tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31361109
Thông tin tác giả
Tađêô Lê Hữu Từ
 


(1897 - 1967)


là một giám mục Công giáo của Việt Nam, với khẩu hiệu giám mục là "Tiếng kêu trong hoang địa" ("Vox Clamantis" Mt 3:3). Ông từng là Giám mục Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm, được xem là người thành lập và lãnh đạo lực lượng Tự vệ Công giáo chống Cộng tại Bùi Chu - Phát Diệm trong giai đoạn 1950 - 1954. Ông cũng được xem là lãnh đạo tinh thần của những người Công giáo di cư vào miền Nam trong suốt giai đoạn 1954 - 1967.


Ông sinh ngày 29 tháng 10 năm 1897 tại Di Loan, Quảng Trị trong dòng họ Lê, dòng dõi vua Lê Hy Tông, gia đình ông vốn là gia đình Công giáo với tên thánh là Tađêô (Tadeus hoặc Thaddaeus). Cha là ông Lê Hữu Ý, thường gọi là ông Trùm Ý, mẹ là bà Inê Dưỡng. Gia đình ông có 10 anh chị em, trong đó, ngoài ông, phụng sự cho Giáo hội còn có 2 linh mục là Đôminicô Lê Hữu Luyến (anh trai) và Giuse Lê Hữu Huệ (em trai).


Tháng 9 năm 1911, ông vào học ở Tiểu chủng viện An Ninh (Cửa Tùng), Quảng Trị. Mười năm sau, tháng 9 năm 1921, ông học Đại chủng viện Phú Xuân, Huế.


Tháng 9 năm 1928, ông nhập Dòng Citeaux Phước Sơn tại núi Phước, Huế.


Linh mục


Ngày 23 tháng 12 năm 1928, ông thụ phong chức linh mục. Sau khi thụ phong linh mục, ông được cử làm Phụ trách Nhà Tập và Bề trên Phó của Dòng Citeaux Phước Sơn từ năm 1928 đến năm 1936. Cũng trong thời gian này, ông lấy tên thánh thứ hai là Anselmus, vì vậy có tài liệu ghi tên đầy đủ của ông là Anselmus Tadeus Lê Hữu Từ.


Tháng 2 năm 1936, ông được giao trách nhiệm sáng lập Dòng tu khổ hạnh Châu Sơn tại Nho Quan, Ninh Bình và trở thành Bề trên tiên khởi của Dòng.


Giám mục


Ngày 14 tháng 6 năm 1945, ông được Giáo hoàng Pius XII phong làm Giám mục Hiệu tòa Daphnusia, kiêm Giám quản Tông tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm, thay cho Giám mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng xin nghỉ hưu. Ông là người Việt thứ năm thụ phong giám mục cho đến thời điểm bấy giờ.


Cố vấn Tối cao Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa


Ngay sau khi biết tin ông được bổ nhiệm chức giám mục, tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh đã gửi thư chúc mừng ông. Trong thư có đoạn: "có một nhà lãnh đạo mới của người Công giáo đi theo chân Đức Giê-su, chịu đóng đinh hầu giúp giáo dân biết hy sinh và chiến đấu bảo vệ tự do và độc lập của đất nước".


Vốn là người có tinh thần dân tộc chủ nghĩa, ông ủng hộ việc giành độc lập cho Việt Nam từ tay người Pháp. Chính ông là người dẫn đầu đoàn các giáo dân Công giáo đến dự lễ tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba Đình, một cách thể hiện sự ủng hộ ban đầu của ông đối với chính quyền Việt Nam mới.


Ngày 29 tháng 10 năm 1945, lễ tấn phong chức giám mục cho ông được tổ chức tại nhà thờ Phát Diệm do Giám mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng chủ phong và Giám mục Giuse Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn phụ phong. Tham dự lễ thụ phong còn có cả phái đoàn chính phủ gồm 4 vị bộ trưởng đến tham dự, trong đó có cả Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp, và vị Cố vấn tối cao của chính phủ là cựu hoàng Bảo Đại. Ngày 1 tháng 11 năm 1945, ông chính thức trở thành Giám mục Đại diện Tông Tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Phát Diệm.


Do là vị chủ chăn của một địa phận lớn, có vai trò quan trọng đối với tín đồ Công giáo Việt Nam, ngày 25 tháng 2 năm 1946, chủ tịch Hồ Chí Minh đích thân đến Phát Diệm, chính thức mời ông làm "Cố vấn tối cao của Chính phủ". Ông cùng với cựu hoàng Bảo Đại là hai người giữ chức vụ này trong chính phủ lâm thời.


Tuy nhiên, sự ủng hộ của ông đối với chính quyền Việt Minh đã nhanh chóng thay đổi. Là một tín đồ Công giáo với đức tin mãnh liệt, ông kịch liệt chống đối chủ nghĩa vô thần của những người Cộng sản. Bên cạnh đó, chịu ảnh hưởng từ thông điệp của Giáo hoàng Piô XI, với nội dung chống lại chế độ vô thần Cộng sản, ông chuyển từ ủng hộ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang chống lại chính quyền mà ông từng ủng hộ.


Xây dựng Giáo khu Bùi Chu - Phát Diệm tự trị


Hội Công giáo Cứu quốc, về nguyên tắc là một thành viên của Mặt trận Việt Minh. Tuy nhiên, với ảnh hưởng của mình, Giám mục Từ đã tách dần tổ chức này ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền Việt Minh. Với danh nghĩa Công giáo cứu quốc, ông chỉ đạo cho các giáo dân vũ trang và tổ chức thành những đội vũ trang Tự vệ Công giáo, biến các giáo khu thành những chính quyền tự trị, ngoài sự kiểm soát của chính quyền Việt Minh.


Hồi ký của ông có chép lại việc này như sau:


“Vào thời ấy, hoàn cảnh bắt buộc chúng tôi phải có một lực lượng tự vệ hùng mạnh để có thể "nói chuyện" với chính phủ Cộng sản. Vì thế, lợi dụng tình hình, chúng tôi đã có các toán du kích địa phương và lợi dụng đường lối chiến tranh nhân dân do ông Hồ Chí Minh công bố, tôi đã xin phép được mua súng đạn. Hồ Chí Minh không thể từ chối tôi việc này, bèn đề nghị tôi gặp ông Phan Anh, Bộ trưởng Quốc phòng, đã được ông Hồ mớm cho việc tìm lý do, ra những điều kiện, để đừng phải cấp cho tôi giấy phép. Nhưng với cái phép miệng, tôi đã gửi người lên Móng Cáy mua vũ khí.


Tuy vậy, việc chuyên chở vũ khí được tiến hành một cách bí mật và phải dùng mưu mẹo mới qua được. Nhiều lần, xe ôtô của tôi chở vũ khí đã có thể qua các trạm gác vốn được kiểm soát rất nghiêm nhặt, vì tôi đưa ra cái thẻ "Cố vấn Tối cao của Chính phủ" và tôi nhất quyết không cho khám xe. Tôi nói với bọn cảnh sát: Chủ tịch đã chọn tôi làm Cố vấn vì Người tin tưởng ở tôi; nếu Người không tin tôi, tôi sẽ từ chức. Và bởi vì tôi là Cố vấn Tối cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chẳng ai có quyền khám xét tôi mà không có lệnh rõ ràng của Chủ tịch. Một khi súng đạn đã được tới nơi yên ổn, tôi thông báo cho Ủy ban Nhân dân và cảnh sát biết rằng, tôi đã mua vũ khí với sự đồng ý của Hồ Chí Minh.


Khi súng ống và đạn dược về tới Hải Phòng thì bị quân Pháp giữ lại, bọn này chỉ chịu trao cho tôi khi chính tôi phải đích thân can thiệp và bọn họ còn cấp thêm súng đạn (để mua chuộc tôi). Tuy nhiên, nguyên tắc của tôi là nhận khí giới từ bất cứ phía nào, kể cả ngay phía Nga hay Tàu Cộng sản, để chống lại Cộng sản. Tôi đã vay tiền nơi Giám mục Gomez, một người Tây Ban Nha Giám mục Hải Phòng và đã xin Ngài vui lòng hỗ trợ tôi trong chuyện này. Sau khi đã bàn hỏi Đức khâm mạng Drapiê, Ngài đã cho tôi mượn một khoản tiền lớn (1.000.000 đồng) và đã cung cấp cho tôi một lượng súng đạn quan trọng”. -Hồi ký của Giám mục Lê Hữu Từ.


Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, chính phủ Việt Minh dời lên Việt Bắc. Dưới sự kích động của người Pháp, cùng với sự quá khích của dân chúng, một số cuộc xung đột đã nổ ra giữa lương dân và giáo dân. Để xoa dịu những xung đột và tránh những ảnh hưởng bất lợi, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần gửi thư cũng như gửi các đặc phái viên để giải quyết xung đột, cố gắng tranh thủ sự ủng hộ của Giám mục Lê Hữu Từ cũng như giới Công giáo. Tuy nhiên, những nỗ lực đều bất thành.


Giám mục Lê Hữu Từ gửi Thư chung gửi cho các linh mục ngày 23 tháng 3 năm 1947, như sau:


Các cha biết một vài người cộng tác của chúng ta và nhiều giáo dân đã bị bắt và giam giữ nhiều ngày, vì họ đã bị nghi là đảng viên của các đảng phái chống Chính phủ. Nhiều người bị bắt do ông Huệ, một thầy giảng địa phận Thanh Hóa ẩn núp trong địa phận chúng ta, tung ra những tin đồn lung tung và thậm chí dám mạo danh tôi đánh lừa dân chúng. Cảnh sát truy nã ông ấy khắp nơi. Các cha đừng để nó tự do qua lại trong các xứ đạo của mình và nếu phát hiện thì hãy bắt và nạp giải cho tôi. Kẻ nào tiếp tục liên lạc với ông ấy, hoặc che giấu nó thì đừng phân bua rằng mình vô tội khi bị cảnh sát bắt làm khó dễ. Hơn bao giờ hết, toàn dân phải một lòng đoàn kết chiến đấu chống lại bọn xâm lược. Hãy để vấn đề các đảng phái sang một bên, đừng bận tâm tới. Tôi đã nói đi nói lại nhiều lần với các cha, lần này nữa, tôi xin các cha hãy nghe lời tôi sau khi nhận được thư của Hồ Chí Minh.


Trong cùng một thư đó, giám mục đã bảo các linh mục chớ nói đến chính trị trong các nhà thờ và cũng hãy cảnh giác đối với những người lạ mặt thường lảng vảng vào các xứ đạo để thám thính hay tuyên truyền ủng hộ Pháp. Bọn đó là những tên phản quốc. Ông liên tục chỉ đạo mở rộng các đội vũ trang, từ những trung đội "Vệ sĩ Công giáo" (1946), thành "Đoàn Cựu chiến binh Công giáo" (1947), rồi các đoàn "Dũng sĩ Công giáo" (1948)... Giáo khu Phát Diệm được tổ chức thành 3 khu quân sự là khu Phát Diệm, khu Phúc Nhạc và khu Gia Khánh, Gia Viễn, Nho Quan. Tất cả đều được đặt dưới quyền chỉ huy chung của "Tổng bộ Tự vệ Công giáo", do linh mục Hoàng Quỳnh làm Tổng chỉ huy.


Từ tháng 11 năm 1948, sau khi Giám mục Bùi Chu là Giuse Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn qua đời, Tòa Thánh chỉ định ông kiêm Giám quản Tông tòa Hạt Đại diện Tông Tòa Bùi Chu. Ảnh hưởng và tổ chức của ông tiếp tục lan ra đến Bùi Chu. Cả một khu vực Bùi Chu - Phát Diệm trở thành khu tự trị Công giáo với 40 vạn giáo dân, dưới sự cai quản của ông, ngoài quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.


Liên Pháp chống Cộng


Tuy Giám mục Từ muốn độc lập với quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mặt khác ông cũng không muốn rơi vào sự kiểm soát của người Pháp. Ông nhận định rằng: "Quân lính Pháp, với một sự dã man tột độ, đã phá hủy tất cả, không trừ một thứ gì, kể cả nhà thờ. Trong vòng một năm, gần 300 nhà thờ đã bị bom đánh phá...". Ông khẳng định: "Tôi đã tuyên bố nhiều lần rõ rệt thái độ của tôi: tôi vẫn đứng bên cụ Hồ để chống thực dân Pháp đến cùng".


Ngày 30 tháng 6 năm 1954, Giám mục Từ cùng với 143 linh mục và 80.000 giáo dân Phát Diệm thực hiện cuộc di cư vào Nam. Một sĩ quan Việt Minh trẻ là Vũ Ngọc Nhạ đã giúp đỡ ông trong việc tổ chức di cư này.


Qua đời


Sau một thời gian dài ở Roma, đầu năm 1967, ông trở về Việt Nam. Tuy nhiên, lần này do sức khỏe kém, ông không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nữa. Ngày 24 tháng 4 năm 1967, ông qua đời và được an táng tại nghĩa trang nhà hưu dưỡng Phát Diệm ở Xóm Mới, Gò Vấp, thọ 74 tuổi.


Thứ tự bổ nhiệm - tấn phong giám mục


Tiền nhiệm:


Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần IV: Gioan Maria Phan Ðình Phùng, 28 tháng 5 năm 1940 


Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần V: Tađêô Lê Hữu Từ, 14 tháng 6 năm 1945        


Kế nhiệm:


Đợt bổ nhiệm Giám mục người Việt lần VI: Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, 3 tháng 2 năm 1950


Tiền nhiệm:


Giám mục người Việt thứ 4 được tấn phong: Gioan Maria Phan Ðình Phùng, 3 tháng 12 năm 1940


Giám mục người Việt thứ 5 được tấn phong: Tađêô Lê Hữu Từ, 29 tháng 10 năm 1945   


Kế nhiệm:


Giám mục người Việt thứ 6 được tấn phong: Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi, 4 tháng 8 năm 1950


Cùng di cư vào Nam với ông còn có các Giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (Giáo phận Bùi Chu), Giuse Trương Cao Đại (Hạt Đại diện Tông Tòa Hải Phòng). Lúc bấy giờ, cả miền Bắc chỉ còn ba giám mục là Giuse Maria Trịnh Như Khuê (Hạt Đại diện Tông Tòa Hà Nội, Đa Minh Hoàng Văn Đoàn (Hạt Đại diện Tông Tòa Bắc Ninh) và Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức (Hạt Đại diện Tông Tòa Vinh).


Các vị Giám mục Công giáo người Việt Nam


Thập niên 1930: Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (1933) Đa Minh Maria Hồ Ngọc Cẩn (1935) Phêrô Martinô Ngô Đình Thục (1938)


Thập niên 1940: Gioan Maria Phan Ðình Phùng (1940) Tađêô Lê Hữu Từ (1945)


Thập niên 1950: Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi (4/8/1950) Giuse Maria Trịnh Như Khuê (15/8/1950) Đa Minh Hoàng Văn Đoàn (9/1950) Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức (1951) Giuse Trương Cao Đại (1953) Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền Phaolô Nguyễn Văn Bình (cùng ngày 30/11/1955) Phêrô Maria Khuất Văn Tạo (1956) Phaolô Bùi Chu Tạo (4/1959)


Thập niên 1960: Đa Minh Đinh Đức Trụ (25/3/1960) Phêrô Maria Nguyễn Huy Quang (4/1960) Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh (11/1960) Micae Nguyễn Khắc Ngữ Antôn Nguyễn Văn Thiện Giuse Trần Văn Thiện Philipphê Nguyễn Kim Điền (cùng ngày 22/1/1961) Phaolô Trần Đình Nhiên (3/1963) Giuse Maria Trịnh Văn Căn (6/1963) Phaolô Giuse Phạm Đình Tụng (8/1963) Giuse Lê Quý Thanh (1964) Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang (1965) Giuse Phạm Văn Thiên (1966) Phanxicô Xaviê Trần Thanh Khâm (1966) Giuse Lê Văn Ấn (1966) Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận (6/1967) Phêrô Nguyễn Huy Mai (8/1967) Giacôbê Nguyễn Văn Mầu (1968)


Thập niên 1970: Phêrô Maria Nguyễn Năng (1971) Đa Minh Nguyễn Văn Lãng Nicôla Huỳnh Văn Nghi Phaolô Huỳnh Đông Các (cùng ngày 11/8/1974) Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm (17/3/1975) Alexis Phạm Văn Lộc (27/3/1975) Phaolô Nguyễn Văn Hòa (5/4/1975) Gioan Baotixita Bùi Tuần (30/4/1975) Đa Minh Đinh Huy Quảng (5/1975) Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách Emmanuel Lê Phong Thuận (cùng ngày 6/6/1975) Anrê Nguyễn Văn Nam (10/6/1975) Phêrô Phạm Tần (22/6/1975) Đa Minh Lê Hữu Cung (29/6/1975) Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật (7/1975) Raphael Nguyễn Văn Diệp (8/1975) Stêphanô Nguyễn Như Thể (9/1975) Giacôbê Huỳnh Văn Của (2/1976) Giuse Phan Văn Hoa (3/1976) Giuse Phan Thế Hinh (11/1976) Giuse Nguyễn Thiện Khuyến (4/1977) Louis Phạm Văn Nẫm      (2/1978) Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương (2/1979) Vinh Sơn Phaolô Phạm Văn Dụ (1/3/1979) Phêrô Gioan Trần Xuân Hạp(4/3/1979) Giuse Maria Vũ Duy Nhất (8/1979) Giuse Maria Đinh Bỉnh (12/1979)


Thập niên 1980: Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang (4/1981) Giuse Trịnh Chính Trực (8/1981) Phêrô Trần Thanh Chung (11/1981) Louis Hà Kim Danh (10/1982) Giacôbê Lê Văn Mẫn (1984)# Giuse Nguyễn Văn Yến (12/1988) Giuse Maria Nguyễn Quang Tuyến (1/1989)


Thập niên 1990: Giuse Nguyễn Phụng Hiểu (4/1991) Phêrô Nguyễn Văn Nhơn (12/1991) Tôma Nguyễn Văn Trâm (5/1992) Phaolô Maria Cao Đình Thuyên (11/1992) Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn (1993) Phaolô Lê Đắc Trọng (8/1994) Giuse Nguyễn Tích Đức (17/06/1997) Phêrô Nguyễn Văn Nho (18/06/1997) Phêrô Trần Đình Tứ (1/1999) Phaolô Bùi Văn Đọc (5/1999) Giuse Ngô Quang Kiệt Giuse Trần Xuân Tiếu (cùng ngày 29/06/1999)          Phêrô Nguyễn Soạn (8/1999)


Thập niên 2000: Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh (6/2000) Tôma Nguyễn Văn Tân (8/2000) Giuse Hoàng Văn Tiệm (8/8/2001) Phaolô Nguyễn Thanh Hoan (11/08/2001) Giuse Vũ Duy Thống   (17/08/2001) Giuse Vũ Văn Thiên (02/01/2003) Phêrô Nguyễn Văn Tốt (06/01/2003) Stêphanô Tri Bửu Thiên (2/2003) Đa Minh Mai Thanh Lương (6/2003) Micae Hoàng Đức Oanh (8/2003) Antôn Vũ Huy Chương (10/2003) Giuse Nguyễn Chí Linh (8/2004) Đa Minh Nguyễn Chu Trinh (11/2004) Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng (4/2005) Giuse Võ Đức Minh (12/2005) Phêrô Nguyễn Văn Ðệ (1/2006) Giuse Châu Ngọc Tri (8/2006) Giuse Đặng Đức Ngân (12/2007) Cosma Hoàng Văn Đạt (10/2008) Phêrô Nguyễn Văn Khảm (11/2008) Lôrensô Chu Văn Minh (12/2008) Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản (5/2009) Giuse Nguyễn Năng (9/2009) Tôma Aquinô Vũ Đình Hiệu (10/2009)


Thập niên 2010: Vinh Sơn Nguyễn Mạnh Hiếu (1/2010) Mátthêu Nguyễn Văn Khôi (2/2010) Gioan Maria Vũ Tất (6/2010) Phaolô Nguyễn Thái Hợp (4/2010) Giuse Nguyễn Tấn Tước (4/2011) Vinh Sơn Nguyễn Văn Long (6/2011) Giuse Đinh Đức Đạo     (4/2013) Phêrô Nguyễn Văn Viên (4/9/2013) Anphong Nguyễn Hữu Long (6/9/2013) Giuse Trần Văn Toản (5/2014) Aloisiô Nguyễn Hùng Vị (3/12/2015) Phêrô Huỳnh Văn Hai (11/12/2015) Emmanuel Nguyễn Hồng Sơn (1/2016) Giuse Đỗ Mạnh Hùng (4/8/2016) Giuse Nguyễn Thế Phương (26/8/2016) Đa Minh Nguyễn Văn Mạnh (31/5/2017) Gioan Đỗ Văn Ngân (1/6/2017) Louis Nguyễn Anh Tuấn (10/2017) Tôma Nguyễn Thái Thành (12/2017) Giuse Nguyễn Đức Cường (6/2018)


Wikipedia ngày 22-05-2019


Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang