tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31374396
Thông tin tác giả
Ung Văn Khiêm
 

 (1910-1991)


hoặc Uông Văn Khiêm, là một nhà cách mạng và chính trị gia người Việt Nam. Ông từng giữ các chức vụ cao cấp như trong chính phủ Việt Nam Dân chủ Công hòa như Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam từ tháng 2 năm 1961 đến tháng 4 năm 1963, sau đó làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam đến năm 1971. Trong thời gian đảm nhận chức vụ này, ông là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.


Ông còn có tên khác là Nhường, Huân, sinh ngày 13 tháng 2 năm năm 1910, tại làng Tân Đức (xã Tân Mỹ), huyện Chợ Mới, Long Xuyên (ngày nay là tỉnh An Giang). Ông nội là Ung Văn Tre, bà con trong vùng gọi là ông Chủ Tre, người đầu tiên đến đây chống thú dữ, khai phá vùng đất hoang vu này trở thành vùng cù lao trù phú, xinh tươi, từng được mệnh danh là “Đệ nhất Cù lao”. Thân phụ ông là ông Ung Văn Quản, từng theo Trương Định kháng Pháp.


Do ảnh hưởng của thân phụ, từ nhỏ, ông đã được giáo huấn về lòng yêu nước. Học xong trường làng, ông thi vào Trường Collège de Can Tho (nay là trường THPT Châu Văn Liêm) và là một trong hai học sinh đậu cao được cấp học bổng (người còn lại là Trần Văn Thạnh). Tuy nhiên, do thường xuyên tham gia các phong trào bãi khóa và đấu tranh với hiệu trưởng Tây nên ông sớm bị đuổi học.


Về quê, ông tiếp xúc nhiều lần với Châu Văn Liêm, một thầy giáo tiểu học và cũng là một nhà cách mạng, cung cấp cho ông nhiều sách báo tiến bộ, và giới thiệu ông gia nhập nhóm “đồng tâm, đồng chí” tại Chợ Mới.


Quá trình hoạt động cách mạng


- Cuối năm 1927, Khiêm gia nhập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Sau khi đã vào tổ chức, Khiêm được tổ chức điều về Cần Thơ, làm Ủy viên Ban Chấp hành Tỉnh bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên tỉnh Cần Thơ, phụ trách công nhân.


- Tham dự lớp huấn luyện do Nguyễn Ái Quốc tổ chức ở Quảng Châu (Trung Quốc), sau khi về nước được chỉ định làm Bí thư Đặc uỷ miền Hậu Giang, tham gia Xứ uỷ Nam Kỳ khi hợp nhất 3 tổ chức Cộng sản (1928);


- Tháng 9/1929 giữ chức vụ Bí thư Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng miền Hậu Giang, sau đó được phân công là ủy viên thường vụ xứ ủy Hậu Giang.


- Tham gia Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930


- Bị thực dân Pháp bắt và bị tù ở Khám lớn Sài gòn và Côn Đảo (1931-1936);


- Hoạt động công khai, tổ chức Mặt trận bình dân ở các tỉnh miền Tây Nam bộ (1936-1939);


- Bị bắt giam tại Long xuyên (1939-1941);


- Hoạt động ở miền tây Nam bộ chuẩn bị cho sự thành lập Xứ ủy Nam kỳ (1944-1945);


- Bí thư Xứ uỷ Nam kỳ (08/1945 - 12/1945);


- Đại biểu Quốc hội Việt Nam khoá I, đơn vị tỉnh Long Xuyên (1946); Uỷ viên nội vụ Uỷ ban Kháng chiến hành chính Nam bộ;


- Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam; Uỷ viên Trung ương Cục miền Nam (tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam II tháng 02/1951);


- Bí thư, kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chánh tỉnh Bạc Liêu - Cà Mau 1951-1954


- Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1955);


- Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng - 1960);


- Đại biểu Quốc hội Việt Nam các khoá I, II, III;


- Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam (30/4/1963 - 1971).


Sau 30 tháng 4 năm 1975, Ung Văn Khiêm trở về miền Nam, sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.


Ông qua đời ngày 20 tháng 3 năm 1991, sau nhiều năm bệnh tật, thọ 81 tuổi.


