tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31261702
Thông tin tác giả
Erich Maria Remarque
 

Nhà văn lớn người Đức, (1898-1970). Khi bọn Phát xít Hitle lên nắm quyền, ông phải sống lưu vong ở Mỹ, chết tại Thụy Sỹ.
Erich Maria Remarque sinh ngày 21
-6-1898 trong một gia đình bình dân tại Osnabrück, miền Tây nước Đức. Tổ tiên ông là người Pháp nhưng được “Đức hóa” từ đầu thế kỷ 19. Peter Franz Remark - bố của nhà văn - là một thợ đóng sách nghèo. Năm 1904, lên 7 tuổi, Remarque theo học tại trường Dòng, ông luôn là học trò giỏi nhất.
Tốt nghiệp trung học, Remarque vào Đại học Münster, nhưng chưa học xong, ông đã bị gọi nhập ngũ và chiến đấu ở mặt trận phía Tây.
Remarque bắt đầu sự nghiệp viết lách với vai trò của một phóng viên thể thao. Đầu những năm 1920, ông gặp gỡ và kết hôn với Jutta Zambona - “một phụ nữ cao ráo, thon thả, xinh đẹp và sành điệu như người mẫu”. Nhưng cuộc sống vợ chồng của nhà văn gặp nhiều sóng gió,
họ ly hôn năm 1925 rồi tái hôn năm 1938.
Với sự ra đời của Phía Tây không có gì lạ (All Quiet on the Western Front) - cuốn tiểu thuyết kể về số phận của một toán lính sống sót trong chiến tranh, danh tiếng của Remarque nổi như cồn đồng thời khiến ông trải qua không biết bao nhiêu long đong lận đận. Phía Tây không có gì lạ từng bị một nhà xuất bản từ chối nhưng khi ra đời, cuốn sách được dịch ra hơn 30 thứ tiếng, tiêu thụ được hơn 8 triệu bản. Henry Louis Mencken - nhà phê bình nổi tiếng đương thời - nhận xét: “Không nghi ngờ gì nữa, đây là cuốn tiểu thuyết hay nhất về thế chiến I”.
Cùng với những nhà văn như Ernest Hemingway, Remarque trở thành người phát ngôn cho “một thế hệ bị chiến tranh tàn phá dù họ đã thoát khỏi hòn tên mũi đạn”. Cuốn tiểu thuyết nhanh chóng được Ernest Johannsen và Lewis Milestone chuyển thành phim. Nhưng sự thật khắc nghiệt, khủng khiếp được miêu tả trong cái nhìn hiện thực trần trụi của nhà văn khiến cho các nhà cầm quyền không an lòng. Sách của ông - Phía Tây không có gì lạ và một cuốn tiểu thuyết khác Đường về bị Đức quốc xã đem đốt. Còn bộ phim thì vừa ra mắt đã bị bọn phát xít quấy phá, đến những năm 1950, nó mới được chiếu lại tại Tây Đức. Năm 1939, nhà văn bị tước quốc tịch Đức, bắt đầu sống lưu vong và trở thành công dân Mỹ năm 1947.
Trong những ngày sống tại kinh đô điện ảnh Hollywood, nhà văn kết bạn với nhiều ngôi sao nổi tiếng và cuối cùng, kết hôn với diễn viên Paulette Goddard năm 1958. Họ sống bên nhau tới ngày ông qua đời (25
-9-1970).
Tác phẩm: Các tiểu thuyết: Phía Tây không có gì lạ (All Quiet on the Western Front); Ba người bạn; Bản du ca cuối cùng của loài người không còn đất sống; Một thời để yêu, một thời để chết; Khải hoàn môn; Đài tưởng niệm đen của bầy diều hâu gẫy cánh...


List of Works:


Note: the dates of English publications are those of the first publications in a book form


Novels


(1920) Die Traumbude. Ein Künstlerroman; English translation: The Dream Room


(written 1924, published 1998) Gam


(1928) Station am Horizont; English translation: Station at the Horizon


(1929) Im Westen nichts Neues; English translation: All Quiet on the Western Front (1929)


(1931) Der Weg zurück; English translation: The Road Back (1931)


(1936) Drei Kameraden; English translation: Three Comrades (1937)


(1939) Liebe deinen Nächsten; English translation: Flotsam (1941)


(1945) Arc de Triomphe; English translation: Arch of Triumph (1945)


(1952) Der Funke Leben; English translation: The Spark of Life (1952)


(1954) Zeit zu leben und Zeit zu sterben; English translation: A Time to Love and a Time to Die (1954)


(1956) Der schwarze Obelisk; English translation: The Black Obelisk (1957)


(1961) Der Himmel kennt keine Günstlinge (serialized as Geborgtes Leben); English translation: Heaven Has No Favorites (1961)


(1962) Die Nacht von Lissabon; English translation: The Night in Lisbon (1964)


(1970) Das gelobte Land; English translation: The Promised Land


(1971) Schatten im Paradies; English translation: Shadows in Paradise (1972)


Other works


(1931) Der Feind; English translation: The Enemy (1930-1931); short stories


(1955) Der letzte Akt; English translation: The Last Act; screenplay


(1956) Die letzte Station; English translation: Full Circle (1974); play


(1988) Die Heimkehr des Enoch J. Jones; English translation: The Return of Enoch J. Jones; play


(1994) Ein militanter Pazifist; English translation: A Militant Pacifist; interviews and essays


 

Bài đã đăng:Trở lại - Đầu trang
29.03.2009
Phía Tây không có gì lạ (tiểu thuyết)
Mục lục: 1  2  3  4  5  6  7  8  9  10  11  12  13  14  15  16  17  18