: Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, bắt người đàn bà thủ tiết thờ chồng khi chồng chết, hạn chế học hành của phụ nữ đều phải vứt bỏ cùng với tam tòng tứ đức (đăng trên tờ Trung Bắc Tân văn ngày 21-6-1926).


Bà Đạm Phương Nữ Sử cũng triệt để phê phán quan niệm cực đoan Nhân chi sơ tính bản thiện của nền Nho học chính thống gieo vào nhận thức của người Việt Nam nói riêng và người phương Đông nói chung kéo dài hàng ngàn năm, tồn tại như một định đề. Ngược lại quan niệm cực đoan ấy, ở chương mở đầu cuốn sách Giáo dục nhi đồng của bà xuất bản năm 1942, bà đã viết: Trẻ con sinh ra không có gì là thiện mà cũng không có gì là ác cả, thiện ác đều do tập nhiễm của hoàn cảnh giáo dục sau này. Và ngay từ lúc trẻ chào đời, bà viết tiếp: Trẻ khi lọt lòng ra đã phải nhờ một người để nương tựa, để đùm bọc, nuôi nấng, người ấy là người mẹ. Và: Khuôn mặt người mẹ là quyển sách đầu tiên của đứa con…


Do nhận thức rõ vai trò quan trọng của người mẹ trong tiến trình hình thành nhân bản và phát triển thể chất của đứa con nên bà Đạm Phương Nữ Sử hết sức chú ý đến việc giáo dục người phụ nữ trong xã hội trước khi làm mẹ. Bà viết: Giáo dục phụ nữ là một cái vấn đề rất quan hệ cho một dân tộc tương lai (M. Dugard) đăng trên tờ Trung Bắc Tân văn ngày 24-1-1924.


Sau đó trên nhiều tờ báo thời ấy bà Đạm Phương Nữ Sử đều có bài đề cập việc nữ học. Bà phân tích lợi ích của việc học giúp cho người phụ nữ mở mang kiến thức, hiểu được đạo lý làm người mà dạy bảo con cái, tham gia vào các công việc hữu ích xã hội, và nhấn mạnh: Nay vấn đề nữ học thật là một sự quan trọng nhất trong mấy ngàn năm của nước ta (đăng trên tờ Nam Phong số 43, 1-1921).


Theo quan niệm của bà Đạm Phương Nữ Sử, người phụ nữ có học thức còn cần phải có lao động nghề nghiệp cụ thể để sống tự lập, tránh phụ thuộc vào chồng con, thì đây cũng là cơ sở đầu tiên tiến tới nữ quyền, bình đẳng với nam giới.


Bà Đạm Phương Nữ Sử còn nhiều bài báo đề cập những vấn đề khác trong đời sống phụ nữ Việt Nam, như bài: Tình cảm đàn bà, Bàn về chữ ái tình, Tự do hôn nhân, Về nữ ngôn, Về quản lý tài sản, Giáo dục con gái, Cách dạy con… cho thấy bà tư duy khá phong phú và sâu sắc về chủ đề giáo dục phụ nữ và nhi đồng.


Giáo dục phụ nữ và giáo dục nhi đồng là hai giai đoạn nối tiếp ở một quá trình thống nhất mang tính nhân quả. Muốn giáo dục nhi đồng hiệu quả thì người phụ nữ phải được giáo dục làm mẹ hoàn thiện trước. Đây là một cách nhìn mới cho sự phát triển của phụ nữ và nhi đồng Việt Nam mà bà Đạm Phương Nữ Sử đặt ra, mặc dù lúc ấy xã hội Việt Nam đang bị chủ nghĩa thực dân và phong kiến thống trị. Bà nhắc lại lời cổ nhân để thấy rằng giáo dục nhi đồng là sự nghiệp lâu dài: Thập niên thọ mộc, Bách niên thọ nhân, nghĩa là: Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người (đăng trên tờ Trung Bắc Tân văn ngày 24-1-1924).


Bà Đạm Phương Nữ Sử còn dịch một số công trình có giá trị về giáo dục phụ nữ và nhi đồng ở nước ngoài giới thiệu trên báo chí hoặc xuất bản thành sách để phổ biến như: Gái trinh liệt và Gia đình giáo dục đàm (của Trung Quốc), Dưỡng trẻ con và Trường trẻ con (của Pháp), Vườn trẻ con (của Đức), Nhà trẻ con (của Ý)… là những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong quá trình dưỡng dục thế hệ trẻ thơ.


Bà Đạm Phương Nữ Sử còn một số công trình và tác phẩm như: Giáo dục nhi đồng, Phụ nữ dự gia đình, Nữ công thường thức (3 tập), Kim Tú Cầu (tình sử), Hồng phấn tương tri (truyện dài) và Đạm Phương thi văn tập (gồm văn và thơ)… yên vị 60 năm trong các tàng thư quốc gia tại ba miền đất nước. Nay tiếp cận văn phẩm của bà dù ở báo hoặc sách đều thấy thấm đậm tình người, tình quê hương, tỏ lòng kính trọng những bậc chí sĩ yêu nước và mang khát vọng dân tộc tự cường cùng nỗi đau của một dân tộc Văn hiến chi bang mà mất quyền tự chủ…


Bà Đạm Phương Nữ Sử cũng là người sáng lập Hội nữ công học Hội Huế năm 1926 và trực tiếp làm hội trưởng. Bà thảo ra tôn chỉ, mục đích, nội quy và chương trình hoạt động của Hội. Đây là tổ chức phụ nữ phi chính phủ đầu tiên ở nước ta thời chính quyền thực dân thừa nhận. Hội thu hút nhiều hội viên từ ba miền đất nước và Lào vào sinh hoạt theo định kỳ hoặc thường xuyên. Chương trình sinh hoạt Hội có tổ chức học văn hóa, hội viên chưa biết chữ thì học từ a, b, c đến đọc thông viết được, người đã đọc thông viết thạo thì học theo chuyên đề văn, sử, địa để nâng cao hiểu biết. Sau cùng học đại cương về giáo dục phụ nữ, học cách nấu một số món ăn, học một số nghề thông dụng rồi phát triển thành nghề phụ mà kiếm sống, cung cấp một số tri thức và kinh nghiệm tổ chức gia đình, dạy con cái, đồng thời tạo điều kiện cho chị em rèn luyện làm quen với hoạt động tập thể mà tiến tới tham gia công việc xã hội. Hội lại được các bậc chí sĩ yêu nước như: Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng và các trí thức trẻ như: Đào Duy Anh, Đoàn Nồng, Nguyễn Lãn tham gia sinh hoạt đã nâng cao uy tín của Hội. Hoạt động của Hội được dư luận báo chí cổ vũ về xu hướng tiến bộ. Ảnh hưởng của Hội lan truyền ra tới Vinh, Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng, vào tới Nha Trang, Sài Gòn, Gia Định, Cần Thơ, Hội An. Hội Nữ công Huế còn là chỗ dựa cho phong trào nữ học sinh trường Đồng Khánh và học sinh trường Quốc học Huế bãi khóa. Cùng ảnh hưởng của các con trai bà là Nguyễn Khoa Tú, Nguyễn Khoa Vĩ, Nguyễn Khoa Văn hoạt động trong tổ chức Cộng sản và yêu nước bị lộ mà năm 1929 chính quyền thực dân Pháp ra lệnh cho chính phủ Nam triều bắt bà Đạm Phương Nữ Sử giam hai tháng trong nhà tù. Và sau đó bà cũng trải mấy đận cầm lòng nuốt thầm nước mắt chịu nỗi đau riêng khi nhận tin các con trai lần lượt ngã xuống trên đường tranh đấu góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.


Bà Đạm Phương Nữ Sử tạ thế ngày 10 tháng 12 năm 1947 khi đang tản cư tại Lạc Lâm, Thanh Hóa, hưởng thọ 66 tuổi.


Từ Công Nữ Đồng Canh sinh thành trong phủ chúa lầu son gác tía, đến Đạm Phương Nữ Sử nữ ký giả Việt Nam đầu tiên có cuộc đời, văn nghiệp và ba con trai cống hiến vào sự nghiệp độc lập của dân tộc và tiến bộ của đất nước Việt Nam, thế mà cuộc đời và văn nghiệp của bà bị thời gian phủ mờ một phần hai thế kỷ. Nay cần làm sáng tỏ những đóng góp của bà vào các lĩnh vực ngôn ngữ tiếng Việt, ngôn ngữ báo chí, văn, thơ, dịch thuật, đặc biệt là những công trình giá trị như: Giáo dục nhi đồng, Phụ nữ dự gia đình, Gia đình giáo dục thường đàm, cùng với hiệu quả trong những nỗ lực hoạt động xã hội của bà hồi đầu thế kỷ để kế thừa tinh hoa, như sinh thời bà viết: Người ta không phải như cây cỏ, nỡ nào để mục nát như cây cỏ (theo Trung Bắc Tân văn số 10, 11 tháng 7 năm 1924).


Một sự thật trong lịch sử Việt Nam dựng nước tính đến hết thế kỷ XIX, ta thấy số lượng nữ tướng xuất hiện nhiều hơn số lượng nữ sĩ. Có hai lý do: Một là quá trình Việt Nam dựng nước phải song song chống lại nhiều nước đến xâm lược với âm mưu đồng hóa cai trị, hai là suốt thời kỳ Việt Nam phong kiến giai cấp cầm quyền không hề quan tâm đến sự học vấn của phụ nữ. Vì thế mà trong số hơn 700 tác gia Hán, Nôm cả nước chỉ mới xác định được bảy nữ tác giả có một số điểm chung: cùng là thi sĩ, cùng xuất hiện thi phẩm tại kinh đô và trong đó bốn thi sĩ là công chúa. Mở đầu là công chúa Lê Ngọc Hân ở thế kỷ XVIII với thi phẩm Ai tư vãn xuất hiện ở kinh đô Phú Xuân khi chồng bà Hoàng đế Quang Trung qua đời (1792). Và trong số 64 công chúa của vua Minh Mạng có ba công chúa là Vĩnh Trình (tức Nguyệt Đình), Trịnh Thận (tức Mai Am), Tĩnh Hòa (tức Huệ Phố) trở thành thi sĩ từ kinh đô Huế, chiếm nửa số lượng nữ thi sĩ cả nước trong nhiều thế kỷ. Các sách công cụ còn cho biết thêm rằng cả ba công chúa thi sĩ kinh đô Huế này đều có sở trường âm nhạc, đã cùng sáng tác một số bài ca Huế lưu truyền đến nay như bài ca điệu Phẩm viết. Tiếp đến là Đoàn Thị Điểm với bản dịch Chinh phụ ngâm (khi chồng bà là ông Nguyễn Kiều đi sứ Trung Quốc) và Hồ Xuân Hương- bà chúa thơ Nôm cùng xuất hiện thi phẩm khi hai nữ sĩ này cư trú ở kinh đô Thăng Long. Riêng Bà Huyện Thanh Quan (tức Nguyễn Thị Hinh) người kinh thành Thăng Long gửi tình vào thơ, gửi thơ vào cảnh trên nhiều vùng đất nước, trong đó có cả thi phẩm ra đời tại kinh đô Huế.


Sang đầu thế kỷ XX chữ quốc ngữ đã thay thế chữ Hán cùng với trường học mở ra ở các thành phố, thị xã và con gái những nhà giàu sang, nhà quan chức đã cắp sách đến trường, tuy vậy lực lượng nữ tác giả cả nước cũng không nhiều. Nếu tính những nữ tác giả tiêu biểu thời kỳ này thì có Sương Nguyệt Anh (1864 – 1921), Đạm Phương Nữ Sử (1881 – 1947), Tương Phố (1896 – 1973), Nguyễn Thị Minh Khai (1910 – 1944), Vân Đài (1903 – 1964), Nguyễn Thị Kiện (tức Nguyễn Thị Manh Manh?...) Ngân Giang, Hằng Phương, Anh Thơ… Những nữ tác giả xuất hiện ở nửa đầu thế kỷ XX cũng phần đông là thi sĩ mà cuộc đời và tác phẩm được giới thiệu trong chương trình văn học cấp phổ thông hoặc Đại học văn khoa. Riêng cố tác gia Đạm Phương Nữ Sử có nhiều tác phẩm và đặc biệt là những công trình giá trị lại không thấy giới thiệu ở cấp học nào, bị bỏ quên…


Văn học Việt Nam tựu trung có hai tiêu chí: Một là Văn quý hồ tinh, hai là Văn dĩ tải đạo. Thực tế cho thấy từ 1945 trở về trước nữ văn sĩ Việt Nam vốn đã không nhiều, tác phẩm giá trị lại càng hiếm. Căn cứ vào di sản của cố tác gia Đạm Phương Nữ Sử với những công trình như: Giáo dục nhi đồng, Phụ nữ dự gia đình (3 tập, còn có tên là: Phụ nữ tân giáo khoa), Gia đình giáo dục thường đàm và Nữ công thường thức (3 tập). Mặc dù những công trình khoa học này ra đời từ hồi đầu thế kỷ, nhưng đến nay xét thấy vẫn còn giá trị đích thực với con người thời đại đang trong xu thế tìm về cội nguồn. Vì vậy xin kiến nghị:


1. Cần mở cuộc hội thảo khoa học về di sản của cố tác gia Đạm Phương Nữ Sử làm sáng tỏ giá trị trong di sản của bà không chỉ đóng góp vào sự tiến bộ văn hóa Việt Nam hồi đầu thế kỷ, mà còn là vốn quý hữu ích cho sự nghiệp giáo dục nhi đồng và phụ nữ Việt Nam hôm nay và mai sau.


2. Trên cơ sở thành quả cuộc hội thảo khoa học về di sản của cố tác gia Đạm Phương Nữ Sử, đề nghị đưa thành quả ấy cùng di sản của bà vào chương trình Đại học nhân văn quốc gia giới thiệu với sinh viên.


Từ đầu thế kỷ các công trình của cố tác gia Đạm Phương Nữ Sử đã thể hiện phương sách giáo dục tiến bộ và phương pháp chủ động hoàn thiện thiên chức người phụ nữ trước để khi làm mẹ giữ vai trò chủ thể vận dụng quy trình khoa học rèn luyện, dưỡng dục thế hệ trẻ thơ Việt Nam phát triển sinh lực dồi dào, có hiểu biết, có nhân cách và có khả năng đưa dân tộc tự cường. Vậy thiết nghĩ kiến nghị trên đây của chúng tôi thực sự phù hợp với nhu cầu xã hội đương đại, mong các cấp lãnh đạo trực thuộc Trung ương như Bộ Văn hóa, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trung tâm nhân văn quốc gia, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Bảo vệ bà mẹ và trẻ em, các cơ quan chuyên ngành như Viện Văn hóa, Viện Văn học, Viện Ngôn ngữ, các hội nghề như Hội Nhà văn, Hội Nhà báo… và Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế, cùng các cơ quan chức năng của địa phương sớm quan tâm đến kiến nghị này, sớm góp phần làm giàu thêm di sản dân tộc, tăng thêm tiềm năng nội lực giáo dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam, đồng thời góp phần làm đẹp thêm truyền thống phụ nữ Việt Nam, làm đẹp thêm lịch sử cố đô Huế.


Làm khảo cứu chắc không ai bỏ qua Tạp chí Nam Phong. Tôi cũng vậy, khảo sát Tạp chí Nam Phong nhằm tìm tư liệu về nghệ thuật chèo quá khứ. Theo sổ lưu chiểu quốc gia, Tạp chí Nam Phong ra đời năm 1917 tồn tại đến năm 1934 là 17 năm ra được 208 số. Đây là cơ quan ngôn luận lớn, sống lâu nhất thời Pháp chiếm nước ta, chuyên đăng bài về học thuật của những cây bút tầm cỡ. Nhưng đến nay tại Hà Nội không còn đủ 208 số Tạp chí Nam Phong, đã vậy nhiều số còn mất trang; phải tra cứu Tạp chí Nam Phong trên Microfilm mới đủ số, đủ trang, trong đó lại tìm ra hai công trình khảo cứu về tuồng.


Công trình ra đời sớm nhất có tiêu đề Lược khảo về tuồng hát An Nam của tác giả Đạm Phương Nữ Sử đăng trên Tạp chí Nam Phong số 76 tháng 10 năm 1923, khoảng 3.500 chữ. Công trình thứ hai có tiêu đề Khảo về hát tuồng, hát chèo của tác giả Nguyễn Thúc Khiêm (năm sinh chưa rõ, liệt sĩ tại ngục Sơn La năm 1944) đăng trên Tạp chí Nam Phong số 144 tháng 11 năm 1929, phần viết về tuồng cũng khoảng 3.500 chữ. Hai công trình này tôi đã giới thiệu trên Tạp chí Văn hóa số tháng 9 năm 1996 và số tháng 2 năm 1998, nhằm công bố hóa di sản để những ai có nhu cầu dễ dàng tiếp cận. Tôi cũng phiên bản hai công trình này từ Tạp chí Nam Phong gửi tới Viện Sân khấu Việt Nam và Nhà hát tuồng Trung ương. Sau đó ông Viện trưởng Viện Sân khấu Việt Nam bấy giờ là ông Hoàng Chương và ông Giám đốc Nhà hát tuồng Trung ương bấy giờ là nghệ sĩ nhân dân Tiến Thọ đều hồi âm cho biết: Ở cơ sở của hai ông không có lưu hai bài khảo cứu này và hai ông cũng chưa biết có mà đọc. Đó là sự đóng góp của tôi với nghệ thuật tuồng nói chung và nghệ thuật tuồng cố đô Huế nói riêng. Còn giá trị ở hai công trình khảo cứu nghệ thuật tuồng xuất hiện hồi đầu thế kỷ của hai tác gia quá cố, tôi không dám đánh trống trước cửa nhà sấm xin dành để các vị làm tuồng và nghiên cứu tuồng đông đảo hiện hữu. Song nhờ có trong tay công trình Lược khảo về tuồng hát An Nam của bà Đạm Phương Nữ Sử làm tiền đề mà Viện Sân khấu liên kết với Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Trị Thiên - Huế mở được cuộc Hội thảo các danh sĩ Huế với nghệ thuật tuồng truyền thống Huế, tại cố đô Huế vào cuối tháng 8 năm 1998.


Công trình Lược khảo về tuồng hát An Nam và công trình Khảo về hát tuồng, hát chèo là hai công trình khảo cứu sân khấu dân tộc đầu tiên thể hiện bằng chữ quốc ngữ từ đầu thế kỷ XX. Rất tiếc sau đó 75 năm các nhà khảo cứu sân khấu dân tộc ít ai biết tới hai công trình khảo cứu đó mà tiếp thu kế thừa, đã thế một số người lại lầm tưởng mình đi tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu sân khấu dân tộc ở thế kỷ này. Nhân đây, một lần nữa người sưu tầm giới thiệu rộng rãi với bạn đọc về địa chỉ hai công trình khảo cứu nghệ thuật tuồng hồi đầu thế kỷ, khi tiếp cận chắc chắn sẽ thấy nhiều thông tin cũ mà vẫn mới ở nghệ thuật tuồng quá khứ cả hai khu vực: tuồng dân gian (qua bài khảo cứu của Nguyễn Thúc Khiêm) và tuồng cung đình Huế (qua bài khảo cứu của Đạm Phương Nữ Sử).


Bài dẫn luận này giới thiệu bà Đạm Phương Nữ Sử với cương vị là ký giả chủ yếu vào khoảng mười năm (1918-1929) viết gần hai trăm bài đăng các báo xuất bản trên địa bàn toàn quốc, trong đó ba phần tư số bài mang tính chuyên đề về phụ nữ, về nhi đồng, về giáo dục… Từ năm 1928 trở đi, bà chỉnh đốn những bài báo mang tính chuyên đề ấy sắp xếp đưa vào theo chủ đề của từng công trình. Do vậy trong vòng mười năm bà cho ra đời liên tiếp những công trình chuyên sâu, mỗi công trình hình thành một nhận thức mới cho con người, một tư tưởng mới cho xã hội. Những công trình này tồn tại hơn 70 năm, chỉ tiếc rằng có thời gian dài nhân thân và sự nghiệp của bà bị lãng quên. Nay xu thế thời đại tìm về cội nguồn bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta với lòng cầu thiện sưu tầm những công trình của bà Đạm Phương Nữ Sử và tiếp cận nghiêm túc thì quả là di sản quý. Điều này nói lên rằng bà Đạm Phương Nữ Sử là bậc ký giả chiến lược có ý thức làm sách khảo cứu từ khi cầm bút và quán triệt ý thức làm sách này suốt thời kỳ làm ký giả. Bà để lại cho thế hệ sau một bài học kinh nghiệm đời nghề: tích tiểu thành đại, lấy ngắn nuôi dài mà làm nên nghiệp lớn.


Bà Đạm Phương Nữ Sử tuy xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ XX nhưng tiếp cận di sản của bà, ta lại thấy trong lịch sử phụ nữ Việt Nam bà là nhân vật đi trước ở một số lĩnh vực xã hội.


1. Bà Đạm Phương Nữ Sử - người phụ nữ Việt Nam đầu tiên thông thạo nhiều sinh ngữ như: Hán văn, Pháp văn, quốc văn… do đó bà cũng là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên có tầm nhìn ra thế giới tiếp thu tinh hoa nhân loại như hệ lý luận tiến bộ về quy trình dưỡng dục trẻ thơ, hệ tư tưởng tiến bộ về nhân quyền: dân chủ, tự do, bình đẳng… và chuyển tải qua các phương tiện báo chí, văn sách, dịch thuật phổ biến cho đồng bào lạc hậu của nước mình. Cũng qua di sản còn thấy bà Đạm Phương Nữ Sử là nữ tác gia dẫn đầu về số lượng tác phẩm gồm nhiều thể loại xuất bản trước năm 1945.


2. Bà Đạm Phương Nữ Sử cũng là nữ tri thức Việt Nam đầu tiên đặc biệt quan tâm đến sự dưỡng dục thế hệ trẻ thơ Việt Nam từ khi lọt lòng mẹ đến tuổi cắp sách tới trường. Đây là giai đoạn tiền phát triển của mỗi trẻ thơ nói riêng và của thế hệ trẻ thơ nói chung mà nền giáo dục phong kiến Việt Nam tồn tại hàng nghìn năm cũng chưa từng đề cập. Bà cũng phát hiện ra rằng người mẹ giữ vai trò hết sức quan trọng trong giai đoạn tiền phát triển ở trẻ thơ mà không người nào khác thay thế được vai trò người mẹ. Bà tâm huyết với những phát hiện này và nỗ lực nhiều năm khảo cứu biên soạn công trình Giáo dục nhi đồng ra đời năm 1942 có giá trị được coi như sách giáo khoa đầu tiên tặng các bà mẹ Việt Nam làm công cụ giáo dưỡng, giáo dục con em mình trong giai đoạn tiền phát triển. Đây là công trình có ý nghĩa nhất của bà Đạm Phương Nữ Sử cống hiến vào sự nghiệp giáo dục nhi đồng Việt Nam từ hồi đầu thế kỷ XX, nay thấy còn hữu ích cho các cơ quan chức năng cùng các bậc làm mẹ, làm cha cùng các cô nuôi dạy trẻ trong việc giáo dục nhi đồng.


3. Bà Đạm Phương Nữ Sử cũng là người tổ chức Hội Nữ công đầu tiên ở nước ta hoạt động mở mang giới chỉ. Tuy Hội Nữ công chỉ ra đời ở một số thành phố hồi đầu thế kỷ và tồn tại trong một thời gian nhưng đã có ảnh hưởng chung và cất tiếng nói riêng, tiếng nói đại diện của phụ nữ Việt Nam đòi nhân quyền dưới chế độ thực dân, phong kiến cai trị.


Với những hoạt động và cống hiến trên đây, bà Đạm Phương Nữ Sử xứng đáng là nhân vật trí thức tiến bộ và yêu nước trong lịch sử cận đại Việt Nam. Thân nhân bà và di sản của bà là dấu son lưu thế.


Nguồn: Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử. Lê Thanh Hiền sưu tầm, biên soạn. Nguyễn Khoa Điềm bổ sung tư liệu. Triệu Xuân biên tậ. NXB Văn học, 2010.


www.trieuxuan.info


 

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
11.09.2019
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (13) (Tư liệu sáng tác)
11.09.2019
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (12) (Tư liệu sáng tác)
17.07.2015
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (11) (Tư liệu sáng tác)
15.07.2015
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (10) (Tư liệu sáng tác)
10.05.2014
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (9) (Tư liệu sáng tác)
08.04.2014
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (8) (Tư liệu sáng tác)
08.04.2014
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (7) (Tư liệu sáng tác)
28.09.2013
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (6) (Tư liệu sáng tác)
27.08.2013
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (5) (Tư liệu sáng tác)
23.08.2013
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (4) (Tư liệu sáng tác)
31.07.2013
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (3) (Tư liệu sáng tác)
12.07.2013
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (2) (Tư liệu sáng tác)
11.07.2013
Tuyển tập Đạm Phương Nữ Sử (1) (Tư liệu sáng tác)