Những đóng góp chính cho ngành Ngoại giao


Bộ trưởng Ung Văn Khiêm đã có những đóng góp nổi bật vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Ngành trong những năm đầu thập kỷ 1960, phục vụ sự nghiệp khôi phục và phát triển đất nước, tiếp tục đề cao Hội nghị Giơnevơ, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam, tăng cường đoàn kết 3 nước Đông Dương, mở rộng quan hệ với các nước XHCN và dân tộc chủ nghĩa, đồng thời tích cực phối hợp với các hoạt động đối ngoại của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam.


Về xây dựng Ngành, Bộ trưởng Ung Văn Khiêm đã đưa Bộ Ngoại giao phát triển thêm một bước mới bằng việc xây dựng bộ máy tổ chức, nội dung công tác của Bộ, của từng đơn vị và quy định chế độ, lề lối làm việc, phối hợp thống nhất công tác đối ngoại theo Nghị định 157/CP của Chính phủ.


Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ngày 15 tháng 6 năm 1956, tức khi đang là Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Ung Văn Khiêm đã nói với đại biện lâm thời của lãnh sự quán Trung Quốc tại Việt Nam, Lý Chí Dân, rằng: "Căn cứ vào tư liệu của phía Việt Nam, về mặt lịch sử thì quần đảo Tây SaNam Sa nên là một phần lãnh thổ của Trung Quốc".[1]


Do quá trình đóng góp của mình, ông đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều huân chương như:



Tên của ông được Ủy ban nhân dân TP Hồ Chí Minh đặt cho 1 con đường tại phường 25 quận Bình Thạnh.


____


1.     ^ 五、中国对南沙群岛的主权得到国际上的承认. 华人民共和国外交部. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2012.


Wikipedia












Ung Văn Khiêm - Nhà cách mạng tiền bối, trung kiên



Sinh ra từ một gia đình có truyền thống. Cha ông của Ung Văn Khiêm đã từng tham gia nghĩa quân Trương Định chống Pháp. Tháng 8/1964, Trương Định tuẫn tiết, cuộc khởi nghĩa Trương Định thất bại và bị đàn áp. Có lẻ vì lánh nạn, tránh sự đàn áp của thực dân Pháp, ông Ung Văn Tre, ông nội của Ung Văn Khiêm, phải rời bỏ quê hương Cái Bè, tỉnh Định Tường (nay là tỉnh Tiền Giang), đến sinh sống, lập nghiệp ở làng Tấn Đức, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên, góp công khai phá vùng đất, được dân làng kính trọng, gọi ông là Chủ Tre.
Cha của Ung Văn Khiêm là Ung Văn Quản (1883 - 1923), có học thức rộng, hiểu sâu, ưu thời, mẫn thế, được dân làng kính mến. Nhờ có chữ nghĩa, ông Quản được tiến cử giữ chức Hương bộ trong Hương chức hội tề làng, nên được gọi là Hương bộ Quản. Tuy nhiên, bất bình trước sự bóc lột, hà khắc, ức hiếp dân của hội tề làng, ông đã nhân danh chức Hương bộ để chỉ trích nhiều người trong ban hội tề. Chúng ỷ đông, thách thức ông. Hương bộ Quản buồn bực, bế tắc bỏ cơm, uống rượu suông rồi chết sớm, khi vừa 41 tuổi.
Còn mẹ của Ung Văn Khiêm, theo lời kể của nhà văn Nguyên Hùng, là người phụ nữ rất mực đảm đang, bất khuất và chung thủy. Chồng mất khi Bà vừa 38 tuổi, Bà đã chung thủy thờ chồng và nuôi 5 người con, quyết chí cho con học hành. Và khi hiểu được sự  lựa chọn con đường cách mạng của Ung Văn Khiêm, Bà đã ủng hội con và âm thầm chịu đựng, hy sinh.
Ung Văn Khiêm học rất giỏi. Năm 1924, sau khi tốt nghiệp tiểu học ở Chợ Mới, đã thi đậu vào Collège de Cần Thơ, ngay khóa đầu tiên mở chính thức tại trường (Trước đó, từ năm 1921, trường bắt đầu mở một lớp có tên là Cours Complémentaire (lớp bổ túc tiểu học) với 36 học sinh từ Sài Gòn và Mỹ Tho được chuyển về. Học hết năm học nơi đây, họ sẽ chuyển qua học ở Collège de Mỹ Tho, đến hết năm thứ tư). Dòng máu nghĩa quân Trương Định trong cơ thể đã giúp Ung Văn Khiêm sớm có nhận thức chính trị đúng đắn, có bản lĩnh trong hành động. Ung Văn Khiêm trở thành một thủ lĩnh trẻ (mới 16 tuổi) cuộc bãi khóa của hầu hết học sinh Collège de Cần Thơ, nhân đám tang cụ Phan Châu Trinh và việc Pháp bắt giữ chí sĩ Nguyễn An Ninh (tháng 3/1926). Hành động này làm cho Ung Văn Khiêm bị đuổi học lần thứ nhất. Chỉ sau vài tháng, dòng nhiệt huyết đó lại thúc đẩy Ung Văn Khiêm đá đít một tên tây thực dân, ức hiếp bạn mình, ngay trong khuôn viên Collège de Cần Thơ. Và Ung Văn Khiêm bị đuổi học lần thứ hai, đuổi học vĩnh viễn.
Sau đó, cuộc hội ngộ với Châu Văn Liêm đã tạo ra bước ngoạt quan trọng nhất trong đời. Cuối năm 1927, cả hai người, Châu Văn Liêm và Ung Văn Khiêm, được kết nạp vào Hội Thanh niên (Việt Nam Thanh niên Cách mệnh Đồng chí Hội). Lúc đó Ung Văn Khiêm chưa tròn 18 tuổi, đã giác ngộ lý tưởng và chấp nhận dấn thân vào con đường cách mạng, cứu nước đầy khó khăn, gian nan và hiểm nguy.
Đầu năm 1929, Ung Văn Khiêm được kỳ bộ đưa đi dự lớp huấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc). Cùng lớp đó về nước có Ngô Gia Tự, Lý Tự Trọng. Ung Văn Khiêm được phân công trở về Cần Thơ tiếp tục hoạt động. Tháng 8/1929, đồng chí tham gia thành lập An Nam Cộng sản Đảng và được chỉ định làm Bí thư Đặc ủy An Nam Cộng sản Đảng toàn miền Hậu Giang gồm 9 tỉnh (1929 - 1930).
- Bí thư Xứ ủy Nam kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương (Từ cuối 5/1930), thay Ngô Gia Tự bị bắt. Lúc đó, Ung Văn Khiêm vừa tròn 20 tuổi.
- Bị thực dân Pháp bắt và bị tù ở Khám lớn Sài Gòn và Côn Đảo (1931 - 1936).
- Hoạt động công khai, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ ở Chợ Mới, Long Xuyên (1936 - 1939).
- Bị bắt giam tại Long Xuyên (1939 - 1941); Sau 18 tháng bị giam tại Long Xuyên, Pháp định đưa Ung Văn Khiêm lên giam ở Tà Lài, lợi dụng sự sơ hở của chúng, Khiêm vượt thoát.
- Từ năm 1941 - 1945: Rút vào hoạt động bí mật, khôi phục tổ chức, tái lập Xứ ủy. Được triệu tập dự Hội nghị Quốc dân tại Tân Trào.
Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Ung Văn Khiêm được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách, như:
+ Xứ ủy viên, rồi Thường vụ Xứ ủy Nam Bộ; Ủy viên Nội vụ Ủy ban Hành chánh - Kháng chiến Nam Bộ; Đại biểu Quốc hội (tỉnh An Giang) khóa I.
+ Ủy viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (Từ 2/1951); Ủy viên Trung ương Cục miền Nam (Từ 6/1951); được tăng cường là Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chánh - Kháng chiến tỉnh Bạc Liêu (1951 - 1953).
+ Tập kết ra Bắc, Ung Văn Khiêm là Thứ trưởng Ngoại giao, Trưởng ban đối ngoại Trung ương (Từ 1955); Ủy viên Trung ương Đảng khóa III; Đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III.
+ Tháng 2/1961: Là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
+ Tháng 4/1963: Là Bộ trường Bộ Nội vụ đến năm 1967.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Ung Văn Khiêm trở về miền Nam, sinh sống tại TP. Hồ Chí Minh. Ngày 20/3/1991, sau nhiều năm bệnh tật, Ung Văn Khiêm từ trần, thọ 81 tuổi.
* Nhà Cách mạng tiền bối của một giai đoạn Cách mạng mới
 Chào đời vào cuối thập niên đầu tiên, trưởng thành trong thập niên thứ 3 của thế kỷ 20, đây là thập niên bản lề chuyển giao giữa hai giai đoạn cách magj cứu nước, giải phóng dân tộc trên đất nước ta. Đây cũng là thập niên thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa lần thứ hai trên toàn cõi Đông Dương. Hình ảnh nhân dân ta ngày càng cơ cực, cùng khổ dưới ách áp bức, bóc lột của thực dân và phong kiến hàng ngày đập vào mắt, gây bức xúc trong lòng thế hệ thanh niên mới lớn. Cũng do yêu cầu của việc khai thác thuộc địa lần thứ hai, thực dân Pháp mở thêm một ít trường, trong đó có Collège de Cần Thơ. Cơ hội học tập của thanh niên thế hệ này cũng thuận lợi hơn một chút.
Thập niên thứ 3 của thế kỷ 20 cũng chứng kiến sự bế tắc và kết thúc bi thảm của phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản. Phan Bội Châu bị Pháp bắt cóc tại Thượng Hải tháng 6/1925, trước Phong trào đấu tranh đòi ân xá của nhân dân Việt nam, thực dân Pháp đưa cụ về giam lỏng tại Huế cho tới chết. Cũng năm 1925, Phan Châu Trinh từ Pháp về nước, và năm sau - Tháng 3/1926 - Ông mất vì bệnh. Phong trào Nguyễn An Ninh trong Nam cũng bị đàn áp không thương tiếc. Có lẽ vậy mà Phó bảng Nguyễn Sinh Huy buồn rầu rồi chết năm 1929, và cuối năm đó, cụ Nghè Trương Gia Mô tìm đến Núi Sam - Châu Đốc, lao xuống vực để tự vẩn, kết thúc sự bế tắc của bản thân mình. Cuối cùng, tháng 2/1930, cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng, do Nguyễn Thái Học lãnh đạo, đã bùng phát và nhanh chong bị thực dân Pháp đàn áp, dìm trong biển máu.
Nhưng thập niên thứ 3 của thế kỷ 20 cũng chứng kiến sự xuất kiện mầm mống của phong trào Cách mạng mới, báo hiệu một giai đoạn cách mạng mới bắt đầu: Phong trào yêu nước theo xu hướng vô sản. Sau hàng chục năm ra đi sang phương Tây để tìm kiếm con đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường và bắt đầu truyền bá Chủ nghĩa Marx - Lénine về Việt Nam bằng các tờ báo Le Paria, Việt Nam Hồn, tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp. Tháng 12/1924, Nguyễn Ái Quốc về hoạt động tại Quảng Châu - Trung Quốc. Tháng 6/1925, Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã ra đời tại Quảng Châu (Trung Quốc). Tất cả những điều đó đã làm lay động trái tim và khối óc, giác ngộ lý tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản trong một bộ phận thanh niên trẻ, chủ yếu là học sinh trung học và trí thức trẻ, trong đó có Ung Văn Khiêm. Với những người trẻ tuổi, đầy hăng hái và nhiệt huyết, chỉ trong 5 năm, Hội Thanh niên đã phát triển mạnh mẽ, khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam, rồi lột xác để trở thành Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930.
Lớn lên từ vùng đất cù lao do phù sa sông Tiền lắng đọng tạo nên, trong một gia đình yêu nước có cha ông là nghĩa quân Trương Định; đồng thời Ung Văn Khiêm còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của người cha lúc nào cũng bất bình trước nạn ức hiếp, bóc lột nhân dân của chính quyền thực dân - phong kiến, tư tưởng xã hội chủ nghĩa, lý tưởng cách mạng vô sản rất hấp dẫn với Ung Văn Khiêm và được Khiêm tiếp nhận dễ dàng. Từ đó, Ung Văn Khiêm tự nguyện và được kết nạp vào Hội Thanh niên khi chưa tròn 18 tuổi, rồi thành lớp đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam khi chưa tròn 20 tuổi. Ung Văn Khiêm trở thành lớp đảng viên “khai sơn phá thạch con đường Việt Nam đi đến hôm nay”. Trong lớp đảng viên “khai sơn phá thạch” đó, Ung Văn Khiêm thuộc vào lớp người rất trẻ, đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng rất sớm, trải qua hết những khó khăn, gian khổ, kể cả nhà tù Côn Đảo. Ở mỗi vị trí công tác, Ung Văn Khiêm đều hoàn thành và có để lại dấu ấn của mình đối với công việc đó. Ông xứng đáng được suy tôn là “người đảng viên Cộng sản đầu tiên và tiêu chuẩn của tỉnh An Giang”.
* Bài học rút ra từ cuộc đời hoạt động của Ung Văn Khiêm:
 Cuộc đời 40 năm hoạt động cách mạng liên tục của Nhà Cách mạng tiền bối Ung Văn Khiêm để lại cho chúng ta rất nhiều bài học. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ rút ra 2 điều quan trọng nhất đối với bản thân:
Bài học thứ nhất là tinh thần kiên định, tấm lòng trung kiên đối với sự nghiệp Cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng. Giác ngộ cách mạng rất sớm, khi cách mạng còn trong giai đoạn cứu nước, con đường cách mạng sẽ rất lâu dài, gian khổ, khó khăn, có thể trải qua tù đày, mất mạng. Song Ung Văn Khiêm vẫn vững tin, kiên định, không lùi bước, kể cả những năm bị tù đày ở Côn Đảo. Thế hệ của Ông khi lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc là đã chấp nhận mọi hy sinh, không màn danh và lợi hảo huyền. Do vậy về sau này, Ung Văn Khiêm có gặp những trục trặc, trở ngại trong công việc, bị nghi ngờ, đánh giá sai, Ông vẫn giữ được tấm lòng kiên trung với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, bình tâm chờ đợi, không hề có thái độ bất mãn. Dù bị đối xử thế nào, Ông vẫn ung dung, “tinh thần yêu nước, yêu Đảng luôn ở trong anh”.
Bài học thứ hai là tinh thần ham học và ý chí tự học của Ông. Giác ngộ cách mạng rất sớm, khi còn là học sinh phổ thông, rồi bị đuổi học, không còn cơ hội học tập trường lớp sau khi có những hành động phản kháng. Lúc đầu, Ung Văn Khiêm đã thể hiện tinh thần ham học và ý chí tự học bằng cách ở lại Cần Thơ, mượn bài vở của bạn chép lại và hoàn toàn tự học để thi lấy văn bằng Cao đẳng tiểu học, rồi bằng Tú tài. Song công tác cách mạng không cho phép Ông tự học tập như vậy. Ung Văn Khiêm phải học tập trong Trường Đời, trong Thực tiễn hoạt động cách mạng cực kỳ khó khăn, gian khổ và hiểm nguy, học mọi lúc, mọi nơi. Cũng không có tài liệu nào ghi chép về ý thức và hành động ham học của Ông. Nhưng từ sau khi Cách mạng tháng 8/1945 thành công, Ông luôn được giao trọng trách trong Bộ máy chính quyền: Là Ủy viên Nội vụ trong Ủy ban Hành chánh - Kháng chiến Nam Bộ (đại diện duy nhất của Xứ ủy trong Ủy ban Hành chánh - Kháng chiến Nam Bộ); Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Hành chánh - Kháng chiến tỉnh Bạc Liêu; Thứ trưởng rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Bộ trưởng Bộ Nội vụ Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở mỗi trọng trách đó luôn đòi hỏi người phụ trách phải có trình độ cao hơn nhiều so với trình độ Ông được học trong nhà trường. Vậy mà Ung Văn Khiêm luôn hoàn thành tốt trọng trách của mình, và ở mỗi trọng trách ấy, Ông đều để lại dấu ấn sâu đậm về tài năng, bản lĩnh và trí tuệ của mình. Điều đó chứng tỏ Ung Văn Khiêm phải luôn ham học, có ý chí tự học mạnh mẽ và một sức học phi thường. Đặc biệt trong lĩnh vực ngoại giao, nơi mà Ông giữ trọng trách lâu nhất (hơn 8 năm), Bộ Ngoại giao đã đánh giá: Ông “là nhà ngoại giao xuất sắc”, “Bộ trưởng Ung Văn Khiêm đã có những đóng góp nổi bật vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Ngành trong những năm đầu thập kỷ 1960…”.
Trước khi kết thúc bài viết, người viết xin bày tỏ lòng thành kính, khâm phục cả đức độ, tài năng, bản lĩnh, trí tuệ và tấm lòng đối với Nhà Cách mạng lão thành Ung Văn Khiêm, người đảng viên Cộng sản đầu tiên của tỉnh An Giang, Nhà lãnh đạo tiền bối, trung kiên.


Đặng Hoài Dũng - Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang


Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang