tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31361535
Thông tin tác giả
Cao Bá Quát
 

(1808-1855)


Nhà thơ Việt Nam, tự Chu Thần, hiệu Cúc Đường, Mẫn Hiên. Người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Là em sinh đôi với Cao Bá Quát (1808-1855) và là chú của Cao Bá Nhạ. Ông thân sinh Cao Bá Quát muốn các con mình lớn lên sẽ trở thành rường cột của triều đình, nên lấy tên của hai hiền sĩ đời Chu cũng là hai anh em sinh đôi để đặt tên cho hai con. Thông minh, đậu Cử nhân tương đối sớm (khoa Tân Mão (1831) đời Minh Mạng) nhưng trượt kỳ thi Hội. Thuở nhỏ sống nghèo khó, lúc ra làm quan cuộc sống cũng không thay đổi mấy. 1841, vào kinh giữ chức Hành tẩu ở Bộ Lễ. Tháng Tám năm đó, được cử làm Sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay mà phạm húy, bèn cùng một người bạn lấy son hòa muội đèn chữa lại cho họ. Việc bại lộ, bị hạ ngục, kết tội xử “giảo giam hậu” (chém nhưng giam lại xét sau). Sau được xét lại, chỉ bị cách chức, rồi nhân có phái bộ đi công cán ở Batavia (Inđônêxia) do Đào Trí Phú dẫn đầu, ông được đi phục dịch để lấy công chuộc tội. Lúc trở về, được giữ chức cũ một thời gian rồi bị thải, trở về với gia đình ở Hà Nội (từ Đình Ngang chuyển lên Cửa Bắc), thường xướng họa với Nguyễn Văn Siêu, Trần Văn Vi, Diệp Xuân Huyên… 1847, được triệu vào Viện Hàn lâm, làm công việc sưu tầm và sắp xếp các văn thơ cho vua dùng. Thời gian ở kinh lần này, Cao Bá Quát giao du nhiều với giới quan lại. Sau đó ông tham gia cuộc khởi nghĩa nông dân do Lê Duy Cự cầm đầu và chết trận ở Mỹ Lương năm 1885.


Cao Bá Quát sáng tác cả thơ chữ Hán lẫn chữ Nôm. Về chữ Nôm, ông còn để lại một số bài hát nói, thơ Đường luật và bài phú Tài tử đa cùng phú (Bậc tài tử lắm cảnh khốn cùng). Về chữ Hán, ông để lại các tập thơ: Cao Bá Quát thi tập, Cao Chu Thần di cảo, Cao Chu Thần thi tập, Mẫn Hiên thi tập…

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang